Hôm nay,  

Mật ong của Ba

19/06/202208:11:00(Xem: 3796)

Tạp ghi -- Ngày Của Cha

hoangquan
Cha Con -- Tranh Hoàng Thanh Tâm.

 

 

Mới đó, Ba lìa đời đã bốn năm. Hai đứa con út của Ba, nay đã “già” hơn Ba, thuở Ba đi tù cải tạo năm 1975. Giờ đây, mỗi khi bầy con quây quần kể chuyện, nhắc đến Ba ngày xưa, như nhắc một ông cụ, dẫu lúc đó, Ba chưa bước hẳn vào tuổi tri thiên mệnh.

 

Cùng Mạ, Ba đã cho bầy con của Ba Mạ tuổi ấu thơ tươi đẹp với biết bao kỷ niệm êm đềm. Với tấm lòng yêu thiên nhiên, Ba tập các con của Ba thích cây cảnh hoa lá. Trong vườn nhà, các con được ngắm những hoa ngọc lan, hoa trà my, hoa trúc đào... được nghe tiếng chim sáo, chim khướu, chim chích chòe hót, được nhìn lũ cá kiểng tung tăng bơi lội. Đặc biệt nhất là những tổ ong Ba nuôi trong vườn. Ba sắm bộ đồ nghề khi “làm việc” với ong. Đó là chiếc mũ che kín đầu, có khăn lưới phủ mặt, tránh bị ong chích. Ống hun khói hơi giống phong cầm, khi kéo ra đẩy vào, làn khói sẽ tràn qua ống giống cái phễu. Hồi đó, nhà nấu chè dùng mật ong, pha nước chanh cũng mật ong. Bạn bè của các con còn nhớ được ăn mật ong còn nguyên trong tổ sáp. Sau này, gần nửa thế kỷ đã qua, mỗi khi con cái hỏi chuyện nuôi ong, Ba có thể kể rành mạch về sinh hoạt trong “xã hội” ong, về chức năng của bầy ong thợ, ong đực, ong chúa. 

 

Tuy là công chức rất bận bịu với việc làm ở văn phòng, Ba vẫn luôn cùng Mạ vun quén cuộc sống mái ấm gia đình. Lúc hai đứa út song sanh còn nhỏ, Ba vẫn dành thì giờ chăm sóc, thay tã, tắm táp cho hai con, mặc dầu nhà có người phụ giúp. Buổi chiều, sau giờ làm việc, Ba thường chở bầy con nhỏ đi chơi lòng vòng, ghé hàng quán mua cho con chút bánh, chút kẹo.

 

Ba rất khéo tay, chế tạo nhiều vật dụng trong nhà cho gia đình cùng hưởng. Ba đóng tủ chạn, “gác măng giê” trong nhà bếp. Ba lắp ráp máy xay đậu nành. Ba làm ông già Nô-En to cao như người thật để trưng bày ở tiệm sách vào mùa Giáng Sinh.

 

Ba về nhà sau gần 10 năm trong trại cải tạo. Các con của Ba đã sang Đức. Trong thời gian chờ đợi gia đình đoàn tụ, Ba đều đặn thư từ. Trong thư, Ba kể chuyện: “Nhớ năm xưa, 30 Tết, gia đình mình quây quần bên nhau trước thùng bánh tét. Mấy đứa hồi đó còn nhỏ xíu à! Bây chừ, tụi bây lớn quá chừng chừng rồi phải không? Riêng trong Ba, cứ thấy tụi con chưa lớn, mặc dù Ba Mạ đã có cháu nội rồi.”

 

Sang Đức, Ba đang dần bước vào tuổi cổ lai hy. Ba ham mê làm vườn nhưng vẫn liên tục nâng cao tay nghề thủ công của Ba. Ba đã phục chế, thiết kế lại các ghế ngồi của các cháu, đã sửa, may lại áo quần cho các con. Bầy con cháu đã bao lần thán phục những “phát minh, sáng chế” của Ba, của ông. Ba tặng cho mỗi gia đình các con một “cuốn sách ướt” để nhúng bánh tráng khi ăn gỏi cuốn thật tiện dụng.

 

Là người có đầu óc cấp tiến, Ba đã cho các con được thấy, được cảm nhận những điều mới lạ trong cuộc sống. Đồng thời Ba vẫn trân trọng những giá trị truyền thống. Ba thường tâm niệm thuật xử thế theo câu đối:

 

1. Tồn tâm, tế thế: thanh cao thuật.

Giữ lòng, giúp đời: thanh cao mưu lược.

