Hôm nay,  

Mùa Sen Nở

19/08/202110:40:00(Xem: 5349)
Thich Nhu Dien 01
Chùa Khánh Anh do Cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm tạo dựng ở Pháp.

 

 

Người Á Châu không ai là không biết đến hoa Sen. Vì Á Châu chúng ta có khí hậu ấm áp, nhất là những xứ như Ấn Độ, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Lào, Cam Bốt, Việt Nam, Trung Quốc và ngay cả Đại Hàn hay Nhật Bản, hoa Sen vẫn thường nở khoe sắc thắm vào mùa Hè nắng ấm. Sen có nhiều loại và nhiều màu khác nhau, nhưng hai màu chính mà chúng ta thường thấy là hoa Sen màu hồng và hoa Sen màu trắng. Trong Kinh A Di Đà diễn tả về màu sắc của hoa Sen ở thế giới Tây Phương Cực Lạc thì có cả hoa Sen màu xanh tỏa ra ánh sáng xanh, hoa Sen màu vàng tỏa ra ánh sáng vàng nữa; nghĩa là có nhiều màu sắc khác nhau khi hoa được trổ ra nơi cảnh giới giải thoát ấy.

 

Mùa Hè năm nay (2021), ở Âu Châu lúc mưa, lúc nắng, lúc gió, lúc bão và một cơn lụt lịch sử trong mùa Hè nầy cũng đã cuốn trôi đi không biết bao nhiêu tài sản, của cải cũng như sinh mạng của những người dân ở biên giới của các nước Hòa Lan, Bỉ, Đức, Lục Xâm Bảo và Pháp.  Mùa Hè mà lụt lội xảy ra khắp nơi như thế, quả là chuyện bất thường của thiên nhiên, thời tiết. Tuy vậy, nhưng nhịp độ sống và làm việc của con người vẫn phải quay theo chiều của kim đồng hồ, nghĩa là mũi kim luôn luôn chạy tới, chứ không chạy lùi và không dừng nghỉ ở một giây phút nào cả. Thầy trò chúng tôi cũng bị định luật nầy chi phối không phải là ít. Điều nầy có nghĩa là những gì đã được vạch định ra trước đó một năm, nay cũng phải thực hiện, dầu cho Covid 19 vẫn còn hiện hữu đó đây.

 

Chiếc xe thuê 5 chỗ ngồi do Thầy Hạnh Tuệ và Thầy Thông Triêm thay phiên nhau lái. Chúng tôi khởi hành vào ngày thứ Sáu 13 tháng 8 năm 2021 từ Chùa Viên Giác Hannover hướng đến thành phố Nurnberg, thuộc miền Trung Nam nước Đức. Ai đi đâu ngày thứ Sáu mà nhằm ngày 13 dương lịch cũng ngại, nhưng tôi ít quan tâm về việc nầy. Bởi lẽ tháng ngày là của đất trời, vạn vật, còn con người là những chúng sanh được sanh ra nơi chốn nầy, chúng ta phải sống, phải thở; phải hít thở không khí chứ chúng ta đâu có được quyền ngơi nghỉ một giây phút nào đâu mà kiêng với kỵ. Ngay cả khi còn ở Á Châu, tôi cũng không kiêng cử ngày mồng 5, 14 hay ngày 23 âm lịch. Những ngày như thế nhiều người bảo rằng xấu, không tốt, nhưng với tôi thì hầu như không quan tâm đến bao giờ. Nhiều Thầy, Cô cho đệ tử xuất gia cũng xem ngày tháng rất là kỹ lưỡng, nhưng tôi thì không. Nếu phải duyên thì những vị phát tâm xuất gia sẽ đến với mình để làm Thầy trò, Sư đệ. Nếu thiếu duyên, thiếu phước thì dù có xem ngày, xem tuổi, xem giờ có hợp hay không đi nữa, thì việc nầy cũng không quan trọng mấy đối với tôi. Tôi độ cho 45 Tăng và Ni tu học từ hơn 40 năm nay, chỉ cho xuất gia vào ngày Rằm, Mồng Một hay ngày lễ vía Phật, Bồ Tát và hầu như không xem ngày tốt xấu để độ cho người xuất gia nào cả. Thế mà sau hơn 40 năm như thế, số người xuất gia hơn hai phần ba vẫn còn ở lại với cửa Thiền. Đây là một bằng chứng và xin hiểu theo nghĩa tùy duyên là được.

