Hôm nay,  

Kẻ Hành Nhân

06/12/202018:44:00(Xem: 6164)

Xuống  xe tắc-xi đi thêm mấy bước, rời con đường nhựa, ông quẹo trái. Con đường vào khu  nhà Thuỷ Tạ hơi nghiêng, lát đá hơi gồ ghề, ông cẩn thận đi chầm chậm từng bước một. Chân yếu, đi đến những nơi lạ, ông thường mang theo cây gậy. Lần này ông quên.

Buổi sáng đầu mùa Đông lạnh. Nhà hàng vắng. Chỉ có một nhóm thanh niên nam nữ đang  quây quần quanh một chiếc bàn tròn cuối một dãy bàn ghế ở ngoài trời bên trên có mái che nhưng không có vách tường. Những phòng bên trong ấm cúng, có máy sưởi, thì lại không có một người khách nào. Dù trời lạnh, ông cũng chọn một chiếc bàn ở ngoài trời nhưng cách xa  đám thanh niên đó. Ông muốn có tầm nhìn khoáng đãng. Ông muốn tìm lại vài hình ảnh cũ. Của cái Nhà Thủy Tạ này. Của cái khung cảnh chung quanh này. Vào cái thời kỳ còn trẻ trung, lãng mạn  trong cuộc sống ngày càng phiền toái của ông.

Trước mặt ông, một cái bàn vuông, nhỏ, chỉ có hai ghế mây đặt bên nhau, có nệm lót cho chỗ ngồi và lưng. Trên mặt bàn, tờ thực đơn nằm cạnh một lọ hoa hồng mới cắt còn lấm tấm mấy giọt nước nhỏ như những hạt sương mai. Ông kéo ghế ngồi xuống chưa biết gọi món gì, thì tiếng cười nói quá ồn ào từ đám thanh niên vang tới. Ông quay nhìn. Quanh chiếc bàn tròn, một nhóm thanh niên nam nữ, nam thì nhuộm tóc vàng, xanh, tím, nữ thì quần rách gối và mông, đang nâng cao những chiếc ly nhỏ. Ủa, uống rượu mạnh buổi sáng sớm?    

Ông đang muốn yên tĩnh. Thì phải rời đây ngay, ông thầm bảo. Ông chưa phát ra một cử chỉ nào, thế mà, chẳng  hiểu sao, cô bán hàng nãy giờ mải chăm chú nhìn đám thanh niên đằng kia bỗng quay người lại bước vội tới ông. Khuôn mặt thanh tú, phấn son không loè loẹt, nhanh nhẹn, gọn gàng, tuổi chừng dưới 20. Cô nghiêng mình, nghiêng thật thấp như ca sĩ trên sân khấu khi hát xong bài hát, rồi nở một nụ cười thật tươi, đôi mắt chớp chớp long lanh. Có một chút dư thừa trong từng điệu bộ. Cô nói tíu tít một tràng:

“Kính chào bác ạ. Bác khỏe chứ. Bác có lạnh không nào? Ối già, hôm nay sao trời lạnh thế. Hay ta vào trong kia đi bác.”

Ông lắc đầu từ chối.

“Vâng, thì thôi vậy. Bẩm bác xơi gì? Nhưng trước tiên phải là cà phê nhé, bác nhé.”

Cô bé giọng Bắc hơi the thé, rất lễ phép. Có tin đồn rằng chủ quán, và cả người  phục vụ, vào thời buổi này coi khách hàng như cỏ rác, “vừa bán vừa la vừa chửi”. Vậy đây là trường hợp ngoại lệ? Hay lời đồn sai?

Ông chưa kịp trả lời thì cô bé đã quay ngoắt người  đi nhanh về phía đám thanh niên đằng kia đang khua ly gọi cô.

Ông sửa lại thế ngồi và nhìn ra hồ. Một con chim nhỏ, quá nhỏ, không biết từ đâu bay sà tới đậu lên lan can cách ông không quá một mét. Nó tròn mắt nhìn ông trong một tích tắc, hoảng hốt, giật mình bay phóng ra ngoài. Ông nghe tiếng vù, và nhìn theo. Nó bay mãi, nhỏ dần, mất dạng. Không biết nó có thể bay vượt qua khỏi mặt hồ này không, ông ngẫm nghĩ. Hay sẽ mỏi cánh, nó nhỏ quá mà, rơi giữa đường. Ông cầm lấy thực đơn ngắm nghía. Cái thực đơn trông cầu kỳ, chữ viết kiểu cọ, rồng bay phượng múa. Nhiều chữ, nhiều con số kỳ quặc ông không đoán nổi nó muốn nói gì.

“Cà phê ở đây ngon lắm bác ạ.” Cô bé đã trở lại. “Ngon nhất. Trên cả tuyệt vời. Trong khi bác chọn món ăn, cháu đi lấy cà phê bác dùng trước cho ấm bụng nhé, bác nhé.”

Sau câu nói là một nụ cười thật tình tứ, khá sỗ sàng, chẳng khác gì nụ cười của hai người yêu xa nhau vừa gặp lại nhau, muốn xoắn xít, vồ vập nhau như chỗ không người. Nụ cười chưa tắt, cô đã quay người, quay hơi nhanh khiến mái tóc nhuộm vàng chen nâu quay theo để lộ chiếc cổ trắng. Và cô đi nhanh về phía quầy hàng.

