Hôm nay,  

Tôi Đi Bầu

03/11/202607:06:00(Xem: 512)

Sáng hôm nay, vợ chồng chúng tôi rủ nhau đi nhà thờ trước. Đó là bổn phận thiêng liêng mà chúng tôi vẫn gìn giữ từ bao năm, nhất là ngày lễ trọng hôm nay dành để cầu nguyện cho linh hồn những người thân yêu đã khuất. Tôi cầu nguyện cho các đấng sinh thành của mình, cho những người quen ra đi gần đây – trong đó có anh Phạm Châu Nam, bạn Nguyễn Tường Thụy… Và cho linh hồn Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm cùng linh hồn 2 bào đệ của ông. Sau Thánh lễ, chúng tôi sẽ đi làm một bổn phận khác: bổn phận của người công dân.

Bầu trời mùa Thu thật đẹp. Trời cao, trong vắt, nắng ban mai dịu dàng và không khí ấm áp như muốn giữ chân người ta lại trên những con đường quen thuộc. Con đường vợ chồng tôi hầu như sáng nào cũng lái xe đến nhà thờ giáo xứ Saint Kilian dường như mang thêm một ý nghĩa đặc biệt. Trong lòng chúng tôi rộn lên một niềm háo hức khó diễn tả, bởi sau khi hoàn tất bổn phận với đức tin, chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện quyền và trách nhiệm của mình đối với đất nước đang cưu mang cuộc sống của gia đình mình. 

Năm nay, chúng tôi chọn bỏ phiếu tại Trung tâm Cộng Đồng và Cao Niên Norman P. Murray của thành phố Mission Viejo, cách nhà thờ không bao xa. Trước khi rời nhà, tôi khoác bên ngoài chiếc áo Saut của binh chủng Nhảy Dù và đội chiếc mũ beret đỏ. Đó là thói quen tôi vẫn giữ mỗi mùa bầu cử. Với tôi, bộ quân phục ấy không chỉ là kỷ niệm của một thời trai trẻ mà còn như một lời nhắc nhở. Nó gợi lên một thứ "battlefield cry" của riêng mình, thúc giục tôi phải tỉnh táo, cẩn trọng khi chọn lựa, phải cân nhắc thật kỹ để bầu đúng người và nhận định đúng những kiến nghị mà mình nghĩ là hợp lý cho tương lai của cộng đồng.

 

Norman P Murray
Ảnh tác giả chụp.


 

Từ bãi đậu xe bước vào phòng phiếu, vợ tôi nhẹ nhàng nắm lấy tay tôi dẫn đi. Những luống hoa đầy màu sắc nằm hai bên đường làm bước chân chúng tôi gỏ nhịp trong bình an. Bất chợt, hình ảnh ấy làm tôi nhớ đến bài văn "Tôi Đi Học" mà hầu như ai trong cùng thế hệ cũng từng thuộc lòng khi thuở nhỏ. Quả thật, buổi sáng hôm nay cũng mang một nét gì rất giống. Trời trong xanh lạ thường, nhưng không một cơn gió lạnh, nắng Thu dịu dàng trải trên lối đi, và lòng người như được nâng lên bởi một niềm hy vọng bình an. Trong lòng chúng tôi đang dâng lên một cảm xúc đẹp đẽ: cảm xúc của những công dân trong một đất nước tự do, nơi mỗi lá phiếu tuy nhỏ bé nhưng vẫn mang trong đó một phần trách nhiệm và tiếng nói của mình đối với xã hội và tương lai của tiểu bang, của đất nước đã và đang cho chúng tôi một quê hương để sống, để yêu thương và để hy vọng.

Đến phòng phiếu còn hơi sớm, hai đứa rủ nhau ra ngồi ở khu vườn bên hông trung tâm, nhìn buổi sáng mùa Thu đang lên. Những luống hoa được chăm sóc cẩn thận, những hàng cây nhuộm màu vàng nhạt của mùa gần cuối năm và vài chiếc lá khô lặng lẽ rơi trên lối đi. Không khí thanh bình đến độ người ta có cảm giác như thời gian đang chậm lại.