 

Đến chùa Viên Âm tại vùng Nurnberg, nơi Thượng Tọa Thích Hạnh Hòa Trụ Trì và do Phật tử ba vùng Nurnberg, Furth, Erlangen trực tiếp đóng góp tài chánh, tạo mãi một cơ sở tương đối rất khang trang để làm chùa. Ngày xưa ông bà mình thường nói là: “Cải gia vi tự”, nhưng bây giờ thì mua hãng xưởng để làm chùa; nhiều nơi còn mua lại nhà thờ để làm chùa. Vì chính những nơi nầy mới có thể sinh hoạt công cộng cho số đông người được, còn nhà mà mua lại ở trong khu dân cư thì không thể nào sinh hoạt đông đúc được. Chùa Viên Âm cũng nằm trong hoàn cảnh như vậy. Bây giờ chùa đã có Thầy rồi, nên sinh hoạt trở nên nhịp nhàng và mẫu mực hơn xưa rất nhiều. Buổi tối hôm ấy sau khi cơm chiều, chúng tôi ngồi nán lại một chút để thăm hỏi những Phật tử đã đến đón phái đoàn chúng tôi, sau đó ai nấy cũng đều nôn trở về nhà ngủ nghỉ, để sáng mai thức sớm chuẩn bị cho ngày lễ Vu Lan, nhằm ngày thứ Bảy 14 tháng 8 năm 2021.

 

Đúng 10:00 sáng, Phật tử đã tề tựu đông đủ nơi Chánh điện và sau đó là lễ niêm hương bạch Phật. Đặc biệt năm nay Thầy Hạnh Hòa cho làm lễ dâng đèn và dâng hoa theo một nghi thức mới, nhưng cũng không kém phần trang nghiêm và xúc động khi hướng về chư Phật, chư vị Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng và đặc biệt là ơn sinh thành dưỡng dục của Mẹ Cha nhân ngày Vu Lan báo hiếu. Tiếp đến là phần ban Đạo Từ của tôi. Năm nay tôi không nói về Ngài Mục Kiền Liên, mà xoay qua câu chuyện của Ngài Xá Lợi Phất đã độ cho Mẹ mình như thế nào trước khi Ngài viên tịch. Sau khi tụng kinh Vu Lan Bồn và dâng sớ cầu nguyện là lễ cúng vong do Thầy Hạnh Tuệ chủ trì. Tiếp đến là lễ cúng dường Trai Tăng, dâng tứ vật dụng lên hiện tiền Tăng Bảo nhân ngày Vu Lan báo hiếu. Ngôi chùa Viên Âm nầy cũng giống như một đóa Sen đang nở nhụy, mà cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm thường hay mô tả về việc làm Đạo tại những xứ nầy rất khó như người trồng Sen trên tuyết. Thế nhưng Sen ấy đã mọc rồi và tuyết ấy cũng đã phải tan, để nhường chỗ cho những bông hoa giác ngộ khác đang khoe sắc thắm với cảnh vật chung quanh mình.