Ông chau mày.  A, cái cô bé này! Tiếp một người đã “quá đát” nên cô không cần phải e dè chăng? Đùa chút chơi thôi, phải không? Hay muốn thử xem nụ cười đó, cử chỉ đó có tác dụng như thế nào đối với một người lớn tuổi, hay cau có như mình? Nghĩ vậy nhưng ông không cảm thấy bị xúc phạm lắm. Không những thế, ông còn muốn đồng loã. Như một buổi sáng mùa đông lạnh miền núi chợt từ sau đám mây xám nặng nề loé lên những tia nắng yếu ớt kết thành hình rẽ quạt ngắt đoạn, thưa thớt. Chắc không mang lại là bao ấm áp, nhưng cũng dễ chấp nhận.   

Ông đảo mắt nhìn quanh. Trước mặt, sóng hồ gờn gợn dưới lớp giá mỏng như đang bốc làn hơi trắng. Có tiếng nước róc rách dưới chân những cây cột đúc xi - măng.  Nhìn ra xa, không thấy bóng dáng những chiếc pédalo nào như thường thấy vào những mùa khác trong năm. Xa hơn, lác đác những cổ xe ngựa chở du khách dạo trên con đường bên kia hồ. Xa hơn nữa, vườn Bích Câu nằm thoai thoải từ lưng chừng một ngọn đồi thấp rồi tràn xuống mép nước. Ông tự hỏi khu vườn hoa nổi tiếng đó có còn giữ lại tên cũ hay không. Đường bên này hồ xe cộ giao thông nhiều hẳn không tiện cho việc du ngoạn bằng xe ngựa. Quay nhìn phía phải thấy ngay cái tháp trường Yersin ẩn hiện sau những cây thông già, nay nó mang tên gì? Ông có cảm tưởng rằng những cây thông già đó vẫn là những cây thông ngày xưa khi ông còn bé tí nay vẫn trơ gan đứng đó cùng với ngôi trường mang tên một bác sĩ người Pháp đã góp công tìm tòi và xây dựng Đà Lạt, và đã yêu mến Việt Nam như quê hương thứ hai.

Ông cố nhìn xa hơn, tầm nhìn bị chận lại. Nhưng ông hình dung ra ngay. Đây là đường đi ngang qua Nhà Ga Đà Lạt, kia là Hồ Than Thở thông reo vi vu, tiếp đến là khu Saint Benoit sau đổi tên là vùng Chi Lăng nơi đó có Trường Võ Bị của Việt Nam Cộng Hoà trước kia ... Ông xoay hẳn người lại. Chênh chếch lưng chừng đồi là khách sạn Palace danh tiếng nay có tên Dalat Palace – Heritage Hotel.

Cảnh vật quanh đây dường như không thay đổi là bao. Ông có cảm tưởng như  gặp lại người bạn cũ thân thương lâu đời  sau thời gian dài xa cách. Những nơi khác ông để tâm quan sát mấy hôm nay thì có thay đổi. Phố phường san sát; nhà cửa mọc lên nhiều và khá bề bộn; xe cộ chạy trên đường khá tấp nập; vườn trồng rau lộ thiên, hay có nhà kính, hay có mái che bạc trắng, tràn ngập gần khắp các thung lũng. Ông cho rằng đấy chỉ là những chiếc áo khoác bên ngoài nhiều chỗ sặc sỡ, thô lỗ, nhưng bên trong, bên dưới, Đà Lạt vẫn dịu dàng, êm đềm, thơ mộng. Ông chỉ tiếc những hàng thông xanh, loại thông ba lá mượt mà, những cây thông  cổ thụ trăm năm ngọn vươn lên cao cách mặt đất vài mươi mét đứng ven các đường phố chính, nay hầu như vắng bóng.    

“Đây, cà phê của bác đây.” Cô gái đã đứng ngay sau lưng ông mà ông không biết. “Bác dùng với mật nhé? Cháu đã pha sẵn mật trong cà phê.”

Ông thảng thốt buột miệng:

“Mật? Sao lại mật?”

“Mật chứ sao lại không mật. Mật ong thật đấy. Lấy từ cánh rừng nằm phía bên trên nguồn của thác ĐaTân La đấy bác ạ. Quý lắm. Bác là khách sang mà. Bác có tham quan thác Đa Tân La chưa?”

Ông không trả lời câu hỏi, chỉ nói vắn tắt:

“Tôi không uống cà phê với mật.”

Cô gái hơi nhíu mày:

“Ô, có ít mật trong đó thôi. Bác pha thêm đường vào cũng được.”

Ông đáp hờ hững:

“Đường cũng không.”

Cô quắt mắt:

“Ô hay. Khó khăn quá nhỉ.” Chỉ tay vào chai nước tương trên bàn. “Đấy, đấy, có chai ma-dzi đấy. Bác hãy uống cà phê ma-dzi nhé.” Cô hất mái tóc qua một bên vai, lạnh lùng tiếp. “Nhưng tôi phải qua ngay bàn đằng kia, bác cứ ngồi đấy tha hồ kén chọn.”

Nói xong cô quay ngoắt người đi nhanh về phía bàn của nhóm thanh niên dù không có tiếng thìa gõ vào ly.

