Hôm nay,  

Bên dưới cánh đồng

12/06/202218:10:00(Xem: 3335)
Truyện ngắn nước ngoài

Wind

 


Chúng tôi thường đến chơi bên đường ray xe lửa. Phải mất khoảng hai mươi phút từ làng để đến đó, và bên dưới cánh đồng rộng lớn Prade là một sườn đồi dốc thẳng phủ đầy cây cọ chạy dài xuống đường xe lửa. Và ngay đó, một mỏm đá hơi nhô ra tạo thành một hốc không sâu, có thể che nắng mưa cho người đến trú, và bọn trẻ chơi đùa vào mùa hè như chúng tôi có thể té ngã trên nền cát ấm êm bên dưới mặt đất mà không bị trầy xước.

 

Tất nhiên, nói đến tàu lửa là rất nguy hiểm, nhưng chúng tôi đã quen đi dọc theo đường ray một cách rành rọt. Đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước. Mỗi khi xe lửa sắp đến gần, chúng tôi có thể nghe thấy tiếng "chu chu" từ xa để nhanh chóng nép tránh qua một bên. Đôi khi, vào mùa hè quá khô hạn, bụi than cháy dở phụt ra từ ống khói đầu máy xe lửa có thể làm cháy những bụi cây nhỏ ở rìa đường ray, nhưng điều đó chưa bao giờ xảy ra trước đây ở vùng Prade. Tuy nhiên, khu vực này rất dốc, nếu đi đường vòng thì rất lâu. Vì vậy, chúng tôi thường đi đường tắt, men theo đường ray xe lửa.

 

Chiều hôm đó, như mọi ngày vào mùa hè, sau khi ăn trưa ở nhà bà tôi, tôi đi quanh làng để tìm bọn nhóc bạn tôi. Một đợt hạn hán bất thường đã ập đến Causses[1] trong ba tuần. Đứa thì cùng cha đi lấp bể chứa nước ở đài phun nước bên dưới, đứa thì đang sửa xe gắn máy của mình. Người dân Lyon đã bỏ nhà đi ra ngoài hết. Còn tôi thì quyết định đi chơi dưới vùng Prade.

 

Tôi đã gặp Gabriel ở đó. Cu cậu này, tôi với nó không hạp nhau mấy. Nếu như chơi chung một bọn với những đứa khác, thì cũng gọi là tạm được. Rồi lại còn một lý do nữa. Nó đang đi học tại một trường trung học nông nghiệp. Nó là người lớn tuổi nhất trong chúng tôi. Hôm trước, nó lấy chiếc mũ lưỡi trai màu đỏ của tôi đã làm cho tôi tức điên lên. Nó không cần biết là tôi cần phải đội mũ, nếu không có mũ thì tôi sẽ rất nhức đầu vì cái nắng oi bức. Nhưng chúng nó đã lấy cái mũ của tôi và chuyền cho nhau, rồi Gabriel còn ném nó lên cho vướng vào một cái cây để bọn con gái rú lên cười, và tôi phải trèo lên cây để lấy trong khi bọn chúng giễu cợt và hát theo kiểu "Dân Paris, đầu con bê".[2]

 

Khi tôi đến đó, Gabriel chỉ có một mình, nó đang làm một cái ná cao su từ nhánh đôi của cây phỉ, để bắn chim chóc, chúng ăn lá non trong đám nương mạ. Tôi ganh tị với nó một chút, vì tôi không được phép làm ná. Nó hỏi tôi các bạn khác đang ở đâu, rồi hình như nó đã nói điều gì đó mà tôi không thích, và chúng tôi đã cãi nhau. Tôi để mặc nó ở đó, và tôi bỏ đi. Tôi vừa bực tức vừa nhảy từng bước dài từ tà vẹt này sang tà vẹt khác ở giữa đường ray. Bỗng dưng từ phía sau, tiếng còi tàu làm tôi giật bắn cả mình, tôi vội vàng tấp vào lề cho tàu chạy qua. Tôi nhìn thấy rất rõ là đầu tàu đã để lại một tàn lửa (ở lò cháy trên tàu) bay ra, tàn nhỏ xiu không đáng gì đang len vào đám cỏ. Nhưng việc đó không làm tôi nhớ đến điều gì cả, và tôi lại muốn đến chỗ khác chơi. Cơn giận của tôi qua đi, ánh nắng làm cho cái đầu của tôi nóng bức và có cái gì đó cứ liên tục kêu vù vù trong tai tôi. Tôi chậm chạp leo lên dốc đến kho thóc nhà Couderc để có chút bóng mát.