 

Đúng 14 giờ chiều cùng ngày Thầy trò, Ông cháu chúng tôi rời Viên Âm tự lái xe hướng về biên giới của Pháp, qua ngả Strassbourg để hướng về Paris. Trời chiều hôm đó sao mà đẹp thế! Nắng vàng chiếu tỏa khắp núi đồi, chung quanh hai bên đường đi và xe cộ lưu thông qua lại ít, nên tôi liên tưởng đến những hồ sen của Chùa Phổ Hiền tại Strassbourg, do Ni Trưởng Thích nữ Như Tuấn sáng lập và Ni Sư Như Quang đang Trụ Trì cũng đang nở rộ để đón khách thập phương. Hôm đó vì thời giờ ít quá, nên chúng tôi không dừng xe tại nơi nầy để thăm viếng mà trực chỉ Paris. Tôi lại nhớ đến Chùa Thiện Minh ở Lyon, nơi Hòa Thượng Thích Tánh Thiệt Trụ Trì cũng có một hồ Sen rất đẹp khi Hè sang. Hình như tại Âu Châu nầy chỉ có hồ Sen của Chùa Thiện Minh là lớn nhất và nở nhiều hoa nhất; hồ Sen của chùa Vạn Hạnh tại Nantes, nơi Thượng Tọa Nguyên Lộc Trụ Trì cũng không thua sút mấy. Bởi lẽ Thượng Tọa Thích Nguyên Lộc là người rất khéo tay, biết chăm bón cây cảnh, nên nhìn vào vườn cây của Thượng Tọa là biết đến người có tay trồng cây. Trong khi đó, với tôi thì ngược lại, cây nào vào tay tôi rồi trước sau gì cũng sẽ chết, mặc dù tôi cũng rất thích xem hoa đẹp, nhưng không có tay trồng cây, mà chỉ có tay trồng người.

 

Thich Nhu Dien 02
HT Thích Như Điển (ngồi giữa) và chư Tăng, Ni cùng Phật tử trong Chánh Điện Chùa Khánh Anh ở Pháp.


Chạy xe gần 800 cây số từ Nurnberg sang Paris, Thầy trò chúng tôi đến Chùa Khánh Anh, Évry vào lúc 22:30, khi mọi người đang an giấc điệp để dưỡng sức cho ngày mai. Sau giờ tọa thiền và trì tụng thần chú Thủ Lăng Nghiêm vào sáng hôm sau, chúng tôi có vài lời thăm hỏi Đại Chúng, sau đó xuống Tổ Đường để lễ Tổ. Đúng 10:00 sáng ngày 15 tháng 8 năm 2021 nhằm ngày mùng 7 tháng 7 năm Tân Sửu, Đại lễ Vu Lan chính thức cử hành dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Thích Tánh Thiệt, Đệ nhất Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, cùng với chúng tôi và độ khoảng 30 Tăng Ni, cũng như gần 400 Phật Tử đã về chùa Khánh Anh để tham dự buổi lễ trọng đại nầy. Trong phần Đạo Từ của tôi, ngoài việc tuyên dương công đức của Ngài Xá Lợi Phất đã báo hiếu cho mẹ mình như thế nào, chúng tôi còn nói về dịch bệnh của năm 1820 tại Việt Nam và Á Châu. Do vậy Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh của cụ Nguyễn Du cũng đã được ra đời trong lúc đó.

 

Năm nay chùa Khánh Anh tổ chức đàn tràng chẩn tế cô hồn vào buổi chiều cùng ngày, cũng đã nói lên được tấm lòng từ bi của chư Phật và chư vị Bồ Tát muốn cứu giúp chúng sanh trong sáu đường khổ và cốt sao cho âm được siêu, dương được thái là điều quan trọng. Nghi chẩn tế nầy cũng đã có từ thời Đức Phật. Khi Ngài A Nan nhập định nơi hang cốc tại núi Linh Thứu thường hay gặp quỷ dữ hiện hình và Đức Phật đã đặt tay của mình lên đầu Ngài A Nan nhằm để an tâm cho. Từ đó những đàn tràng chiêu mộ được dựng lên khắp nơi, để cầu cho cõi âm được siêu thoát và cõi dương được lợi lạc. Đặc biệt trai đàn chẩn tế lần này tại Chùa Khánh Anh, chính là để cầu nguyện cho hàng triệu sinh linh trên thế giới đã bị nạn dịch Covid 19 của năm 2020 và năm 2021 cướp đi mạng sống, được thác sanh về thế giới an lành.