Ông ngẩn người. Mình xưa nay vẫn uống cà phê không đường, chứ có định gây khó khăn đâu. Nhưng thôi, hơi đâu mà đôi co. Ông lấy làm lạ rằng tính mình vẫn cáu kỉnh, nhưng sao bây giờ ông không cảm thấy khó chịu cho lắm. Cái cảm giác bực bội chỉ thoáng qua, và được thay thế bằng nụ cười âm thầm. Vâng, chút nắng yếu ớt ban đầu đã tắt, cái đẹp mong manh ban đầu không còn, ông không muốn đang tay vùi giập thêm. Cứ để niềm vui nhỏ trong buổi sáng hôm nay có một chỗ đứng trong tâm hồn. Nhưng mặt khác, ông cũng biết rằng ông không thể ngồi nán lại nơi này thêm một giây phút nào nữa.

Nhìn giá tiền trên thực đơn: Cà phê 120 nghìn. Ông rút ví. Không có tiền lẻ, ông lấy 150 nghìn đặt dưới bình hoa, rồi đứng dậy rời khỏi bàn. Cô gái từ bàn đằng kia vội chạy theo gọi rối rít:

“Ô, ô, cái ông kia. Trả tiền đi chứ?”

Ông hất hàm trỏ tay về phía chiếc bàn. Và cẩn thận đi từng bước một trên đường lát đá lởm chởm. Và đến đứng chờ trên lề đường.

Chờ khoảng 5 phút, một chiếc tắc-xi trờ tới. Và cũng khoảng hơn 5 phút sau, ông đã xuống xe ghé một góc khu Hoà Bình. Nhà Thuỷ Tạ không xa trung tâm thành phố là bao. Đi đâu? Đi đâu bây giờ? Câu hỏi nhảy nhót trong đầu. Còn hơn nửa ngày, không lẽ trở về khách sạn nằm dài chờ ngày mai xuống Sài Gòn để hôm sau lên máy bay về Mỹ.

Thành phố này thật quen thuộc. Phải rồi, là vì mình không được sinh ra nơi này nhưng đã sống ở đây từ bé.  Kỷ niệm thời thơ ấu khó quên. Thấy vắng xe, ông vội băng ngang qua dãy phố bên kia đường. Ông nhận ra ngay đây là góc phố ngày xưa. Không chừng dưới mấy viên gạch vỡ vẫn còn những lớp đất, đá, nhựa trải đường của trăm năm về trước.

 

Mùa đông trời lạnh lắm và mau tối. Trường tiểu học chỉ cách nhà chỉ hơn 10 phút đi bộ,  nhưng nó về tới nhà thì đã chạng vạng. Bố mẹ hỏi tại sao, mới đầu nó chối. Nó cũng giấu kín mấy hột dẻ rang cầm ấm cả bàn tay bé nhỏ.

Chiều nào cũng vậy, nó và hai thằng bạn học bé con ở cùng phố, không chịu về nhà ngay, đứng thộn người nhìn người ta rang cà phê ngay trước cửa tiệm Vĩnh Chấn. Vĩnh Chấn bán bánh mì, bánh ngọt và cà phê từng bịch chứ không phải cà phê trong tách, trong ly. Tức là cà phê xay tại chỗ sau khi rang rồi cho vào bịch giấy nhỏ để bán. Tây, đầm, ghé xe hơi tới mua đông hơn người mình.

Cái hột gì đó đổ vào nồi rang kêu rổn rảng, sau nó biết là hột cà phê sống. Nồi rang bằng thiếc hình ống tròn to, lọ nghẹ bám đen thui, nằm ngang, có tay quay, đặt bên trên bếp lửa, hay bếp than, nó không rõ. Một chú Tàu bụng bự, ba nó vẫn gọi là chú khách, cầm tay quay quay đều, quay xuôi rồi quay ngược. Chú Tàu thương con nít, thỉnh thoảng cho mấy đứa bé những hột dẻ rang còn nóng muốn phỏng tay. Thường thường rang cà phê xong, nếu còn lửa, chú rang dẻ; nó biết ý đứng chờ. Chỉ một chốc mùi cà phê rang bốc lên, rồi lan ra khắp hè phố. Thơm quá, ấm quá. Mùa lạnh mà được cầm tay quay rang cà phê thì còn gì bằng. Nó còn nhỏ, ba chưa cho uống cà phê, sợ tim con nít đập mạnh, mẹ nói thế.

Mà cần gì uống. Mũi ngửi mùi cà phê rang có trộn bơ thơm tho ngào ngạt trước tiệm Vĩnh Chấn là sướng rồi. Cũng như đối với lỗ tai, lỗ miệng, cần gì học hát, nghe hát ở trường vào cuối tuần khi thầy dạy nhạc tay vung chiếc đũa như nhắp cây roi. Nghe con dế gáy khi nó ngủ, reo to khi nó “thắng trận” khua hai cái râu dài đuổi theo con dế khác, thiệt là hay ho hơn nhiều. Nó ước mơ sau này lớn lên được làm nghề rang cà phê tiệm Vĩnh Chấn. Rang cà phê vào mùa Đông, nhìn con nít đi học về, cho chúng nó hạt dẻ và thêm bánh mì mới ra lò. Mùa mưa tới thì làm nghề trồng rau ở Ấp Hà Tịnh, Ấp Hà Đông, Ấp Thừa Thiên tha hồ bắt dế đá. Mà nghề đánh xe ngựa coi bộ cũng thích. Ngồi trên xe ngựa, hồi đó còn xe ngựa chở người ta đi chợ, và than, củi, “la-ghim”, một tay cầm dây cương, một tay cầm cây roi, quất quất. Nhưng ao ước là một chuyện, bố mẹ có chịu hay không là chuyện khác.