Chúng tôi ngồi đó mươi phút để tận hưởng không khí trong lành trước khi bước vào phòng phiếu. Có những cụ ông, cụ bà chống gậy chậm rãi bước đến phòng phiếu. Dù tuổi tác đã cao, họ vẫn cố gắng thực hiện quyền công dân của mình. Chỉ riêng hình ảnh ấy cũng đủ nói lên giá trị của lá phiếu trong một xã hội tự do.

Chúng tôi là một trong những người đầu tiên bước vào phòng phiếu. Do địa điểm bỏ phiếu được đặt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Người Cao Niên Norman P. Murray, mọi việc đều được tổ chức rất chu đáo. Các thiện nguyện viên hướng dẫn từng người một cách ân cần và kiên nhẫn. Không ai tỏ vẻ vội vàng. Ai cần giải thích điều gì đều được giải thích cặn kẽ.

Chúng tôi đã dành thời gian nghiên cứu lá phiếu từ tuần trước. Tôi luôn nghĩ rằng quyền bầu cử chỉ thật sự có ý nghĩa khi người cử tri chịu khó tìm hiểu trước khi quyết định. Vì thế, khi cầm lá phiếu trên tay, tôi không thấy băn khoăn nhiều nữa. Mỗi chọn lựa đều đã được cân nhắc dựa trên lương tâm, kinh nghiệm sống và những điều mà tôi cho là có thích hơp cho cộng đồng thị xã và cho tiểu bang.

Có những vị trí tôi bỏ phiếu thuận vì tin rằng người đó xứng đáng phục vụ công chúng. Có những vị trí tôi bỏ phiếu chống vì không đồng ý với cách làm việc hay quan điểm của họ. Đối với nhiều kiến nghị liên quan đến việc gia tăng chi tiêu hoặc tăng gánh nặng tài chính cho người dân, tôi cũng chọn "Không". Theo suy nghĩ riêng cá nhân, trước khi yêu cầu người dân đóng góp thêm, chính quyền trước hết cần chứng tỏ tinh thần tiết kiệm, biết sử dụng hiệu quả những nguồn lực đang có và sẵn sàng chia sẻ trách nhiệm với người đóng thuế.

Dĩ nhiên, mỗi người có thể có những nhận định khác nhau. Đó chính là nét đẹp của nền dân chủ. Nhưng vào giây phút đánh dấu ô lựa chọn của mình, tôi cảm thấy thanh thản vì biết rằng lá phiếu ấy phản ánh những điều tôi thực sự tin tưởng. Nó không thể là sự lựa chọn vu vơ, bất cẩn, mà từ kết quả của suy nghĩ và cân nhắc từ trước.


Khi bỏ lá phiếu gồm 2 tờ giấy dài với bốn mặt vào máy scan, tôi bỗng nhớ rằng biết bao người trên thế giới vẫn còn phải đấu tranh để có được quyền mà chúng tôi đang thực hiện hôm nay. Một lá phiếu có thể rất nhỏ bé, nhưng hàng triệu lá phiếu nhỏ bé hợp lại sẽ quyết định hướng đi của một thị xã, một tiểu bang và đôi khi là cả vận mệnh của một quốc gia. Và tôi hãnh diện nhận một tấm giấy nhỏ “I VOTED” dán lên bên phải của áo Saut.

đi bầu
Ông Bà Vĩnh Chánh đi bầu ngày 3 tháng 11, 2026.


Trước khi rời phòng phiếu, chúng tôi nhờ một nhân viên đứng gần cửa chụp giúp một tấm hình kỷ niệm. Trong tấm ảnh ấy, hai mái đầu đã bạc đứng cạnh nhau, nở một nụ cười nhẹ nhõm. Vậy là chúng tôi đã hoàn tất bổn phận công dân trong mùa bầu cử năm nay.