 

Buổi lễ cúng dường Trai Tăng trưa hôm đó diễn ra tại Hội Trường của chùa Khánh Anh, do Thượng Tọa Trụ Trì Thích Quảng Đạo tác bạch và tôi đã đáp từ qua câu chuyện hạt Ni Câu Luật (Loại), mà một thời Đức Phật đã thuyết giảng cho người thiện nam nọ chưa hiểu rõ công đức việc bố thí, cúng dường của vợ mình cho chư Tăng lâu nay, và đây là nhân duyên để nam thí chủ kia phát nguyện thọ trì. Từ câu chuyện nầy tôi chuyển sang công đức to lớn của cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm, người đã mang hạt mầm của Sen giác ngộ đi từ Phan Rang đến Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang, rồi Bình Định và đến Nhật Bản năm 1967, để rồi năm 1973 sang Pháp. Kế tiếp năm 1974 hạt Sen ấy được gieo mầm nơi đất Arceuil đầu tiên với tên gọi là Niệm Phật Đường Khánh Anh, và rồi năm 1977 dời về vùng Bagneux ở số 14 đường Henri Barbusse. Tiếp đến vào ngày 19 tháng 2 âm lịch năm 1979, Chánh điện Chùa Khánh Anh tại Bangeux được làm lễ đặt viên đá đầu tiên và đây là tiền thân của Khánh Anh đại tự ngày hôm nay. Vào ngày 18 tháng 6 năm 1995 là ngày lễ đặt đá xây Khánh Anh đại tự, nhưng tôi vắng mặt, vì lẽ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 viếng thăm và thuyết giảng tại Chùa Viên Giác Hannover lần thứ nhất, nên tôi không thể có mặt tại Paris để tham dự buổi lễ trọng đại nầy được.

 

 Chùa Khánh Anh tại Évry trải qua 20 năm xây dựng như thế, đến ngày 16 tháng 8 năm 2015 mới làm lễ Khánh thành chính thức; nghĩa là sau hai năm Tôn Sư Khai Sơn vắng bóng vào ngày 8 tháng 8 năm 2013 tại Turku Phần Lan, lúc khóa Tu Học Phật Pháp Âu Châu kỳ thứ 25 được tổ chức tại đó. Ngày hôm nay chúng ta có mặt tại đây, ngồi nơi giảng đường nầy, không thể nào không nhớ đến ân đức của Tôn Sư đã hy hiến cho Phật Giáo, đã mang hạt Sen nhỏ như hạt Ni Câu Luật (Loại) ấy để gieo mầm khắp Âu Châu và trên thế giới, để ngày nay Sen ấy đã mọc và nở hoa được trên xứ tuyết trời Âu nầy rồi.

 

Trong khi Ban Kinh Sư cùng Hòa Thượng Chứng Minh thăng đàn chẩn tế từ 14:30 đến 19:00 giờ tại Chánh điện, thì phần tôi phải vào phòng Zoom để tham dự buổi hội thoại bằng tiếng Anh, do Ngài Huyền Diệu ở Népal tổ chức cho các học giả, giáo sư cũng như những thương gia người Âu Mỹ tham dự, qua nhiều đề tài khác nhau về hòa bình của thế giới. Phần tôi đảm trách nói về “Nghệ thuật sống”, sống như thế nào cho xứng đáng là một người Phật tử, khi chung quanh chúng ta gặp không biết bao nhiêu là chướng duyên trong cuộc sống hằng ngày. Hôm đó tôi quan sát trên màn hình thấy số người tham dự trên dưới 70 người ở khắp các châu lục, đã đóng góp cho buổi hội luận nầy được thành công viên mãn.