Thế mà nó chưa lớn lên để biến mơ ước thành sự thật thì đã phải chạy giặc. Nhớ chiếc xe ngựa chở cả gia đình từ Đà Lạt đổ xuống Cầu Đất, và được chuyển qua xe lửa khác chạy xuống ga Tháp Chàm, rồi chuyển qua xe lửa khác một lần nữa chạy tuốt ra Trung hướng về xứ Huế lạ lùng, huyền bí, âm u, xa xôi ngàn dặm. Hồi đó, Khi chưa rời khỏi ngôi nhà của tuổi thơ dại, mới nghe bố mẹ nói lui nói tới “phải về Huế, phải về Huế”, nó đã ngẩn ngơ, hoang mang, sợ sệt.

 

Ông thì thầm trong lòng chắc mình phải trở lại con đường tản cư hồi nhỏ đó, cũng như mấy hôm nay đã trở lại thăm nhiều nơi trong thành phố “rập rờn kỷ niệm này”. Như con cá hồi. Như con chim én.

 

Một cơn gió thoảng qua, ông thấy lạnh dù đã mặc hai lần áo len dày. Ông biết, mình đã già yếu, khả năng chống cự với cái lạnh kém xa thời trai trẻ. Và ông thảng thốt “nhận ra ngay đây là góc phố ngày xưa”, rằng mình đang đứng trước tiệm Vĩnh Chấn tuy nó được khơi cao thêm vài tầng, không còn bán bánh mì nóng và cà phê bịch, và không giữ bảng hiệu chữ Tàu nữa. Bỗng dưng ông cảm thấy thèm một tách cà phê thật nóng, không đường, không mật, sau khi ăn một tô phở tái gân nạm gầu cũng nóng không kém có thêm hành chần, nước béo. Ông nhớ trước kia, gần khu Hoà Bình này, có một quán phở khá nổi tiếng, lẽ dĩ nhiên có cà phê đi kèm - Cà Phê Tùng hay Phở Đắc Tín - nằm trên đường Hàm Nghi, tên đường vào thời Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975. Ngày xa xưa thời Pháp thuộc nó mang tên Rue d’Annam, sau này chắc hẳn đã có tên khác. Và gần cuối đường là ngôi nhà thờ Tin Lành khá lớn, nay cũng gần 100 tuổi. Đi sâu thêm vài trăm thước rồi rẽ trái sẽ gặp một ngôi chùa cổ, chùa Linh Sơn, nay trên 100 tuổi.

Ông đi thong thả đến đường Hàm Nghi. Chỉ đi một đoạn ngắn, ông gặp một bến xe khá nhộn nhịp. Đứng lại một chốc tại một góc phố nhìn xe đến, xe đi, cũng là một cái thú -  ông vẫn thích sinh hoạt của những nơi như chợ búa, nhà ga, bến xe, bến tàu. Bến xe này có những tuyến đường đi Đức Trọng, Tùng Nghĩa hướng về Di Linh, Bảo Lộc rồi về Sài Gòn; hoặc đi Lạc Dương, hoặc Trại Mát, Trạm Hành hướng về Phan Rang, Nha Trang. Một chiếc xe hành khách cố ý chạy chậm ngang qua chỗ ông đứng. Lơ xe kêu to: “Đi Xuân Trường, Cầu Đất, Trạm Hành đây. Chú ơi. Lên xe mau.” Ông giật mình, và chẳng hiểu sao, tự nhiên cánh tay đưa cao lên, vẫy. A, đúng rồi, hai tiếng Cầu Đất vừa nghe vang dội mạnh trong lòng. Xe dừng lại, ông lên. Xe chạy tiếp, lại trờ tới những người khác đứng cạnh lề đường. Thêm vài người lên xe. Khi ông đã ngồi yên, anh lơ xe bước tới:

“Chú đi đâu?”

“Đi Cầu Đất. Cầu Đất là trạm cuối, phải không anh?”

“Trạm Hành mới là trạm cuối.”

Để được yên tâm ông  hỏi tiếp:

“Nghĩa là xe sẽ ghé Cầu Đất rồi mới tới trạm cuối là Trạm Hành?”

“Vâng.” Anh lơ xe trả lời dấm dẳng, rồi định xé vé đưa cho ông. Ông vội nhìn đồng hồ tay và hỏi tiếp:

“Mà chuyến cuối trở về Đà Lạt là mấy giờ?”

“Tùy, khoảng 4 giờ chiều. Còn khách thì 5 giờ.”

“Cho tôi 1 vé.”

“19 ngàn đồng đi Xuân Trường.” 

Ông băn khoăn:

“Tôi đi Trạm Hành chớ không phải Xuân Trường.”

Anh lơ xe sốt ruột, xé vé, chìa tay đòi tiền, đáp:

“Thì cũng đó đó.”

Nhìn vé xe, ông nhẩm tính. 1 tách cà phê Nhà Thuỷ Tạ 120 ngàn, giá cước cho chuyến đi khá xa này chỉ 19 ngàn. Đắt hơn sáu lần.

Trên xe, ngoài một số hành khách buôn bán, hay vô công rồi nghề như ông, còn có mấy đứa học trò nam, nữ, đi những quãng đường dài ngắn khác nhau, chỉ trả 5 ngàn đồng, rồi xuống xe. Hình như 5 ngàn đồng là giá chung cho học trò, khoảng 20 cents Mỹ. Áo màu xanh đồng phục, cũ, nhăn, nhưng trông cũng gọn gàng. Đặc biệt con gái má hồng tự nhiên, không phấn son. Học trò con nít phấn son cái gì, ông bật cười.

