Hôm nay,  

Đêm Cao Miên

27/08/202009:39:00(Xem: 4927)

 

blank


Lời thưa đầu: cách đây hơn 30 năm, vào tháng 8 năm 1988, người viết theo chân một đơn vị kháng chiến quân VN đi từ Thái Lan vào Kampuchea để tìm kiếm một nguời bạn bị mất tích giữa vùng biên giới Thái – Miên. Vào ngày 20 tháng 7 năm 2001, kẻ bị coi như đã thất tung (có tên là Võ Hoàng) đã được một tổ chức chính trị ở hải ngoại chính thức thừa nhận là đã “hy sinh” nhưng “vì hoàn cảnh” họ đã “không thể thông báo sớm hơn”! Bút ký ngắn ngủi này xin được phổ biến như một nén hương lòng (muộn màng) để gửi đến những người đã khuất.

 tnt

Khi chúng tôi bước chân vào được đất Cao Miên thì trời đã ngả chiều. Tuy nắng đã nhạt nhưng trời chiều mùa hạ nơi đây vẫn còn hừng hực nóng. Sẵn với định kiến là mình sẽ đi vào một vùng đất chết, tôi hơi thoáng ngỡ ngàng khi không nhìn thấy xung quanh dấu tích của sự đổ vỡ do bom đạn. Khó mà có thể ngờ rằng, cách đây không bao lâu, mảnh đất khô cằn nắng hạn này lạI là nơi giao tranh bằng chiến xa và đại pháo của nhiều đạo quân khác nhau.

Dư vị của chiến chinh chỉ còn cảm thấy được qua không khí chết chóc, và sự đe dọa rình rập trên từng tấc đất. Tôi được căn dặn nhiều lần là luôn luôn phải bước đúng vào bước chân của người đi trước vì ngoài con đường mòn đã được sử dụng ra, bất cứ lùm cây bụi cỏ nào cũng có thể là nơi ẩn mình của “mìn hộp gỗ” – một loại mìn bẫy trông nhỏ bé và xinh xắn y như hộp bút chì màu nhưng thừa sức làm nát bấy đôi chân của kẻ nào vô phước dẵm nhầm phải nó.

Vùng đất hiểm nghèo này cũng còn đuợc gọi đùa là “sân banh cộng sản”. Lý do: người ta ước tính rằng cứ mỗi lần nhà cầm quyền Hà Nội xua quân tràn qua biên giới để đánh đuổi kháng chiến Cao Miên lùi vào đất Thái thì ít nhất cũng phải có vài trăm cặp giò của “cầu thủ bộ đội” phải để lại nơi đây. Đó cũng là lý do tại sao vừa bước chân vào đất Cao Miên người ta đã ngửi thấy ngay mùi tử khí.

Bất giác tôi quay nhìn về đất Thái và không dưng mà thoáng thấy ngậm ngùi. Chỉ cách nhau có một lằn ranh định mệnh nhưng đời sống dân chúng của hai nước Miên – Thái hoàn toàn khác hẳn nhau. Bên kia là những căn nhà sàn xinh xắn, và những tàn lá rậm rì xanh mát của đủ thứ loại cây ăn trái: chôm chôm, xoài, ổi, mẵng cầu, sầu riêng, măng cụt, nhãn, mít… Bao nhiêu lần đi ngang qua đó tôi đều nhớ đến một đoạn văn mà mình đã đọc đến thuộc lòng, trong tác phẩm Mùa Hè, Một Nơi Khác của chị P.T.T.T. : “… vườn ngoại có xanh um những cây dừa, cây chuối, những trái quýt đường to vàng bóng láng, những trái mận trắng điểm những tia nắng hồng ngọt lịm, những mương tôm đầy tăm mặt nước…”

Không hiểu những người dân Thái đang sống ở nơi đây có ai biết được rằng mái nhà sàn đơn sơ của họ – với khoảnh sân đầy cây ăn trái, với “những mương tôm đầy tăm mặt nước… – là hình ảnh của một thiên đường đã lỡ, hay một giấc mơ quá xa tầm tay với đối với một người Việt lưu lạc như tôi, và với tất cả dân tộc Cao Miên láng giềng không ?

Cảnh nghèo nàn, tang tóc ở Cao Miên – tất nhiên – khó có thể giải thích được đơn thuần bằng lý do địa dư hay khí hậu. Điều “kỳ diệu” là cả hai đài phát thanh Hà Nội và Khmer Đỏ (nghe được rất rõ nơi đây) đều nêu ra được những lý do rất thỏa đáng về tình trạng bi thảm này, dù lập luận của họ hoàn toàn dị biệt và – đôi lúc – tương phản với nhau rõ rệt.

Theo đài phát thanh thứ nhất thì thủ phạm gây ra cảnh chiến tranh điêu tàn diệt chủng cho dân tộc Cao Miên chính là bọn khát máu Pol Pot và Ieng Sari, tay sai của bọn giặc bá quyền Trung Quốc. Còn theo đài phát thanh thứ hai thì thủ phạm gây ra một nước Cao Miên đau thương tang tóc chính là tập đoàn lãnh đạo Hà Nội, tay sai của quan thầy Liên Sô.