Mưu lược thanh cao ấy là giữ lòng (trong sạch), giúp đời.

 

2. Khắc kế, lưu vi: phúc đức gia.

Nhớ kế, giữ việc: phúc đức nhà

Nhà có phúc đức ấy là nhà biết ghi nhớ mưu lược (của câu 1), giữ lại cho đời sau hành vi (của câu 1) tức là biết giữ lòng trong sạch và giúp đời.

 

Ngày xưa, Ba dìu dắt bầy con, nhắc nhở con chăm lo việc học hành. Ngày nay, ông cũng đưa đón cháu nhỏ đi vườn trẻ, trường học. Năm nọ, nghe bầy cháu nhỏ sắp sửa nghỉ hè, ông đã viết thư, dặn dò các cháu ngoan ngoãn, chăm học. Ông gói ghém chút quà cho các cháu vui trong mùa nghỉ hè. Dẫu lúc ấy, tay Ba đã yếu nhiều, Ba vẫn nắn nót viết cho trọn lá thư gởi cho mấy cháu. 

 

Ngày tết, chạnh nhớ quê hương, Ba ngâm nga mấy vần thơ:

 

Sống ở trời Âu, gặp Tết Tây,

Nêu cao pháo nổ, vắng nơi nầy,

Ngoài hiên phủ tuyết, lòng nghe lạnh,

Sưởi ấm trong phòng, dạ chẳng khuây!

 

Qua phút bâng khuâng, Ba rộn ràng chuẩn bị mùa tết lễ đón con cháu sum vầy. Bầy con cháu đã cùng Ba, ông Nội/Ngoại đón xuân trong tình thương ấm áp. Bạn bè con cháu đến chơi, Ba hòa đồng, góp mặt vào những cuộc vui, góp lời vào những câu chuyện kể ngày xưa ở quê nhà.

 

Lúc bước sang tuổi 80, Ba vẫn theo kịp bước tiến kỹ thuật. Ba liên lạc với họ hàng, bạn bè, đồng sự qua emails. Ba vào internet tìm thông tin, theo dõi thời sự, tin tức tiếng Việt. Ba tự làm lịch uống thuốc cho Ba: tên loại thuốc, trị bệnh, liều lượng, tựa như chương trình excel của dân kế toán chuyên nghiệp. 

 

Khi Mạ không còn nữa, Ba thỉnh thoảng vào bếp lui cui “bào chế” xôi ngọt, bánh ít lá gai, đãi con cháu. Đấy là những món ngọt, thuở sinh tiền Mạ hay làm, vì các con cháu rất ưa thích.

 

Một ngày sau sinh nhật thứ 90 của Ba, Ba trải qua cuộc giải phẫu quan trọng. Các con vô cùng lo lắng. Bịnh nhân ở độ tuổi cao, trí nhớ có thể bị sa sút trầm trọng do ảnh hưởng của thuốc gây mê, hoặc kinh khủng hơn, bịnh nhân không tỉnh lại. Vậy mà, hai tuần lễ sau đó, tuy giọng còn yếu, hơi thở ngắn, Ba đọc cho các con nghe vài câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm và Truyện Kiều.

 

Dẫu biết sinh, lão, bệnh, tử là lẽ tự nhiên của tạo hóa, lòng chúng con vẫn thương tiếc vô vàn khi Ba, gần 91 tuổi, vĩnh viễn ra đi. Nhớ lời Ba, lời Mạ nhắn nhủ, chúng con đùm bọc, che chở nhau, sống với nhau trong tình thương yêu chan hòa. Ba yên nghỉ chốn an lạc với Mệ Nội, với Mạ nghe Ba. Thương nhớ Ba lắm, Ba ơi.

 

Tổ Chức Thực Phẩm và Nông Nghiệp Thế Giới (FAO) chọn ngày 20/5 hàng năm là Ngày Ong Mật Thế Giới (World Bee Day). Chúng con luôn nhớ đến những mật ngọt Ba mang lại cho chúng con. Không chỉ những hũ mật thật của những tổ ong Ba nuôi trong vườn, mà còn

là những hũ mật tinh thần, những yêu thương chăm sóc của Ba cho gia đình, luôn ngọt ngào trong tâm tưởng chúng con trên đường đời.

 

-- Hoàng Quân

 

Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.