 

Thich Nhu Dien 03
HT Thích Như Điển ngắm hoa sen tại Chùa Khánh Anh.


Sau thời công phu khuya vào sáng ngày 16 tháng 8 năm 2021, Thầy trò, Ông cháu chúng tôi lạy Tổ để chuẩn bị sang thăm Tổ Đình Khánh Anh, nơi Ni Sư Thích Nữ Diệu Trạm đang Trụ Trì, thì được Thượng Tọa Trụ Trì Thích Quảng Đạo và Thầy Thích Chúc Thành mời xuống hồ Sen nơi cổng chùa để xem hai đóa Sen đang nở. Theo lời Thầy Quảng Đạo cho biết thì một hoa Sen đã nở đúng vào ngày 8 tháng 8 vừa qua, nhân lễ húy nhật lần thứ 8 của Sư Ông Minh Tâm và hôm nay chỉ còn lại gương sen mà thôi, và một đóa sen khác nở vào ngày hôm qua 15 tháng 8 năm 2021, là ngày lễ Vu Lan do Chùa Khánh Anh tổ chức. Đây là hai sự kiện mà theo Thầy Quảng Đạo thật là nhiệm mầu. Với tôi cũng nghĩ như vậy thôi, vì lẽ hai duyên sự ấy đâu có dễ trùng hợp như thế, mà ở hồ Sen nầy chỉ nở hai đóa Sen và hai hoa ấy đã nở ra khoe sắc thắm đúng vào hai ngày trọng đại như đã đề cập bên trên.

 

Thầy trò chúng tôi lái xe sang thăm Bagneux, nơi mà Sư Ông Minh Tâm cư ngụ lâu nhất từ năm 1977 đến khi Ngài viên tịch năm 2013, nghĩa là gần 40 năm. Nơi căn phòng nhỏ hẹp, nhưng cũng từ đó pháp âm của Ngài đã vang dội đó đây, để ngày nay ai có nhớ nghĩ về Ngài thì cũng sẽ không quên người trồng sen trên xứ tuyết, như có lần Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng đã viết một bài để ca ngợi Ngài như vậy. Đến và đi tại Tổ Đình nầy từ năm 1977 đến nay 2021, trên dưới 45 năm với tôi, không biết bao nhiêu là kỷ niệm và nhân đó tôi đã kể lại tất cả những mẩu chuyện xưa cũng như ngôi nhà số 14 nầy cho mọi người nghe. Chỉ tiếc là hôm đó không thâu băng để lại, chỉ có những người hiện diện mới nghe được mà thôi.


 Đi quanh vườn chùa chúng tôi cũng thấy một chậu Sen thật lớn, cành lá xanh tươi, nhưng chưa có nụ hoa nào hết. Có lẽ do mới trồng năm đầu tiên và hy vọng năm sau chậu Sen nầy sẽ nở ra nhiều hoa, để không phụ lòng người đã mang hạt giống giác ngộ ấy đến đây từ thuở ban đầu tại xứ Pháp nầy.

Chúng tôi lên Chánh điện lễ Phật và ngồi đó nói năm ba câu chuyện ngày xưa, để người hiện diện nghe biết về công đức của người xưa, đã hy hiến đời mình như thế nào cho việc tuyên dương giáo lý Phật Đà tại quê hương thứ hai nầy.

 

Ni Sư Diệu Trạm, Trụ Trì Tổ Đình Khánh Anh đã trùng tu lại chốn Tổ thật là trang nghiêm, và còn độ được cho nhiều nữ Phật Tử trẻ xuất gia tu học nữa, quả là một công đức không nhỏ. Cô còn có tay trồng Bonsai, chế trà và trồng rau quả nữa. Vườn chùa Khánh Anh cả hai nơi, nếu khách thập phương nào có đi chiêm bái vào dịp mùa Hè, thì sẽ không thiếu những hoa quả tươi từ vườn chùa được hái vào để nấu lên mời khách. Tôi thấy nơi nầy có bụi tre, nơi kia có cây trừ tà, chỗ nọ có mấy cây ổi, giàn khổ qua nặng trĩu trái, rồi giàn bầu, giàn su su v.v…quả thật là một rừng công đức đã được câu hội về đây vậy.

