Hôm nay,  

Rượu Dưới Trăng

08/12/202107:38:00(Xem: 4755)

Inline-moonshine-spirits-liquor-Kings-County
Moonshine:Rượu dưới trăng?

 

Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, ở Mỹ nổi lên phong trào chống nạn rượu chè, do phụ nữ và các nhà thờ dẫn đầu. Năm 1838, Massachusetts ra luật cấm bán rượu lẻ dưới 15 gallon. Tuy luật này về sau bị huỷ bỏ, nhưng một số tiểu bang khác nối gót Massachusetts và ra luật riêng của mình. Như năm 1846 Maine trở thành tiểu bang đầu tiên ban hành đạo luật cấm bán rượu trong tiểu bang. Lúc Nội Chiến bùng nổ năm 1861, một số lớn các tiểu bang đã ra luật cấm rượu dù liên bang vẫn chưa cấm.

 

Sang đầu thế kỷ 20, nước Mỹ phát triển ào ạt theo đà công nghiệp hoá và kỹ nghệ hoá. Tại những thành phố lớn, nông dân từ các vùng xa kéo về kiếm việc, chẳng khác gì mấy Sài Gòn – Bình Dương thời nay. Tệ đoan xã hội như rượu chè bài bạc ngày càng tăng. Phong trào chống rượu lớn mạnh theo. Một hiệp hội mang tên Anti-Saloon League gọi các quán nhậu saloon là chốn đồi truỵ, và thúc đẩy các nhà lập pháp cấm rượu. Hầu hết các cơ xưởng cũng ủng hộ vì muốn giảm thiểu rủi ro và tai nạn, đồng thời gia tăng năng suất và giờ làm việc của công nhân.

 

Năm 1917, Hoa Kỳ nhảy vào Đệ Nhất Thế Chiến, cả nước phải thắt lưng buộc bụng. Tổng thống Woodrow Wilson ra lệnh tạm cấm buôn bán rượu, viện cớ ngũ cốc cần để dành để chế biến thực phẩm. Nhân cơ hội này Quốc Hội đề nghị Tu Chính Án thứ 18, dự tính trong vòng bảy năm sẽ sửa Hiến Pháp và cấm bán rượu trên toàn quốc. Nhưng chỉ mất 11 tháng là đề nghị này đã hội đủ ba phần tư số tiểu bang đồng thuận. Thế là vào tháng Giêng năm 1919 Hiến Pháp Hoa Kỳ chính thức cấm rượu trên toàn quốc, mở đầu cho một thời kỳ u ám gọi là Prohibition (Cấm đoán).

 

Trong vòng một năm, các hãng rượu cũng như các quán bar đều phải dẹp tiệm. Thật là một chiến thắng tuyệt vời cho phe chống rượu — ít ra là trên mặt giấy tờ. Nhưng trên thực tế, việc thi hành các đạo luật được Quốc Hội ban hành dựa trên TCA18 không đơn giản chút nào. Bởi vì sao? Vì con người từ ngàn xưa bao giờ cũng nghĩ ra đủ cách để lách luật, nhất là khi đụng đến rượu. Thế là một kỹ nghệ rượu lậu, tiếng lóng gọi là “bootleg”, ra đời. Những người vận chuyển rượu lậu, gọi là “runner”, làm rất nhiều tiền. Các quán saloon kiểu mới mọc lên, đó là những căn phòng kín tại những địa điểm bí mật, gọi là “speakeasy” (nói nhỏ), nơi khách có thể uống rượu lậu một cách kín đáo.

 

Gọi là kín đáo cho vui, chứ thật ra những chỗ đó trước sau gì cũng bị cảnh sát phát hiện. Thế là một đường dây hối lộ đút lót thành hình, lắm khi dính dáng đến quan toà. Tuy nhiên điều đáng nói, và đáng sợ hơn cả, là từ khi rượu bị cấm, các băng đảng xã hội đen nổi lên ào ào. Chữ gangster ra đời, tiếng Việt ta gọi là găng-tơ. Chúng tranh giành mối, chúng bảo kê các quán rượu, và dĩ nhiên chúng có súng. Các vụ bắn giết diễn ra như cơm bữa. Thế là tệ nạn rượu chè được thay thế bằng những tệ nạn còn … tệ hơn. Đã vậy, giá rượu (lậu) cứ tăng dần khiến người bình dân càng thêm bất mãn. Tình hình trở nên bi đát thêm nữa khi nước Mỹ rơi vào cuộc Đại Khủng Hoảng kinh tế vào thập niên 1930.