Kết quả rồi sẽ ra sao, ai đắc cử, đảng nào thắng thế, đó là điều thời gian sẽ trả lời. Riêng tôi chỉ mong rằng, dưới bất cứ khuynh hướng chính trị nào, dưới bất cứ đảng phái hay vị tổng thống nào, nước Mỹ vẫn giữ được vẻ đẹp của một quốc gia tự do, vẫn hùng cường, vẫn biết chăm lo cho người dân và vẫn là một đất nước được thế giới kính trọng.

Từ khu vực phòng phiếu, vợ chồng tôi ghé vào văn phòng của trung tâm để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt dành cho người cao niên. Các nhân viên vui vẻ giới thiệu cho chúng tôi những chương trình đang được tổ chức, đặc biệt là các bữa ăn trưa theo lịch mỗi tháng. Chúng tôi lấy tài liệu mang về và quyết định trong một tương lai không xa, hai đứa sẽ bắt đầu tham gia những bữa ăn trưa phục vụ cho người cao niên tại trung tâm - như một phần của đời sống mới đang mở ra trước mắt.

Tuổi già đến, sẽ không còn những tất bật như thời còn trẻ trung, nhưng vẫn sẽ có những niềm vui mới, những sinh hoạt mới để khám phá, những người bạn cao niên mới để gặp gỡ và chia sẻ. Buổi sáng đi bầu hôm nay vô tình mang lại cho chúng tôi thêm một cánh cửa mới cho quãng đời phía trước.

Lòng chúng tôi bỗng thấy nhẹ và vui vì đã làm xong bổn phận công dân của mình. Đồng thời, chúng tôi cũng tìm thấy một nơi có thể sẽ gắn bó với cuộc sống của hai vợ chồng trong những năm tháng trước mặt. Tôi thầm biết ơn cuộc đời. Biết ơn vì vẫn còn có người bạn đời của mình cùng nắm tay nhau đi lễ, đi bầu, đi chợ, đi vui chơi đây đó. Và bây giờ lại đi tìm hiểu những sinh hoạt mới và tiếp tục sánh bước bên nhau trên đoạn đường còn lại của cuộc sống.

Chúng tôi vừa làm xong bổn phận tinh thần và công dân của mình, mang theo niềm hy vọng đơn giản rằng ngày mai vẫn sẽ là một ngày tốt đẹp cho gia đình, cho cộng đồng và cho đất nước mà chúng tôi đang gọi là quê hương. 

 

Trước khi rời phòng phiếu, chúng tôi nhờ một nhân viên đứng gần cửa chụp giúp một tấm hình kỷ niệm. Trong tấm ảnh ấy, hai mái đầu đã bạc đứng cạnh nhau, nở một nụ cười nhẹ nhõm. Vậy là chúng tôi đã hoàn tất bổn phận công dân trong mùa bầu cử năm nay.

Kết quả rồi sẽ ra sao, ai đắc cử, đảng nào thắng thế, đó là điều thời gian sẽ trả lời. Riêng tôi chỉ mong rằng, dưới bất cứ khuynh hướng chính trị nào, dưới bất cứ đảng phái hay vị tổng thống nào, nước Mỹ vẫn giữ được vẻ đẹp của một quốc gia tự do, vẫn hùng cường, vẫn biết chăm lo cho người dân và vẫn là một đất nước được thế giới kính trọng.

Từ khu vực phòng phiếu, vợ chồng tôi ghé vào văn phòng của trung tâm để tìm hiểu thêm về các sinh hoạt dành cho người cao niên. Các nhân viên vui vẻ giới thiệu cho chúng tôi những chương trình đang được tổ chức, đặc biệt là các bữa ăn trưa theo lịch mỗi tháng. Chúng tôi lấy tài liệu mang về và quyết định trong một tương lai không xa, hai đứa sẽ bắt đầu tham gia những bữa ăn trưa phục vụ cho người cao niên tại trung tâm - như một phần của đời sống mới đang mở ra trước mắt.