 

Sư Cô Thích Nữ Thanh Nghiêm, người đệ tử xuất gia của cố Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh đang ở tại Phật Học Viện Linh Sơn Paris, đã mang đến cho tôi một số quyển mà tôi còn thiếu trong Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh để được trọn bộ 187 quyển, riêng những quyển từ số 188 đến số 202 sẽ được xuất bản trong năm 2022, chắc chắn phần mình sẽ không thiếu. Tôi chỉ lo không đủ bộ Đại Tạng nầy là một mất mát vô cùng không nhỏ chút nào, và ngày hôm đó tại Tổ Đình Khánh Anh Bagneux, tôi đã được toại nguyện. Xin thành kính niệm ân cố Hòa Thượng Thích Tịnh Hạnh rất nhiều và cảm ơn Sư Cô Thanh Nghiêm một lần nữa về việc chu đáo nầy. Ngoài ra Thượng Tọa Thích Minh Định, Trụ Trì Chùa Kim Quang cũng đã gửi tặng Chùa Viên Giác tại Hannover mấy bức hình Tây Phương Tam Thánh rất là tuyệt mỹ, khi có khóa huân tu Tịnh Độ, quý Thầy tại Tổ Đình Viên Giác Hannover sẽ treo lên để quý Phật Tử lễ bái nguyện cầu.

 

Đúng 13:00 trưa ngày 16 tháng 8 năm 2021, xe chở chúng tôi cùng kinh sách, hình tượng Phật, lăn bánh rời xa từ từ kinh thành Paris sáng mãi về đêm và nhộn nhịp suốt ngày, nhưng ở đó đã có những tâm hồn hướng thượng, đang ngưỡng vọng về những bậc Tôn Sư của mình đã khuất bóng về Tây, họ đã gầy dựng được những đóa sen non tươi mát cho đời và cho Đạo như thế nầy, thì mãi mãi về sau hạt giống giác ngộ giải thoát ấy, sẽ còn lan xa mãi đến tận muôn nơi.

 

Đúng 22:00 ngày 16 tháng 8 năm 2021 Thầy trò, Ông cháu chúng tôi đã an toàn sau khi chạy hơn 800 cây số trở về lại Đức Quốc, để ngày hôm sau, khi thức dậy tụng kinh xong, ra vườn ngắm cảnh thì tại đây hai đóa sen cũng đang trồi lên khỏi mặt nước rất cao, đang chuẩn bị khoe sắc thắm khi mùa Vu Lan sắp đến vào cuối tuần nầy.

 

Sen đã nở và hương không thơm ngào ngạt như ở quê mình, nhưng tâm giác ngộ của người Phật Tử với người trồng sen mới là điều quan trọng, và bây giờ sau hơn 45 năm Sen ấy đã nở, đang nở và sẽ nở vào mùa Hè và khi Đông sang, Sen vẫn nở, nhưng ở nơi lòng của mọi người. Bởi lẽ Sen ấy đã có cội rễ mọc vào tâm thức của mọi người một cách vững chắc rồi. Tất cả đều hồi hướng đến cố Hòa Thượng Thích Minh Tâm và những ai đã mang được hạt giống giác ngộ ấy cấy vào nơi mảnh đất thiêng ở trời Tây nầy, chúng ta đều phải cúi đầu đảnh lễ.

 

Viết xong vào lúc 18:00 ngày 18 tháng 8 năm 2021 tại thư phòng của Tổ Đình Viên Giác Hannover, Đức Quốc.

 

 

Sửa lỗi chính tả: Phật Tử Thanh Phi

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.