Thêm vào đó là những thông báo về những chiến tích quân sự “không thể nào tin nổi” của cả đôi bên, cùng với những lời lẽ chửi rủa nặng nề đến độ thô tục bẩn thỉu mà Hà Nội và Khmer Đỏ chăm chỉ và đều đặn gửi đến nhau đôi ba lần trong một ngày. Điểm tương đồng duy nhất của cả hai đài phát thanh này, hay nói đúng hơn là của cả Hà Nội và Khmer Đỏ, là họ cùng cố quên đi một sự kiện căn bản và giản dị như sau: dù hiện thân hay đội lốt dưới bất cứ hình thức nào, nơi đâu có mặt chủ nghĩa cộng sản là nơi đó hóa lầm than hay tang tóc, mà thường là cả hai. Trường hợp Kampuchia chỉ là một thí dụ điển hình.

Đơn vị được lệnh dừng chân. Mọi người ngồi dựa lưng vào ba lô nghỉ ngay tại chỗ, tay vẫn lăm lăm cầm chặt súng. Thấy dáng điệu lớ ngớ của tôi, người cán bộ chỉ huy đoàn quân quay lại nói nhỏ:

- Đây là bộ chhỉ huy tiền phương của sư đoàn… thuộc lực lượng Para (Son Sann).

Tôi tròn xoe mắt nhìn. Trước mắt tôi chỉ là những túp lều tranh nho nhỏ, nằm ẩn mình dưới những bụi tre già. Ngoài cần ăng ten ngụy trang của máy truyền tin, và những công sự phòng thủ đã cũ nát ra, đây không có vẻ gì là một căn cứ quân sự cả, đừng nói chi đến cái tên gọi to lớn là bộ chỉ huy tiền phương của cả một sư đoàn.

Đọc được sự kinh ngạc qua ánh mắt của tôi, anh bạn cười hềnh hệch tiếp:

- Bên Thái đã nhiều chuyện lạ, bên Miên này còn nhiều chuyện lạ hơn. Từ từ rồi ông sẽ thấy.

Tôi gật đầu nhẹ hều bày tỏ sự đồng tình yếu ớt, với một nụ cười chắc hẳn là trông vô cùng mệt mỏi. Tôi mệt thiệt và mệt lắm. Tôi đã sống ở Mỹ gần mười năm và đến Thái Lan chưa được mười ngày. Mười năm qua tôi di chuyển bằng thang máy, bằng máy bay phản lực, bằng xe hơi với hộp số và tay lái tự động. Bỏ những tiện nghi này ra là tôi biến ngay thành một thứ ốc sên không có vỏ.

Để che dấu cái mặc cảm này, tôi luôn luôn cố giữ bộ mặt “tỉnh như ruồi” cùng với thái độ “ai tới đâu tui tới đó” và “muốn tới đâu thì tới”. Hiện tại thì tôi đã “tới” Cao Miên và đây còn là vùng đất tương đối an toàn thuộc phạm vi kiểm soát của kháng chiến quân Son Sann. Không hiểu đơn vị sẽ còn đi thêm bao xa nữa ? Tôi vẫn giữ lập trường “ai tới đâu tui tới đó” nhưng hình như đôi chân của tôi thì không. Chúng bắt đầu lung lay và lạng quạng…

Cán bộ chỉ huy đơn vị, cùng với hai kháng chiến quân Kampuchea có nhiệm vụ dẫn đường, đi vào doanh trại bên trong. Không bao lâu anh trở ra, chỉ tay về phía những bụi cây thật rậm ở phía bên phải chúng tôi, nói lớn:

- Đêm nay ngủ tại chùa. Di chuyển liền qua bên đó. Cơm nước phải xong trước khi trời tối.

Tôi nhìn mặt trời đang xuống thật thấp, gần đụng đỉnh núi xa mờ ở phía Tây, với sự lo âu bâng quơ. Chậm lắm thì chừng hơn một giờ nữa thôi trời sẽ tối. Khác với bóng tối đô thị mà tôi đã từng quen, đêm tối nơi đây chắn chắn phải ẩn tàng nhiều đe dọa và bất trắc.

Trái với tâm trạng bất an của tôi, một kháng chiến quân ngồi ngay ở phía sau bỗng buột miệng nói sung sướng như reo:

- Bên chùa có chợ. Giờ này dám chợ còn họp lắm. Ở bển họ có bán nước đá, anh ơi.

Đất Cao Miên quả có nhiều chuyện lạ. Chợ và chùa tuyệt nhiên không có dính dáng liên hệ gì với nhau, theo như tôi biết. Sao lại có chuyện “bên chùa có chợ” được kìa ? Tôi càng thắc mắc hơn nữa khi nhìn thấy nét hớn hở của người bạn nhỏ khi nói đến hai chữ “nước đá”. Tôi ngắm kỹ khuôn mặt trẻ thơ của em rồi bất chợt hỏi một câu lảng xẹc:

- Em sinh năm mấy ?