 

Mùa tranh cử tổng thống năm 1932, ứng cử viên Franklin D. Roosevelt hứa hẹn nếu đắc cử ông sẽ bãi bỏ Tu Chính Án 18. Đối thủ của ông, đương kim tổng thống Herbert Hoover, thua thê thảm. Tháng Hai năm 1933, ngay sau khi FDR vừa nhậm chức, Quốc Hội liền đề xuất Tu Chính Án 21 với mục đích bãi bỏ TCA18. Chỉ trong vòng sáu tháng TCA21 đã kiếm đủ ba phần tư số tiểu bang chấp thuận. Ngày 5/12 năm 1933, nghị viện tiểu bang Utah biểu quyết thông qua TCA21, chấm dứt các luật liên bang cấm bán rượu trên nước Mỹ. Một số tiểu bang vẫn ngoan cố giữ lại vài đạo luật cấm cản, nhưng đến năm 1966 thì việc cấm nấu rượu ở Mỹ coi như hoàn toàn biến mất.

 

Tuy nhiên phép vua vẫn thua lệ làng. Chẳng hạn như ở Texas, sang thế kỷ 21 rồi mà một vài thành phố vẫn tiếp tục không cho bán rượu; cư dân ở đó muốn mua rượu phải lái xe sang các thành phố lân cận. Người viết từng sống tại những nơi như vậy nên khá rành. Mỗi khi nhà có tiệc tùng là trước đó phải lái xe khoảng 30 dặm để mua rượu bia chất sẵn. Các tiệm rượu mọc lên như nấm ngoài bìa ranh giới thành phố. Nhưng dần dà hội đồng thành phố cũng khôn ra vì thấy có cấm cũng chẳng ăn thua gì mà lại mất một nguồn lợi tức đáng kể. Thế là cách đây vài năm họ đổi luật, cho phép bán bia rượu như mọi nơi; thành phố có thêm thu nhập, người dân không phải đi xa. Thật hợp tình hợp lý.

 

Nói đến đây chợt nghĩ tới Việt Nam. Dân Nam Kỳ chắc nhiều người biết chữ rượu đế có nguồn gốc là rượu lậu. Đầu thập niên 1860, sau khi Pháp chiếm được miền Nam, họ không những không ngăn cấm mà còn khuyến khích dân ta nấu và bán rượu để họ thu thuế. Nhưng một khi người Pháp xây được lò rượu Bình Tây thì chúng trở mặt, ra luật cấm dân ta nấu rượu hòng chúng có thể độc quyền. Thậm chí chúng còn có luật bắt các quận huyện mỗi tháng phải mua một số lượng rượu nhất định do công ty nhà nước nấu — dân ta gọi là rượu ty.

 

Nhưng luật thì mặc luật, người dân vẫn lén nấu rượu riêng vì rượu ty không đủ để cung cấp mà cũng không thơm ngon hạp khẩu bằng rượu ta nấu. Để tránh bị ruồng bố, người dân nấu hoặc giấu rượu trong các vùng có cỏ đế cao hơn đầu che quanh, còn gọi là trảng đế. Thế là từ đó tiếng Việt có thêm chữ rượu đế để ám chỉ loại rượu trốn thuế này. Ngoài Bắc tình hình cũng không khá hơn bao nhiêu. Dân Bắc Kỳ thì gọi rượu lậu nấu theo kiểu đi ngang về tắt này là rượu ngang, hay còn gọi là cuốc lủi để ám chỉ cảnh nấu chui nấu lủi; rượu nhà nước thì gọi là rượu quốc doanh.