Xe vượt qua những phố xá đông đúc, dần dần đổ dốc. Ông thấy một công xưởng khá lớn bên trái con đường, và nhận ra ngay đó là Garage Martinette, tên cũ. Trước kia, quanh vùng này là những đồi thông cây xanh trùm đến ngọn, những thung lũng cũng trùng điệp thông là thông. Nay khác rồi. Nhiều ngọn đồi thưa thớt cây, nhiều thung lũng toàn trồng rau quả. Nhà kính bao trùm kín nhiều nơi. Rải rác hai bên đường mọc lên những khách sạn, nhà hàng. Ông đọc kịp vài tên: Khách sạn Dalat Nature’s, Nhà hàng Xiên Nướng –Ăn Vặt, Chả Ram Bà Béo.

 

Xe tiếp tục chạy về phía Trại Mát. Ông còn nhớ rằng mãi đến cuối thập niên 1960 qua đầu thập niên 1970, vẫn còn đường xe lửa nối liền Đà Lạt (độ cao trung bình là 1,500 mét) với Tháp Chàm thuộc Phan Rang (đồng bằng). Vì cách biệt của độ cao, đường xe lửa phải qua nhiều con dốc rất ngặt nghèo nên ngay giữa hai đường rầy chạy song song còn có đường rầy thứ ba có răng cưa ăn khớp với răng cưa của toa đầu máy và những toa khác (do người Pháp thực hiện gọi là chemin de fer crémaillère, tiếng Anh: cog-rail). Nhờ thế xe lửa khỏi bị tuột khi xuống dốc, và bám được đường khi lên dốc. Đấy là đoạn đường hỏa xa rất hiếm hoi và quý giá vô cùng chạy qua nhiều đồi, núi, rừng cao nguyên tuyệt đẹp. Hồi nhỏ ngồi trên xe chạy trên con đường này, ông thích nhất khi xe leo dốc quanh co luồn qua những rừng lau sậy, cờ lau quẹt vào thành cửa sổ xe sột soạt, hay bay phất phơ trong gió. Trên thế giới chỉ nước ta và Thụy Sĩ có loại đường xe lửa như thế.

Phải mất 30 năm cực kỳ khó khăn và gian khổ mới hoàn thành con đường sắt ấy với độ dài gần 84 km trong đó đường răng cưa chiếm đến 43 km. Đường răng cưa bên Thụy Sĩ chỉ dài 25 km ở đoạn vượt qua đèo Furka trong rặng núi Alps, và không có nhiều dốc cao bằng đường sắt Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1932, con đường được được sử dụng. Sau 40 năm hoạt động, đến năm 1972, chiến tranh tàn khốc đã phong tỏa con đường. Tiếc thay, sau 1975 khi đã có hòa  bình, vì tầm nhìn ngắn hoặc vì tham nhũng, nhà đương cuộc cho gỡ bỏ con đường sắt đó, lấy tà vẹt, đường rầy dùng để tăng cường cho con đường sắt Thống Nhất, hoặc đem bán hết sạch làm sắt vụn. Các đầu máy hơi nước cổ xưa qúy báu nay không còn được sản xuất nữa và một số toa hạng nhất, thì mang bán cho công ty DFB (Dampfbaln Furka-Bergstrecke),Thuỵ Sĩ, với giá rẻ mạt, 650 nghìn đô-la Mỹ. Thụy Sĩ đã vô cùng hân hoan sử dụng những đầu máy và toa đó để góp phần phục vụ cho ngành du lịch núi Alps bằng Hoả Xa rất được thế giới hâm mộ.

(Theo Nguyễn Bảo Châu: http://trithucvn.net/van-hoa/chuyen-buon-ve-tuyen-dương-sat-rang-cua-huyen-thoai-phan-rang-da-lat-html).

Nay chỉ còn đoạn đường sắt ngắn và ít dốc từ Đà Lạt đến Trại Mát. Lại không có đầu máy hơi nước, buộc lòng phải dùng đầu máy chạy điện kéo mấy toa hạng ba nhỏ và xấu, đưa du khách ít ỏi ngày có ngày không, đi xuống đi lên.

 

Đường qua khỏi Trại Mát bắt đầu dốc nghiêng nhiều, dài và rất quanh co, hiểm trở, khiến xe phải chạy chậm. Vài dấu vết xưa liên quan đến con đường răng cưa huyền thoại xuất hiện đây đó. Đấy là những gì còn sót lại, những kiến trúc hoang tàn, đổ nát, trên đó có những hàng chữ cũ kỹ, hoen ố: Ga Cầu Đất, Hầm Hoả Xa. Mong rằng những dấu xưa đó sẽ không bị  bàn tay con người hủy diệt lần chót. Lại cũng gặp những đoạn đường sương mù dày dặc hầu như quanh năm, thì may mắn thay, trước đấy chừng vài trăm mét, có những bảng chỉ dẫn cắm bên đường: Đi Chậm. Đường Nhiều Sương Mù.

 

Ông tới Trạm Hành thì đã 2 giờ chiều. Chỉ còn một mình ông đến trạm cuối này. Xe đậu tại một khoảng đất trống nhỏ cạnh con đường cái cách quận lỵ không xa lắm. Nhưng muốn đến đó, phải vượt qua một con đường dốc. Thì giờ còn ít ỏi, ông liệu cũng khó cuốc bộ nổi.

“Anh ơi, khi nào trở lại Đà Lạt?”