- 68.

- Như vậy là em vưà đúng hai mươi há ?

- Dạ, tháng tới anh.

Em trả lời với đôi mắt sáng và nụ cười hồn nhiên quá khiến tôi không khỏi trạnh lòng. Ôi chao cái tuổi hai mươi! Tôi bỗng nghĩ đến nó mà buồn đến ngẩn ngơ. Ủa, chớ nó bỏ đi đâu mất hồi nào vậy cà ? Nó mới vừa còn loáng thoáng đâu đó mà. Nhiều chuyện tôi tưởng như mới xảy ra hồi hôm, hay tuần rồi chứ không phải là đã hai mươi năm trước. 

Tiến Đêm Cao Miên

Ảnh: Hà Trung Liêm - 1988


Lúc bằng y chang tuổi của chú em đây tôi cũng bắt đầu bước vào cuộc đời lính chiến. Có điều là tôi chả bao giờ trông vô tư và hăng hái như em hiện tại. Tôi không nhớ rõ là hồi đó mình đã ước ao cái gì khi di hành trong những lúc nóng bỏng và nắng cháy như thế này ? Nhu cầu của tôi thường rất nhiều, nhiều đủ thứ, và tốn kém lắm nha. Đại khái thì ít nhất cũng phải là năm bẩy chai bia ướp lạnh, chớ đâu có đơn sơ giản dị chỉ là vài cục nước đá như anh chàng kháng chiến quân trẻ con này.

Toán quân đã bắt đầu di chuyển. Tôi vội vã đứng dậy, chăm chú bước theo mọi người, cắt đứt những hoài niệm vu vơ. Đi loanh quanh thêm một lúc nữa, qua những con đường mòn mà cỏ dại mọc cao đến ngực, rồi chúng tôi nhìn thấy ngôi chùa.

Bắt đầu là sân chùa lát đá với cái được gọi là “chợ trời” nằm chình ình trên đó. Thực tại vốn phong phú, da dạng và … lộn xộn trong khi khả năng diễn đạt của ngôn ngữ lại vô cùng giớI hạn nên tôi bắt buộc phải dùng chữ “chợ”, chỉ thêm được chữ “trời”, để mô tả một cách gắng gượng về cảnh ‘thị tứ’ nhỏ bé và nghèo nàn đến độ thảm thiết này. Ở ba góc sân chùa, người ta trải ra ba tấm ny lông độ một mét vuông. Trên đó bầy vài chai nước ngọt, mấy bao thuốc lá, năm bẩy nải chuối chín đen, cùng với bàn chải đánh răng, khăn mặt, xà phòng và…chấm hết!

Câu “trăm người bán vạn người mua” xem ra có vẻ mỉa mai trước cảnh xơ xác của cái chợ mini màtôi nhìn thấy chiều nay ở Cao Miên. Tôi đếm được ba người bán và chỉ chừng năm bẩy người mua. Có lẽ họ đều là những binh sĩ thuộc lực lượng Son Sann đồn trú gần đây, và thái độ của họ trông có vẻ nặng phần “tham quan” hơn là có ý định mua bán thật.

Sự xuất hiện bất ngờ của chúng tôi chỉ làm cho những người đang hiện diện ngạc nhiên đôi chút, chứ không gây nổi chút xôn xao nào cho cái chợ vô sinh khí này. Không riêng gì tôi mà cả toán quân đều tự động dừng chân, đưa mắt nhìn ngắm những món hàng được bầy bán. Giữa vùng đất chết này thì nước ngọt, kem đánh răng, xà phòng, thuốc lá…đều có vẻ như những xa xỉ phẩm được mang đến từ một thế giới văn minh an bình nào đó.

Sau khi biết chắc là người ta có bán nước đá, tôi thân mật mời người bạn nhỏ một chai “lemonade” với thật nhiều đá. Khác hẳn với thái độ hăm hở lúc ban đầu, bây giờ thì em lại tỏ vẻ chần chừ:

- Mà đều họ bán mắc lắm anh ơi.

- Mắc là bao nhiêu ?

Em quay sang hỏi người bán hàng, chả hiểu bằng tiếng Miên hay tiếng Thái, rồi trả lời tôi buồn bã:

- Nếu trả bằng tiền Thái thì tới mười hai “baht” lận. Mắc gấp đôi bên kia.

Mười hai đồng tiền Thái chỉ cỡ năm mươi xu theo bản vị Mỹ Kim. Lúc ở phi trường Vọng Các tôi đã đổi hai trăm đô la ra tiền “tical” mà chưa dùng tới cắc nào. Ngay bây giờ tôi có thể mời em…tắm bằng bốn trăm chai Sprite chứ đừng nói chi là uống. Tôi cười hào sảng:

- Cứ mua uống đi em. Uống tới mệt thì thôi. Anh có tiền đây mà.

- Để em xin phép đã.

Tôi chợt nhận ra một điều nữa. Nơi đây mọi người đều không được quyền có nhu cầu nào riêng tư cả. Họ sống chết bên nhau, chia sẻ mọi gian lao cùng cực, cũng như tấ cả những ngọt bùi mà hoàn cảnh khó khăn dành cho mình.