Tuổi già đến, sẽ không còn những tất bật như thời còn trẻ trung, nhưng vẫn sẽ có những niềm vui mới, những sinh hoạt mới để khám phá, những người bạn cao niên mới để gặp gỡ và chia sẻ. Buổi sáng đi bầu hôm nay vô tình mang lại cho chúng tôi thêm một cánh cửa mới cho quãng đời phía trước.

Lòng chúng tôi bỗng thấy nhẹ và vui vì đã làm xong bổn phận công dân của mình. Đồng thời, chúng tôi cũng tìm thấy một nơi có thể sẽ gắn bó với cuộc sống của hai vợ chồng trong những năm tháng trước mặt. Tôi thầm biết ơn cuộc đời. Biết ơn vì vẫn còn có người bạn đời của mình cùng nắm tay nhau đi lễ, đi bầu, đi chợ, đi vui chơi đây đó. Và bây giờ lại đi tìm hiểu những sinh hoạt mới và tiếp tục sánh bước bên nhau trên đoạn đường còn lại của cuộc sống.

Chúng tôi vừa làm xong bổn phận tinh thần và công dân của mình, mang theo niềm hy vọng đơn giản rằng ngày mai vẫn sẽ là một ngày tốt đẹp cho gia đình, cho cộng đồng và cho đất nước mà chúng tôi đang gọi là quê hương.

Vĩnh Chánh

Nhân ngày bầu tháng 11, năm 2026

 

 

 

 

 

 

Sự nhận thức không đến khi chúng tôi còn đang đắm mình trong một thế giới đẹp đẽ, yên ả, giữa ba bức tường của một resort xa hoa, ba bức tường bao bọc quanh hồ bơi dài, xanh ngắt màu ngọc bích, với dòng nước như suối ghềnh trôi chảy tự nhiên, mở toang ra bao la trước mặt; vô tận biển nối hồ xanh, vô tận rượu ngon và ẩm thực tinh vi. Nó – sự nhận thức ấy – kiên nhẫn đợi giờ ly biệt. Khoảnh khắc ấy bắt đầu khi chúng tôi bước lên chuyến xe buýt rời xa dải duyên hải biệt lập, quay lưng lại với hồ bơi ngọc bích để hướng mũi xe về phía phi trường xa xôi. Những bức tường bóng bẩy của dãy resort lần lượt lùi lại phía sau. Mặt đường láng mịn của xa lộ trải dài trước mắt, trong khi khung cảnh hai bên đường dần biến chuyển, phơi bày một thực tại từ chối tiếp tục giấu mình. Qua khung cửa kính trên cao của xe buýt, lớp vỏ bọc mỏng manh của thiên đường hoàn toàn vỡ vụn, nhường chỗ cho vẻ trần trụi, bụi bặm của các khu xóm lao động bình dân.
Sau mấy tháng hè, hôm nay cô Thúy chào đón học trò lớp Rồng Bay trở lại trường Việt Ngữ Suối Mở. Cô giáo mời học trò kể lại những sinh hoạt trong những ngày nghỉ hè và viết lá thư trong ngày khai trường như lời cảm ơn đến cha mẹ, gia đình. Lớp Rồng Bay rộn ràng kể chuyện. Học trò được cùng ba mẹ, anh, chị, em đi chơi đó đây trong kỳ nghỉ hè. Vài trò theo ba mẹ về Á Châu như Việt Nam, Thái Lan, Đại Hàn. Vài trò khác đi Ý, Hòa Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ, Thụy Sĩ. Nhân tiện học trò kể chuyện về thăm ông bà nội ngoại ở Việt Nam, cô giáo hướng dẫn cả lớp ôn lại cách gọi họ hàng. Tiếng Đức chỉ đơn giản Onkel và Tante. Còn tiếng Việt, anh, chị, em của cha được gọi khác với anh, chị, em của mẹ. Sau mấy câu hỏi, đáp, học trò phân biệt rành rẽ họ hàng nội, ngoại: cô, chú, bác, dì, cậu...
Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.