 

Ngày nay chữ rượu đế đã trở thành danh từ chung dùng để gọi loại rượu trắng cất theo kiểu dân gian ở miền Nam. Ở Mỹ vào thời Prohibition cũng có một từ tương tự như rượu đế, đó là rượu ‘moonshine’, gọi tắt của chữ ‘moonshine whiskey’ — tức rượu whiskey nấu ban đêm dưới ánh trăng (để không bị phát hiện).

 

Gần đây, ở Texas có hai nhà khởi nghiệp người Việt mới mở một lò rượu đế tên SuTi. Trong một chương trình phỏng vấn trên đài ABC địa phương vừa thắng giải Emmy, anh chủ lò cũng gọi rượu đế là một dạng ‘moonshine’. Tất nhiên SuTi không nấu rượu dưới trăng mà cũng chẳng giấu rượu trong trảng đế như xưa nữa, nhưng phải … nộp thuế đầy đủ. Và theo lời kể của SuTi thì chính vì một số luật lệ khắt khe từ thời Prohibition còn sót lại mà họ không thể ship rượu đế Ông Già, cho nên ai muốn mua phải đến tận lò mới mua được.

 



Hôm nọ có dẫn một nhà báo kỳ cựu ở Sài Gòn đến thăm SuTi. Ảnh kể ngày xưa ảnh cũng từng lặn lội sâu vô vùng Gò Đen kiếm rượu đế đúng điệu để uống mà viết bài — “không phải cái thứ Gò Đen dân chúng pha lại bán ở các quán bên đường,” ảnh giải thích. Tợp xong miếng rượu đế Ông Già, nhà báo Nam Kỳ nhà ta khà một tiếng: “Được!”

 

Chợt nhớ câu ca dao:

Ngó lên trảng đế chòm tranh

Em không bỏ mẹ theo anh đâu mà mừng!

 

– Ian Bui (Dallas)

 
Phụ lục hình ảnh:

H01Thiên hạ uống mừng ngày chấm dứt luật cấm rượu. Nguồn: Internet.

H002Rượu bị đổ xuống cống ở New York City sau khi luật cấm rượu ra đời. Nguồn: Internet.

H02Người đàn ông gõ cửa quán nhậu bí mật “speakeasy” thời Prohibition. Nguồn: Internet.

H03
Dân chúng xuống đường đòi quyền uống. Nguồn: Internet.

 

 H04

Khách từ Houston (trái) lặn lội đến SuTi mua rượu đế Ông Già. Ảnh: DC.

  

H05

Nữ nghệ sĩ Kiều Chinh cùng hai nhà khởi nghiệp rượu đế Suti Suý Đinh (trái) và Tiến Ngô (phải). Ảnh: Mark LG.

Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
Có lẽ những rộn ràng, hân hoan nhất trong năm không phải là "ba ngày tết", mà là những ngày cận tết. Bắt đầu vào ngày 23 tháng chạp, tối đưa ông Táo về trời. Tất cả mọi sinh hoạt đều hướng về việc chuẩn bị để đón một mùa xuân mới, chào đón nguyên đán và mấy ngày xuân trước mặt. Lúc nhỏ là mùi vải thơm của bộ đồ mới, mùi gạo nếp ngâm cho nồi bánh và hương thơm ngào ngạt cho sàng phơi mứt dừa, mứt bí, mứt gừng ngoài sân. Những đêm ngủ gà ngủ gật ngồi canh bên nồi bánh tét cùng với má, với gia đình xúm quanh. Mùi bếp lửa, mùi khói hương, mùi áo mới lan tỏa của tuổi thơ ngan ngát những ngày xa...
Người ta được nuôi lớn không chỉ bằng thức ăn, mà còn ở lời ru, tiếng hát, và những câu chuyện kể. Chú bé cháu của bà thích được bà ôm vác, gối đầu lên vai bà. Có khi bà mở nhạc từ chiếc nôi cho chú nghe thay cho lời hát, chiếc nôi chú bé đã nằm khi mới lọt lòng mẹ. Có khi bà hát. Bà không ru à ơi, nhưng âm điệu dân gian len vào trong từng lời hát. Chú bé mãi rồi ghiền nghe giọng hát của bà.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.