“Không có ai đi. Chắc phải chờ một vài tiếng nữa,” anh tài xế trả lời.

“Đây tới Cầu Đất bao xa?”

“Khoảng 10 cây số.”

“Gần đây có quán ăn nào không?”

“Có. Chú chịu khó đi bộ ngược lại độ vài cây số thì tới. Quán bên phải.”

Ông vừa đói, vừa thèm một cốc cà phê thật nóng. Xuống xe, theo lời tài xế, ông đi men theo lề bên trái lên dốc. Cái dốc cong queo và thật dài như không bao giờ hết. Đi mới mấy trăm mét đã mệt nhoài. Trời lạnh, và gió, và đói. Gió chạy luồn theo con đèo cao ngút. Đứng nghỉ chân một bên đường, ông nhìn quanh. Mé trái con đường, thung lũng mênh mông, những vườn chè, vườn cà phê, vườn rau. Đây đó những mái ngói đỏ ẩn núp dưới những chòm thông xanh. Có lẽ đó là những dinh thự lớn lao của các “đại gia”, hay trụ sở của chánh quyền. Trong khi đó, phía bên phải con đường, trên những ngọn đồi xơ xác, những gò đất đá khô cằn, rải rác những túp lều tranh xiêu vẹo.

Ông tiếp tục leo dốc. Qua khỏi một khúc quanh, một cái gọi là cái quán nằm cheo leo trên mô đất cao hơn mặt đường độ vài ba mét. Ông mừng rỡ bước vào quán. Mấy trái dừa nằm dưới đất, vài nải chuối, hai ba chai nước ngọt, đặt trên cái chõng tre rệu rạo. Thế thôi.  Ông nghe tiếng nước sôi sùng sục. Đảo mắt tìm, thấy có cái nồi vung đậy kín nằm trên cái lò đất ở một góc quán. Khói bay lên, mùi thịt gà hầm thơm phưng phức. Bụng ông càng cồn cào. Ông gọi chủ quán hai lần. Không có tiếng trả lời. Bước sâu vào. Sau tấm phên mỏng, một người nằm trên ghế bố trùm mền kín đầu.

“Cháo gà đang nấu phải không? Cho tôi một tô.”

“Tui cảm nặng. Thằng rể nấu cháo cho tui. Không bán.”

“Thế có gì ăn không?”

“Có.” Giọng nói thều thào, mệt nhọc. “Có dừa. Tui đau, chặt lấy mà ăn. Để tiền đâu đó cũng được. Mười ngàn một trái.”

Ông ngán ngẩm, rời ngay khỏi quán. Chỉ bước thêm được mấy bước, ông ngồi bệt xuống lề đường. Ngồi khá lâu chờ chiếc xe Trạm Hành lúc nãy mà không thấy. Bỗng một xe gắn máy chạy từ dưới xa lên, ông đứng dậy bước ra giữa đường dang hai tay xin đi quá giang tới Cầu Đất. May cho ông, gặp người tốt bụng.

Ông không còn sức lê lết từ con đường cái vào chợ Cầu Đất gần đấy. Hồi bé, nó thường thắc mắc vì cái tên Cầu Đất. Nó biết cầu sắt, cầu xi-măng, cầu gỗ. Nó có nghe nói cầu tre. Nhưng  cầu đất? Lấy đất làm cầu cũng được hay sao? Nó xin thua. Trong chuyến đi lần này, ông cũng có ý muốn xem thử cái cầu đó ra thế nào, nhưng liệu có còn đủ thì giờ hay không. Thấy vài quán hàng cũng nằm cheo leo trên gò đất cạnh con đường, ông ráng sức leo lên mấy bậc tam cấp bằng đất lồi lõm, đến gần cái sạp, ngồi phịch xuống chiếc ghế gỗ độc nhất của quán. Cái quán này cũng xiêu vẹo, nhưng chắc chắn “sang trọng” hơn cái quán “cháo gà” gần Trạm Hành. Cô chủ quán trẻ tuổi ân cần chào hỏi:

“Thưa bác mua chi?”

“Ở đây bán chi?”

Cô ta khoảng trên 20 tuổi, quần dài đen, áo bà ba trắng, tóc uốn qua quýt, mặt hiền khô, không cao không thấp, có chút da thịt như những gái quê khác, không đẹp không xấu. Đúng ra, đẹp nhiều hơn xấu nhờ cái vẻ thật thà, hồn nhiên. Thay cho câu trả lời, cô đưa mắt quanh cái sạp hàng nhỏ, ông cũng theo đó mà nhìn. Rổ gạo, rổ đậu xanh, trẹt cá khô, mớ khoai luộc phơi khô, hũ muối, hũ đường, mấy chai nước ngọt, và vài món linh tinh khác. Lại có một chai mật ong đặt cạnh mấy chai nước ngọt. Dưới đất, kế bên sạp hàng, là một chùm dừa. Ông nhớ quán vừa rồi cũng có dừa. Ông nghĩ rằng vùng này có trồng dừa chứ không phải chỉ có trà, cà phê, và rau quả. 

“Đây có chi ăn không cô? Có chi uống không?”

“Chỉ có mấy thứ bác thấy đó, chớ không bán đồ ăn. Bác chịu khó vô trong chợ. A mà chợ giờ này dẹp rồi, chỉ đông buổi sáng. Uống thì có, có dừa, và nước ngọt.”

Ông buột miệng:

“Tôi đói bụng quá.”