 

Tôi đang đứng ở cửa sổ con, chơi trò cao bồi cô đơn, bỗng tôi nhìn thấy khói bốc lên từ bên dưới vùng Prade. Tôi cảm thấy thật thú vị khi nghĩ rằng đó là bọn người da đỏ đang làm tín hiệu bằng khói để lấy da đầu của tôi. Tôi nghe thấy tiếng hô ra trận kinh khiếp của họ. Sau đó là tiếng còi báo cháy và tôi đến xem. Toàn bộ sườn đồi bốc cháy dữ dội ở mép đường ray. Lúc tôi đến thì ba chiếc xe tải đã băng qua cánh đồng để phun nước từ trên cao xuống. Họ không cho tôi đến gần. Tôi thấy họ đang mang ra một hình dạng như hình người gói trong bọc ni lông trên cáng. Lúc đó, tôi đã không đến gần để xem. Tôi đã về nhà. Thi thể trên cáng mà các chú lính cứu hỏa mang ra chính là Gabriel. Bà nội tôi vừa mới nghe một người hàng xóm cho hay. Cô ấy đã thật bàng hoàng kinh hãi. Cô phải đến hỏi thăm gia đình của nó. Phần tôi, tôi không muốn ra bên ngoài. Thật ra, tôi đã tự hỏi đáng lẽ tôi đã phải báo... Nhưng báo cho ai?

 

Ngày tháng trôi qua.

 

Chỉ đến sáng ngày tang lễ, tôi mới thực sự biết và nhận trong tiềm thức rằng Gabriel đã chết trong đám cháy ở vùng Prade. Không phải bị thiêu sống, không đâu: chết ngạt bởi khói nóng bỏng khi ngọn lửa lan đến đã khiến anh ta không có lối thoát lúc trú bên dưới chỗ ẩn của tảng đá. Phía trong nhà thờ thì mát được chút ít, còn có thể chịu được. Nhưng bên ngoài trời vẫn quá oi bức.Tôi đến chào gia đình của Gabriel và chia buồn với họ. Rồi những diễn biến sau đó, nghĩa trang, mọi việc... tôi không còn nhớ gì nữa. Tôi nhớ một cách mơ hồ lúc khai trường trở lại. Hai bên thái dương của tôi vẫn còn nóng hổi, như thể cái đầu của tôi sắp nổ tung, và tôi không muốn đến trường nữa. Bác sĩ cho biết không có máu đông tụ lại hoặc sốt cao. Phim chụp X-quang cũng không có gì bất thường. Cha mẹ tôi đã gửi tôi đến gặp bác sĩ tâm lý.

 

Bác sĩ nói đi nói lại với tôi rằng tôi không hề liên quan gì đến việc đau buồn ấy đối với Gabriel, đó chỉ là do sự cố của xe lửa. Không phải lỗi của tôi, nên tôi không có lý do gì để lương tâm cắn rứt. Với lứa tuổi của tôi, tôi không thể dập được lửa hoặc giúp anh ấy thoát ra khỏi nơi xảy ra tại nan. Và rằng cho dù tôi có thể gọi để mọi người đến ứng cứu, họ cũng sẽ đến quá muộn. Ông cũng nói thêm rằng lý do việc cãi nhau giữa hai đứa cũng không phải là không đáng kể. Rằng tôi phải cố nhớ tại sao chúng tôi lại cãi nhau. Tôi vẫn cố gắng nhớ lại. Hình như là Gabriel đã khoe khoang về cách anh ta thanh toán bọn mèo như thế nào...

 

Nhưng tôi đã không thể nào nhớ nổi. Các bác sĩ sẽ chẳng bao giờ có thể chữa được chứng đau đầu của tôi, cho dù tôi đã phải qua tất cả những việc xét nghiệm cần thiết. Tôi đã quen với bịnh rồi, nếu như ta có thể nói sống với bệnh tật như thế. Thỉnh thoảng tôi lại được chữa theo một phương pháp điều trị mới, nhưng rồi đâu cũng lại vào đó.

 

Mới đây tôi đã trở lại Prade bằng xe hơi. Ngày nay, có một cây cầu đường cao tốc bắc qua đường sắt, và người ta đã xây một bãi đậu xe dọc theo xa lộ ngay chỗ đồng cỏ ngày xưa. Nhưng tôi không có thời gian để dừng lại vì tôi phải uống thuốc. Tôi nghĩ bác sĩ tâm lý đã giải thích rất chính xác: tôi không được để mặc cảm tội lỗi hủy hoại cuộc đời mình. Nhưng rồi, khi tôi có cảm giác nóng rực trong đầu, tôi vẫn nghe thấy tiếng hét thất thanh của Gabriel.

 

– JH C

(tháilan dịch)

 

Ghi chú:

 

[1] Causses: Ở vùng Massif Central, phía Nam nước Pháp.

[2] “Parisiens têtes de chiens! Parigots têtes de veaux!”: Bài hát Pháp có vần điệu của trẻ con, để chế giễu. (Parisien, Parigot: người dân Paris).