Hiểu như thế nên tôi nói vội:

- Để anh xin phép cho.

Em nhỏ gật đầu cười nhẹ nhõm, trong khi tôi đưa đề nghị với cán bộ chỉ huy mời mỗi người dùng một chai nước ngọt. Tôi cũng quơ vội hết những bao thuốc lá Samit và Krongthip mà người ta bầy bán và phân phát đồng đều cho mọi người.

Rồi chúng tôi tiến vào chùa. Vị sãi già, một ông sư Cao Miên cỡ chừng một trăm tuổi hay có thể là hơn thế nữa – người đầy vết xâm trên da thịt nhăn nheo răn rúm – run rẩy đứng nhìn toán quân với đôi mắt ưu phiền và ái ngại.

Bên cạnh ông là hai vị sãi con, tuổi chỉ cỡ mười hai mười ba chi đó, cũng đen đủi và gầy gò y như sư phụ, và cũng nhìn chúng tôi với ánh mắt rất bất an. Chợ họp trước sân chùa đã là một điều phiền; lính ở luôn trong chùa thì còn phiền dữ nữa. Nếu mà Phật dự kiến được mọi hệ lụy của kiếp nhân sinh của thế kỷ hai mươi, tôi e là ngài sẽ trừng phạt nặng nề cái kẻ láu táu nào đó đã phát ngôn rằng “cửa thiền luôn rộng mở”.



Khi đi qua mặt ba vị sãi hai người cán bộ chỉ huy toán quân cung kính chắp hai tay lên trán, theo đúng như tập tục chào hỏi của người…Thái. Tôi không tin là người Miên và người Thái có chung một lối chào nhưng cũng vội vã bắt chiếc làm theo y như mọi người cho nó…chắc ăn. Ba ông sãi đều chắp tay chào lại và miệng thì lẩm bẩm không ngừng. Tôi hy vọng là họ niệm Phật bằng ngôn ngữ bản xứ chứ không phải là đang chúc dữ cho số phận chúng tôi.

Tôi bớt áy náy hẳn về chuyện “xâm nhập chùa chiền” khi bước vào bên trong và nhìn thấy cổng chùa đã xập. Bên trong không còn gì ngoài những tảng đá xanh rơi đổ lổng chổng lên nhau. Bây giờ thì tôi hiểu tại sao, nhìn từ xa, không ai có thể ngờ được dưới những lùm cây rậm rạp lạI có một ngôi chùa.

Cùng lúc, tôi cũng tự giải thích được chuyện chợ họp trên sân chùa. Người ta cần một khoảnh sân bằng đá bằng phẳng để bầy hàng buôn bán. Ngoài sân chùa ra, xung quanh đây có nơi nào mà không mọc đầy cỏ dại, và không bị gài mìn?

Thấy vẻ thẫn thờ của tôi, một kháng chiến quân đứng gần giải thích:

- Hồi 85 tụi nó mangg tăng vô tới tận đây đó anh.

- T 54 hả ?

- Dạ.

- Thứ này tôi có biết. Đại bác của nó không công phá dữ dằn tới vậy đâu. Còn đại liên 12 ly 7 thì đâu có làm gì được những tảng đá xanh bự tổ mẹ này.

- Tụi nó pháo mà.

- Em nói ai ? Tụi Khmer đỏ, Heng Samrin hay là Việt Cộng ?

- Chớ còn ai nữa ? Nói tình ngay thì tụi Miên, dù Miên nào cũng vậy, không có phá chùa đâu. Bởi vậy đêm nay mình nằm đây vững lắm.

Tôi gật đầu biểu đồng tình cho vui lòng người đối thoại chứ thực tâm tôi chưa bao giờ thấy “vững lắm” kể từ lúc xuống máy bay đến giờ, dù ở bên này hay bên kia biên giới Thái.

- Ông vô trong này lễ Phật không ?

Một anh cán bộ khác mà trách nhiệm, tôi đoán, hơi nặng phần chính trị vỗ vai tôi hỏi nhỏ. Tôi gật đầu như máy bước theo anh vào bên trong.

Và tôi bất ngờ nhìn thấy Phật mà không khỏi sinh lòng … ái ngại. Vì nóc chùa đã đổ nên người ta che đỡ mấy liếp tranh trên đầu cho ngài trông đỡ dãi dầu mưa nắng. Bụi bặm và máng nhện giăng đầy áng thờ. Giữa cái không khí hoang liêu cô tịch nơi đây tôi nghe rõ có tiếng …muỗi vo ve! Nhang đèn, tất nhiên, là miễn có; đừng nói chi đến xôi chè, oản chuối… khiến Phật thêm buồn. Đến như Phật mà còn thê thảm tới cỡ này thì cả dân tộc Cao Miên tránh sao khỏi chuyện te tua, bầm dập!