“Hay là bác uống nước dừa, xong cháu chẻ ra bác lấy muỗng nạo ăn đỡ đói.” Lim dim mắt ngẫm nghĩ. “A mà cháu có nồi khoai lang mới luộc để ăn trưa. Bác ăn nghe. Khoai lang đây cũng ngon. Mà cháu không lấy tiền đâu.”

Ông thấy vui hẳn lên, tạm quên đói, gợi chuyện:

“Cô bán đây lâu chưa?”

“Lâu lắm. Từ nhỏ. Cháu thôi học sớm. Cái hàng này của má, mà trước đó là của bà. Má tự nhiên yếu đi, thỉnh thoảng ra đây ngồi chơi cho đỡ nhớ hàng họ bà con thôi. Cho nên bây giờ cháu là bà chủ rồi đó.” Cô cười vui vẻ. “Nè, cháu đi lấy khoai lang nghe.”

Trong khi cô hàng loay hoay duống nồi khoai từ lò bếp để lên mé sạp, rồi đi lấy hai cái tô, và lấy khăn lau cho sạch, ông quay nhìn lui con đường đèo vừa đi qua. Ông có cảm tưởng như nhìn xuống vực thẳm. Bỗng thấy lòng bùi ngùi.

Có những người nghèo nàn sống bám vào góc phố, vỉa hè, mé chợ, con đường, từ đời này qua đời khác. Thời gian cứ việc trôi mãi không ngừng cùng với dâu biển, thăng trầm. Phần họ, họ vẫn bám trụ tại một nơi nào đó, buôn thúng bán mẹt, hoặc mở quán nước, quán hàng be bé, hoặc sạp may, sạp hớt tóc, sạp sửa giày dép nho nhỏ. Lại có người vốn liếng chỉ là một nồi cháo trắng và mấy hột vịt muối, bán từ nửa đêm cho tới sáng. Ngồi, mệt thì nằm xuống ngủ, tại những ngã tư đường dưới cột đèn, hay tại một góc chợ tối tăm, phục vụ cho những kẻ lỡ độ đường. Ai đến, phải chờ năm ba phút, tô cháo sẽ được hâm lên cho nóng.

Họ sống lê la ngày lại ngày, đơn sơ, mộc mạc, thiếu thốn, và tốt bụng. Dường như cả trăm năm đã qua, những người như cô hàng hôm nay, chú khách rang cà phê ngày xưa vẫn không có gì khác, vẫn sống bên lề mọi biến động của lịch sử, không quan tâm đến thời cuộc, không tranh giành, mưu mô, lừa gạt, chém giết. Họ cam chịu, không than van, không đòi hỏi.

“Bác ơi, ăn với cháu nghe.”

Ông quay lại:

“Cám ơn cô. Thế còn ông già?”

Cô ngơ ngác:

“Bác nói cái chi?”

“Ông già ba của cô ... Ông làm gì?”

“À, à, ba hả. Ba chết khi cháu chưa đẻ.“

“Cô được mấy con?”

Cô hàng đỏ mặt:

“Cháu chưa có chồng.” Nói xong cô cười nhẹ nhàng. “Bác đi đâu mà tới đây một mình vậy hả bác?”

Ông không biết trả lời ra sao, đành bịa chuyện:

“Tôi ở Đà Lạt về đây tìm bà ... bà ...”

“Bà nào? Bác nhớ tên  không?”

“Bà Thu.”

Cô hàng, cặp mắt sáng rỡ, reo lên:

“Ô, bà Thu, cháu biết. Đúng là bà Thu đó rồi. Bả giàu lắm. Giàu nhứt Cầu Đất. Nhà cháu chỉ cách nhà bả có một cái gò cỏ tranh. Mà cả nhà bả đã đi Mỹ hết trọi. Bác có bà con gần gũi, hay thân thiết gì với bà đó không?”

Ông nói đại:

“Thân chớ sao không thân. Thân lắm.”

Cô hàng lại có vẻ băn khoăn. Ông nhủ thầm, cô này thích lim dim mắt ngẫm nghĩ. Bỗng cô nhíu mày nói lẩm bẩm:

“Cháu thật không ngờ ...”

Nói chưa hết câu, cô hàng dừng lại.  Ông thúc giục:

“Cô cứ nói tiếp đi, tôi đang nghe.”

“Dạ, bà Thu trông phúc hậu. Thế mà ... Thôi, cháu không nói nữa.”

Ông làm bộ khẩn khoản:

“Cô cứ nói đi, tôi đang muốn nghe thêm. Vì bà và gia đình tôi thân nhau lắm.” Nói xong ông cảm thấy ngượng. Người ta chân thật, mà mình quen tính, ưa giở trò.

“Thân thì lẽ ra trước khi đi phải báo cho bác biết chớ. Bác ở xa. Già yếu một mình tìm về đây thăm không gặp. Cháu thấy tội bác quá à.”

Ông giở trò thêm, lần này không chủ ý, như ngọn tên bay khỏi cung khi chưa hết đà:

“Thời buổi này khó khăn lắm cô ơi. Bà ấy im lặng đi như trốn như thế mới an toàn. Nói cho tôi biết thì có thể người khác cũng biết. Công an cũng biết. Nguy hiểm lắm.”

Cô hàng trố mắt nhìn ông, ra vẻ cám ơn:

“Trời đất! Bác không nói cháu chẳng hiểu chi cả. Nghĩ sai cho người ta, tội chết. Cháu cám ơn bác lắm.”