 

Tôi vốn ăn nói vụng về nên rất sợ những người đa ngôn, hay lý luận. Nhưng ghét của nào trời trao của ấy. Lúc đã lâm hoàn cảnh tù tội, dun dủi sao tôi lại bị sắp xếp ở cạnh một ông già lắm chuyện: ông Roan. Vừa mới biết nhau ông đã tự giới thiệu ông là một cựu Trưởng Chi Thông Tin Chiêu Hồi. Ông cũng nói ông từng là một nhà thơ có chút tiếng tăm. Thỉnh thoảng ông lại ọ ẹ ngâm vài câu thơ, phần nhiều là thơ Kiều. Hình như cái miệng ông không biết mệt mỏi. Ông cứ kể cho tôi nghe chuyện này, chuyện nọ lung tung...
Thưa ngài thi sĩ, yêu là yêu, là vướng mắc, yêu là yêu không bờ bến rồi, là cho đi tình cảm, cho đi những xúc động nồng nàn, nào ai có thì giờ so bì phút đầu tiên ấy, là có được hay không được đền bù hay không? Lãng mạn là sóng tràn bờ và không so đo tính toán...
Vốn là một sản phẩm của nền Hán học nhưng khi nền Hán học cáo chung thì chơi câu đối vẫn là một thú chơi tao nhã. Ngày xưa mỗi độ xuân về, nhà nhà trưng câu đối. Bậc thức giả thì câu đối đầy ý nghĩa thâm sâu, điển cố xa xưa. Người bình dân thì câu đối giản dị hơn, gần gũi đời sống hằng ngày hơn; chung quy cũng là nói lên chí hướng, chúc phúc, cầu may mắn, gởi gắm tâm tư…
Năm Nhâm Dần sắp hết, năm Quý Mão đã lấp ló bên hiên nhà. Trong cái lạnh thấu xương của những ngày cuối đông, mọi người bỗng thấy thời gian qua mau. Mặc cho Ông Hổ gặm mối căm hờn trong cũi sắt, con thú cưng của nhiều gia đình cứ nhởn nhơ đi lại trong nhà...
Anne Khánh Vân, sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp và Mỹ, hiện sống và làm việc tại miền Đông Hoa Kỳ. Tham gia VVNM từ những năm đầu của giải thưởng, tác giả nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2007 với tự truyện “Duyên Nợ Với Nước Mỹ.“, nhận giải Việt Bút Trùng Quang năm 2021. Đây là bài VVNM mới nhất của cô gửi đến Việt Báo cuối năm Nhâm Dần.
Sáng thứ hai đi làm, anh bạn già của tôi đội cái nón kết hơi sặc sỡ như mùa hè chứ không phải mùa đông. Tôi nhớ tay này giống tôi, thuộc loại người không thích đội nón sao mùa lạnh này lại chịu trùm lên đầu cái nón kết? Chưa kịp hỏi thì anh ta lại hỏi tôi trước khi vào đến chỗ làm, “ông thấy tôi đội cái nón này có được không?” Tôi trả lời gọn lỏn vì sáng sớm lười nói, “Được thì được chắc rồi vì nón đâu có rớt xuống đất.”
Hồi còn bé, tôi rất mong ngày Tết. Không phải vì Tết có nhiều món ăn ngon, cũng không phải vì những bộ áo quần mới, cũng chẳng phải Tết có được thêm tiền lì xì. Tôi mong Tết vì cái mùi của Tết. Cái mùi mà bây giờ lên hàng lão tôi khó tìm thấy đủ như những ngày xưa.
Chàng tên Jerry, nhưng ngoại nàng kêu chàng là thằng Rỳ. Chàng cao lêu nghêu, da trắng tóc vàng mắt xanh. Chàng hay kể với nhà nàng về bà ngoại quá cố của chàng, cũng là người Việt Nam. Qua lời kể của Jerry, ai cũng cảm nhận được lòng yêu thương đằm thắm của chàng dành cho ngoại chàng...
Xin thưa trước với độc giả, như là giới hạn không gian và thời gian bài viết: Tết xưa là Tết của MNVN thập niên 60, 1975. Tết nay: Tết của người Việt hải ngoại và trong nước...
Trong một dịp quen biết tình cờ với một chị người Việt Nam, biết tôi từng là cô giáo nên chị mời tôi đến dạy Việt Ngữ bên Hội Người Việt, vì có một cô mới chuyển đi thành phố khác, rất cần tôi “điền vào chỗ trống”. Thôi thì máu nghề nghiệp nổi lên, tôi liền nhận lời, “đóng thế” thì đã sao, đâu phải lúc nào cũng phải làm nhơn vật chánh!
Một buổi trưa tháng Chạp, một mình lòng vòng trong khu China Town, chợt nhớ con đường nhỏ trong khu Chợ Lớn, Sài Gòn thuở xa lăng lắc... Mắt bỗng chạm cửa những căn nhà nhỏ, cũ kỹ, song lại sáng bừng bởi những tấm liễn đỏ rực, với những hàng chữ nhũ vàng, sắc nét. Đó là những câu đối, câu liễn trong những ngày giáp Tết âm lịch? Lòng bỗng nao nao một nỗi niềm khó tả...
Trời Nam Cali vẫn còn mang hơi lạnh của những cơn mưa cuối mùa, dù gió xuân đã nhuốm hơi ấm khắp chốn. Nhìn những cành khô của đông còn sót lại, đã e ấp đâm chồi xanh, rồi sẽ rộ nở hoa. Xuân đến, đông đi rồi trở lại, đất trời cũng luôn đổi thay, vạn vật vốn dĩ vô thường, nhân sinh cũng tất bật bôn ba không ngừng nghỉ...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.