Chu đáo như một chính trị viên, anh bạn đã chuẩn bị sẵn nhang đèn và có cả một túi chôm chôm đã héo. Sự thán phục đọc trong ánh mắt của tôi được giải thích liền:

- Ở Miên cũng như ở Thái, cách tốt nhất để làm đẹp lòng người dân địa phương là mình phải tỏ ra là một Phật tử thuần thành.

Sự thực thì anh bạn không chỉ “tỏ ra” mà tôi thấy rõ là anh ta vô cùng trang nghiêm và thành khẩn khi khấn vái. Sống trong một hoàn cảnh bất an thường trực thì tất nhiên Phật, Chúa, Thánh Thần… luôn luôn phải ở rất gần.

Bữa cơm chiều với thức ăn duy nhất là món canh mì gói. Nó đạm bạc một cánh thảm thiết, và ngon miệng một cách khó hiểu. Sau đó, tôi nhận đuợc thêm nửa ca nước trà nóng hổi, đậm đen. Tôi uống từng ngụm nhỏ, suýt xoa, hít hà, đã đời, thấm thía.

Được miễn gác nên tôi yên tâm mắc võng, nằm tận hưởng hương vị đậm đà của điếu thuốc Thái Lan. Những tàn lá cây trên đầu cũng vừa trở mầu đen sậm, và bầu trời đã nhấp nháy những ngôi sao mọc sớm. Đêm nhiệt đới dường như kỳ bí và huyền ảo hơn là đêm ở những vùng đất khác.

Nếu có dịp làm cố vấn cho những công ty du lịch thì tôi sẽ ân cần khuyên bảo du khách điều này khi họ đến Cao Miên: coi chừng tụi Khmer Đỏ và muỗi mòng ở nơi đây. Dù lực lượng Khmer Đỏ đang cố tạo một bộ mặt “hiền hậu” và “dễ mến”, bất cứ ai hễ đã đỏ thì dù họ có biến thành hồng chúng ta vẫn nên tìm cách tránh xa – cho nó chắn ăn.

Còn muỗi mòng ở Kampuchea thì có thừa khả năng đâm xuyên qua võng ny lông và chích thẳng ngòi vào da thịt của những tên du khách khờ khạo như tôi. Đã vậy, trong lúc ngủ tôi còn sơ ý để hở lớp võng ny lông che người cho năm bẩy chú muỗi lọt vào bên trong. Tôi nhổm ngay người dậy, nhẩy xuống đất, lục tìm chai thuốc muỗi bôi vội vào mặt, vào cổ, vào tay…

Cùng lúc, tôi nghe tiếng khúc khích cười. Trong vòng ánh sáng mờ ảo của một cây nến nhỏ, tôi thấy năm bẩy người ngồi quay quần bên nhau, và tất cả đang hướng mắt nhìn về phía tôi. Thái độ hốt hoảng vừa rồi của tôi chắc là lố bịch lắm khiến họ phải bật cười. Hơi ngượng, tôi lạI nằm yên trên võng. Còn họ thì dường như vẫn tiếp tục câu chuyện gì đó mà tôi đoán là có vẻ hào hứng đang bỏ dở. Thỉnh thoảng tôi mới nghe ba tiếng “trời đất ơi” đệm vào giữa câu chuyện bằng tiếng Miên mà tôi nhận ra được ngay là giọng nói của Thạch T.

Trong số những kháng chiến quân Khmer Krom (người Việt gốc Miên) mà tôi gặp nơi đây, tôi gần gũi với anh ta nhất. Thạch T. cởi mở và vui tính. Cách đây hơn một tuần khi còn ở căn cứ trong đất Thái, có hôm tôi đã thức gần đến sáng để nghe anh kể chuyện đi tu, đi lính, “những chuyện tình không may”, và cuộc đời lưu lạc của anh. Dù giọng nói của Thạch T. có “accent”, tiếng Việt anh vô cùng thông thạo.

Tôi tự hỏi không hiểu sao hôm nay anh lại nói tiếng Miên và những người ngồi xung quanh anh là ai. Lặng lẽ, tôi tuột người xuống võng đi đến bên họ tìm một chỗ ngồi. Thấy bóng dáng tôi, Thạch T. nói như reo:

- Em tưởng anh mệt qúa nên ngủ luôn rồi chớ.

Tôi gật đầu chào mọi người, rút bao thuốc lá ra mời họ hút, và nói vu vơ:

- Muỗi quá há!

Rõ ràng là không ai quan tâm đến chuyện “vu vơ” đó. Mọi cặp mắt đều dán chặt vào bao thuốc lá Winston đang chuyền qua tay từng người. Thạch T. chỉ vào tôi, và nói với mọi người như một lời giới thiệu. Mắt họ cùng lúc đều mở tròn xoe, kinh ngạc. Tôi nhìn Thạch T. dò hỏi. Anh cười thích thú nói:

- Em nói anh từ Mỹ tới đây.

Giọng Thạch T. hãnh diện như thể anh vừa tuyên bố với một đám đông hiếu kỳ rằng tôi là bạn thân của anh, và tôi vừa đến từ… một hành tinh khác! Sau đó, anh ân cần giới thiệu từng người:

- Thằng này là thằng cháu. Nó đi bên ông Sonn San. Em mới gặp lại nó chiều nay thôi.