Ông làm lơ, nhìn vào nồi khoai đang bốc khói, rồi làm bộ mừng rỡ  hỏi:

“A này, cô cũng có bán mật? Mật thật hay mật giả?”

“Dạ mật làm sao giả được.”

“Tức là mật đặc biệt Đa Tân La?”

Cô hàng ngơ ngác. Ông ngập ngừng hỏi tiếp:

“Tôi muốn biết cô lấy mật ở đâu?”

“Dạ, ong lúc nào cũng làm tổ trên cây.”

 

 12/2020

         

  

Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
Xe đò vừa vào Phan Rang thì kỷ niệm cũng vừa tràn về thốc tháo trong lòng bà, như làn gió nóng của miền Trung nắng cháy đang lùa vào các khung cửa xe một cách hăm hở. Bà gỡ đôi kính mát xuống để nhìn hai bên đường cho rõ hơn. Phan Rang. Con đường Thống Nhất. Bốn mươi năm. Nhưng bà ngạc nhiên vì thấy mình không đến nỗi lạc lõng sau những năm tháng dài như thế. So với nhiều thành phố khác, Phan Rang dường như không thay đổi gì mấy. Rõ ràng là con đường cũng như mấy thập kỷ qua, không được mở rộng ra chút nào. Từng hàng cây cổ thụ dễ đến trăm năm vẫn còn lác đác chạy dài theo hè phố. Nhà cửa có lô nhô nhiều căn cao hơn trước, nhưng chưa đủ để thành phố có một khuôn mặt khác lạ đối với người lữ khách lâu ngày vừa trở lại.
Tiếng khánh réo rắt ngân dài và lan toả trong không gian như những vòng sóng tròn, càng loang xa vòng tròn càng lớn, bao trùm cả đất trời. Âm thanh bay lên tận trời xanh, xuyên thấu vào lòng đất như mũi dùi chọc thủng cả địa ngục A Tỳ. Bọn quỷ đói rùng rùng kéo về hướng phát ra tiếng khánh, chúng đông hơn quân Nguyên, hình thù quái dị, trông gớm ghiếc vô cùng. Cứ thường lệ mỗi buổi chiều, chúng ngóng đợi tiếng khánh để được ăn bữa chiều.
Cũng vì ích kỷ muốn ăn ngon, muốn ăn bổ, nên con người đã tạo cho con virus Corona có cơ hội lây từ thú sang người ở Vũ Hán và chỉ với một thời gian ngắn đại dịch đã bùng phát gần như ở tất cả các quốc gia trên thế giới, hiện nay vẫn còn tiếp diễn chưa chịu dừng lại.
Một trong những cuộc đua Marathon nổi tiếng, và lâu đời nhất thế giới dành cho người tham dự từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp từ khắp các quốc gia là Boston Marathon bị hủy bỏ . Cuộc đua truyền thống dài hơn 26 miles (khoảng 42km) hàng năm chạy qua 8 thành phố của Massachusetts bắt đầu từ năm 1897 chỉ có 15 người tham dự, là một trong 6 cuộc đua Marathon quan trọng nhất thế giới hàng năm. Lần đầu tiên trong 124 năm, sự kiện thể thao hàng năm -có lúc quy tụ đến nửa triệu người quan sát và hơn 38 ngàn vận động viên- bị hủy bỏ trong năm 2020 vì đại dịch cúm Tàu. Ngay cả trong hai thế chiến (1914-1918 và 1939-1945), Boston Marathon vẫn được tổ chức , và là một truyền thống văn hóa cả trăm năm của Bostonians.
Đó là một buổi chiều, lớp tôi được nghỉ môn học giữa giờ vì cô giáo bịnh. Chúng tôi, ba đứa bạn thân và tôi, rủ nhau ra ngoài trường, tản bộ trên vỉa hè quen thuộc có hàng cây rợp mát. Đi dọc theo đường Bà Huyện Thanh Quan, ngắm những căn biệt thự nằm khuất bên trong khoảng sân rộng, bốn đứa chúng tôi hỏi nhau căn nhà nào đẹp, và thích căn nào. Đứa thích nhà trồng nhiều hoa. Đứa thích nhà có cửa sổ bốn phía, v..v... Bỗng dưng tôi nghe có tiếng dương cầm văng vẳng trong gió khi vừa đi qua. Tôi dừng chân trước một biệt thự cổ kính. Âm thanh phát ra từ trên lầu. Tôi ngắm kỹ ngôi nhà và thấy bức tường đá của nó được phủ kín bởi một loại dây leo có lá nhỏ tròn, bò ngộ nghĩnh. Bức tường cao quá nên tôi không thấy gì bên trong, chỉ nhìn qua song cửa sân. Lúc đó tôi sợ bị người ta bắt vì tội nhìn lén nên đứng xớ rớ một lát rồi đi.
Xuyên qua từng áng mây chĩu nặng hơi nước, những tia nắng đìu hiu của một buổi chiều như đang ngập ngừng bên ngoài khung kính của chiếc Boeing đồ sộ – đang bay. Bảo-Trân nghiêng một bên má sát vào mặt kính để nhìn lại phía sau. Dalat đã chìm khuất, chỉ còn những đóm sáng ly ty từ những tòa buildings trên triền núi cao. Từ những triền núi, hơi lạnh toát ra, tạo thành những phiến sương buồn, che khuất những khe núi thâm u rồi bay lang thang trong vùng không gian im vắng để đợi chờ ánh hoàng hôn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.