- Chào em.

Người cháu của Thạch T. lắc đầu cười bẽn lẽn khiến anh lại vội vàng giải thích:

- Nó đẻ bên Miên mà, không biết nói tiếng Việt đâu. Má nó mới biết. Còn mấy đứa này là bạn nó. Ở chung một chỗ Siemriep với nhau hết. Thằng này thì đi lính cho Heng Samrin, mới đào ngũ thức thì.

Người thứ hai vừa được giới thiệu nhìn tôi với đôi mắt hơi nghi ngại. Anh nghiêm trang hỏi Thạch T. có phải tôi làm việc cho CIA không ? Tôi lắc đầu cười khổ, trong lúc Thạch T. vẫn vui vẻ liếng thoắng giới thiệu tiếp:

- Còn thằng này thì ở bên Khmer đỏ. Cũng đào ngũ luôn.

Tôi suýt nhẩy nhổm người lên như kẻ bất ngờ bị đạp đinh. Cuốn phim “The Killing Field” bỗng quay lại thật lẹ trong đầu. Hình ảnh bộ đội Khmer Rouge áo quần đen bó sát, ống quần tay áo xắn cao, chân đi dép râu, khăn rằn quấn kín đầu, mặt đằng đằng sát khí, tay lăm lăm AK 47, sẵn sàng chỉa súng vào mặt bất cứ ai và…bóp cò cái bộp!

Tôi mở mắt thật lớn nhìn, thoáng một chút ngỡ ngàng vì khuôn mặt chất phác và hồn nhiên của người đối diện. Cùng lúc, em nhìn lại tôi với nụ cười thật hiền lành và rất ngây thơ. 

Cuộn phim trong đầu tôi chợt tắt. Qua nụ cười của em, tôi chỉ thấy là sao da em đen quá mà răng em trắng quá, thế thôi. Em còn quá trẻ để có thể tham dự vào thảm kịch tàn sát tập thể xẩy ra trên quê hương mình đã hơn mười năm trước. Ân hận vì thành kiến của mình, tôi vội xiết chặt lấy tay em. Tôi muốn “âm thầm” gửi đến em một lời xin lỗi.

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà thiên hạ sẵn sàng dán nhãn hiệu lên trán của nhau. Thực sự những người đang ngồi trước mặt tôi đâu có dính dáng, can dự gì đến quyền lợi của đảng phái này hay lực lượng nọ ở Cao Miên đâu. Tự nhiên người ta chia phe, trưng bảng hiệu, may cờ, vẽ vòng…rồi bắt ép các em phải đứng vào phe này hay phe nọ để cầm súng giết nhau.

Tình trạng ở quê hương tôi cũng chả khác gì. Ngồi cạnh tôi đêm nay là Bằng, là Thu, là Hoàng Hải, là Quốc…những người trẻ Việt Nam mà tôi đã quen nên Thạch T. không cần giới thiệu. Chỉ mới cách đây một hoặc hai năm thôi các em đều còn có tên gọi là bộ đội Việt Nam, một đạo quân có tiếng là hung hãn và ngu xuẩn nhất của thế kỷ này. 

Và mới chỉ cách đây chừng hai tuần thôi, tôi còn nghĩ đến các em với ít nhiều thành kiến. Tôi quên bẵng đi một điều giản dị là các em đâu có quyền lựa chọn “không” là bộ đội.

Chợt nhớ ra một điều quan trọng khác, tôi vội hỏi trống không:

- Ở đây có ai đi lính cho ông Hoàng Sihanouk không ?

- Không.

Vậy chỉ thiếu có một nhân vật nữa thôi là đêm nay tôi đã gặp đủ tất cả “đại diện” của những phe đang lâm chiến ở Cam bốt rồi: Khmer Đỏ, Heng Samrin, Son Sann, và Sihanouk. Tất nhiên là tôi muốn nghe chuyện của họ. Qua sự thông dịch của Thạch T., tôi hỏi người bạn nhỏ bỏ về từ phía Heng Samrin trước:

- Em ở với Hengg Samrin bao lâu rồi ?

- Gần ba năm, từ hồi 1985 lận.

- Sao bỏ đi ?

- Người Cam bốt không thích ở với Heng Samrin đâu. Nó là “tay sai” của Việt Nam mà.

- Còn em, sao không ở với Pol Pot và Ieng Sari nữa ?

- Cực lắm, chịu không nổi.

- Rồi hai em có tínnh ở lại đây đầu quân bên Son Sann không ?

- Không, bên Son Sann không có mạnh đâu. Ở với ổng cũng khó sống lắm. Chắc tụi tui rủ thằng này (chỉ người cháu Thạch T. thuộc lực lượng Son Sann) đi vô Site II tị nạn luôn.

- Mấy em tính đi Mỹ hả ?

- Nghe nói không cho đi Mỹ nữa đâu. Không được đi nước nào hết. Nó nhốt luôn mà.

- Vậy vô đó làm chi ?

- Chớ ở ngoài này dễ chết quá mà không có ăn nữa.

- Mấy em có biết là Việt Cộng đang rút quân không ?

- Biết chớ nhưng ăn thua gì. Nó còn cả đống mà.

- Nếu không có bộ đội Việt Cộng thì lính Son Sann và lính Sihanouk đánh được Heng Samrin không ?

- Làm sao biết được nhưng lính Son Sann và Sihanouk cũng không có thuận nhau đâu.

- Lính Heng Samrin đánh giặc giỏi không ?

- Không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có Việt Cộng mới mạnh thôi.

- Sao Khmer Đỏ lại đánh giặc giỏi như vậy ?

- Cũng không giỏi đâu. Tụi nó nhờ có nhiều súng đạn thôi.

- Nếu bây giờ; được tự do lựa chọn thì mấy em làm gì ?

- Tụi tui trở về Biển Hồ đánh cá nuôi mẹ, nuôi cha.

- Lấy vợ nữa chớ ?

- Cái đó phải có cha mẹ đi nói con gái nó mới chịu.

- Còn không về được thì sao ?

- Cũng chưa biết tính sao nữa ?

Tôi cố nén một tiếng thở dài và không dưng mà thấy mắt mình cay. 

Ngọn nến tàn dần. Ánh lửa nhỏ nhoi đột nhiên hóa màu đỏ sậm, rồi biến thành lập lòe xanh lét khiến khuôn mặt mọi người trông đều có vẻ ma quái. Tôi nghe tiếng Quốc nhắc Hoàng Hải lục ba lô tìm nến, rồi tiếng nói ngái ngủ của một anh cán bộ:

- Thôi ngủ đi mấy ông. Ai gác thì lo canh gác đàng hoàng, còn lại thì ngủ đi. Mai đi “hóc” lắm chứ không phải chơi đâu.

Ngọn nến tắt hẳn. Đêm đen thui. Cùng lúc là tiếng đại pháo ầm ì ở xa xa. Trong bóng tối, em nhỏ về từ phía Khmer Đỏ chợt nắm nhẹ lấy tay tôi và nói một điều gì đó nghe rất ân cần. Thạch T. cười nhỏ dịch lại:

- Nó biểu anh đừng có sợ. Pháo bắn ở xa lắm.

Nếu nói được ngôn ngữ của em, có lẽ tôi sẽ trả lời rằng “tôi không sợ gì hết, chỉ buồn thôi.” Lẫn trong tiếng pháo, tôi chợt nghe tiếng gà gáy sáng. Chắc mới canh một. Còn lâu, lâu lắm trời mới sáng, và không có gì hứa hẹn là ngày mai cuộc đời sẽ sáng sủa và dễ thở hơn cho bất cứ ai nơi vùng đất bất hạnh này.

Tưởng Năng Tiến - 1989

 

Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.
Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
Cũng vì ích kỷ muốn ăn ngon, muốn ăn bổ, nên con người đã tạo cho con virus Corona có cơ hội lây từ thú sang người ở Vũ Hán và chỉ với một thời gian ngắn đại dịch đã bùng phát gần như ở tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện nay vẫn còn tiếp diễn chưa chịu dừng lại.
Một trong những cuộc đua Marathon nổi tiếng, và lâu đời nhất thế giới dành cho người tham dự từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp từ khắp các quốc gia là Boston Marathon bị hủy bỏ . Cuộc đua truyền thống dài hơn 26 miles (khoảng 42km) hàng năm chạy qua 8 thành phố của Massachusetts bắt đầu từ năm 1897 chỉ có 15 người tham dự, là một trong 6 cuộc đua Marathon quan trọng nhất thế giới hàng năm. Lần đầu tiên trong 124 năm, sự kiện thể thao hàng năm -có lúc quy tụ đến nửa triệu người quan sát và hơn 38 ngàn vận động viên- bị hủy bỏ trong năm 2020 vì đại dịch cúm Tàu. Ngay cả trong hai thế chiến (1914-1918 và 1939-1945), Boston Marathon vẫn được tổ chức , và là một truyền thống văn hóa cả trăm năm của Bostonians.
Đó là một buổi chiều, lớp tôi được nghỉ môn học giữa giờ vì cô giáo bịnh. Chúng tôi, ba đứa bạn thân và tôi, rủ nhau ra ngoài trường, tản bộ trên vỉa hè quen thuộc có hàng cây rợp mát. Đi dọc theo đường Bà Huyện Thanh Quan, ngắm những căn biệt thự nằm khuất bên trong khoảng sân rộng, bốn đứa chúng tôi hỏi nhau căn nhà nào đẹp, và thích căn nào. Đứa thích nhà trồng nhiều hoa. Đứa thích nhà có cửa sổ bốn phía, v..v... Bỗng dưng tôi nghe có tiếng dương cầm văng vẳng trong gió khi vừa đi qua. Tôi dừng chân trước một biệt thự cổ kính. Âm thanh phát ra từ trên lầu. Tôi ngắm kỹ ngôi nhà và thấy bức tường đá của nó được phủ kín bởi một loại dây leo có lá nhỏ tròn, bò ngộ nghĩnh. Bức tường cao quá nên tôi không thấy gì bên trong, chỉ nhìn qua song cửa sân. Lúc đó tôi sợ bị người ta bắt vì tội nhìn lén nên đứng xớ rớ một lát rồi đi.
Xuyên qua từng áng mây chĩu nặng hơi nước, những tia nắng đìu hiu của một buổi chiều như đang ngập ngừng bên ngoài khung kính của chiếc Boeing đồ sộ – đang bay. Bảo-Trân nghiêng một bên má sát vào mặt kính để nhìn lại phía sau. Dalat đã chìm khuất, chỉ còn những đóm sáng ly ty từ những tòa buildings trên triền núi cao. Từ những triền núi, hơi lạnh toát ra, tạo thành những phiến sương buồn, che khuất những khe núi thâm u rồi bay lang thang trong vùng không gian im vắng để đợi chờ ánh hoàng hôn.
Cho đến lúc nào có thuốc chủng ngừa COVID-19, càng ngày người ta càng cẩn thận hơn trong giao tiếp. Những lối đi giữa các aisle trong chợ Mỹ bắt đầu trở thành "đường một chiều" để tránh "mặt đối mặt" giữa khách hàng, tránh tình trạng Coronavirus "bành trướng" qua nạn nhân mới. Còn hơn thế nữa, các chợ đã bắt đầu cấm người không đeo khẩu trang vào chợ. Mỗi chợ còn cử một nhân viên ngồi ở cửa ra, vào để bảo đảm 100% khách hàng vào chợ đều có mang khẩu trang.
Cưu mang lắm việc rồi đến tuổi hưu ta cũng phải tự hỏi, ta làm được những gì cho đời? Lớn lên trong chiến tranh, hư hao đổ nát, mang nhiều ước vọng vào đời, phục vụ đất nước chưa đầy mươi năm, trôi giạt xứ người, cuộc sống lưu vong của ông thật là hẩm. Đến Mỹ tháng 11 năm 79, sau thiên hạ gần 4 năm, ông không thể nào trở lại nghề bác sĩ, mặc dầu ông thi đậu bằng cấp hành nghề bác sĩ tại Mỹ. Ông hài lòng với nghề tư vấn tâm thần vì với nghề này, ông có cơ hội trở lại phục vụ cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ông đã được nhận là Giám đốc chương trình Bịnh Tâm Thần cho người tị nạn Đông Dương tại Chicago. Nhờ vậy, ông lúc nào cũng thấy phấn khởi. Ông chưa bao giờ an phận dừng chân. Năm nay, tuổi thật, ông đã 68, ông vẫn chưa biết đâu là bến đậu, lúc nào là lúc thả neo lần cuối để cho chiếc tàu đời ông được an nghỉ.
Cả ngàn cây im phăng phắc, không một chiếc lá lay, không một cơn gió thoảng. Khu rừng trầm lắng đến độ có thể nghe được âm thanh tăng trưởng của từng thớ gỗ trong thân cây, cái không khí lặng mà căng như dây đàn, nó dồn nén tưởng chừng chỉ cần một tác động nhỏ cũng có thể làm bùng lên, nổ tung ra. Toàn bộ cây rừng đang lo lắng cho số phận của mình, dù biết rằng có lo sợ cũng không giải quyết được gì, nhưng một khi đứng trước cái chết gần kề thì không thể nào không lo. Các loài thú rừng, chim muông, sâu bọ…cũng hoang mang tột độ.
Tôi không hề biết nguyên tên họ của bác Bích, vì từ lâu lắm rồi, bác là: Bà Tô Thùy Yên. Tôi lâu lắm mới gặp Bác Bích, ôm Bác được vài lần, nhưng tôi cảm nhận được hơi ấm rất gần gũi, thân quen, vì đó là hơi ấm của mẹ tôi, của một người đi trọn con đường chông gai, nhọc nhằn bên cạnh một tên tuổi lớn, của thi ca Việt Nam.
quý vị và các bạn đã cùng tôi trở về Mỹ Tho thân yêu qua hình ảnh sinh hoạt của một thời hoa mộng trên những con đường chính của thành phố, những con đường một thời đã in hình gót chân bay nhảy của tuổi thơ và thanh xuân nhưng chắc chắn rằng Mỹ Tho luôn luôn khắc ghi trong tâm tưởng những người đã gắn bó một phần đời hay cả đời với thành phố yêu dấu.
Đêm qua trăng sáng lắm, sáng đến nỗi tỏ cả đường chỉ tay, không gian im ắng lạ thường, tiếng côn trùng vốn nỉ non hàng đêm ấy vậy mà cũng im bặt, sự im lặng đến nghe rõ cả nhịp tim thì thụp. Chừng nửa canh giờ quá khuya thì gió bắt đầu nổi lên ào ào, dân quanh đình nhiều người nghe rõ mồm một tiếng ngựa hí, tiếng quân reo, sau đó thì tất cả bất chợt im bặt, chỉ còn tiếng vó độc mã gõ lộp cộp ở sân đình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.