Hôm nay,  

Giấy đi cầu

20/07/202210:30:00(Xem: 5690)

Tạp bút

dicau


Ai cũng biết giấy là một vật rất quan trọng trong cuộc sống của nhân loại. Thời xa xưa, giấy vừa quý hiếm vừa mắc, chỉ được dùng trong việc ghi chép kinh kệ trong các nghi lễ tôn giáo, và cho các văn tự trong cung đình của vua chúa. Giấy được chế tạo lần đầu tiên vào năm 105 AD trước Công Nguyên, bên Tàu,  bởi một quan thái giám tên Ts’ai Lun (1). Nhưng hôm nay, tôi chỉ xin nói đến một khía cạnh “cực kỳ” quan trọng không kém của giấy, có khi quan trọng hơn là đằng khác trong thời đại chúng ta đang sống hôm nay, là giấy vệ sinh (toilet/bathroom tissue), nói nôm na là giấy đi cầu. 


Ở các nước giàu có, văn minh, giấy vệ sinh được bày bán rất nhiều trong các tiệm hoặc các chợ bán thực phẩm; còn ở Việt Nam, giấy đi cầu cũng thừa mứa đến nỗi người dân dùng để…lau miệng trong các tiệm ăn, nhà hàng. Hầu như toàn thế giới đều không biết quý trọng giấy vệ sinh cho đến khi nhân tai Covid xảy ra, giấy vệ sinh trở nên khan hiếm; không nói ra, ai cũng biết và từng chứng kiến cảnh xếp hàng dài ở các tiệm, giành giật nhau từng cuộn giấy vệ sinh. Không khéo còn xảy ra chiến tranh vì giấy đi cầu.


Sau trận đại dịch, nhiều người bắt đầu chuyển sang xài nước để nếu bất cứ chuyện xảy ra lần nữa, họ cũng vẫn có thể giữ cho thân thể mình được sạch sẽ. Thế mới hay giấy đi cầu, sau vài ngày bỗng trở nên quý hiếm y như mấy thế kỷ trước đây lúc nhân loại vừa biết cách làm ra giấy. Họ trang bị cho các bàn cầu trong nhà bằng một loại dụng cụ được gọi là “bidet” (2), tức máy rửa phần dưới, thay cho giấy. 


Tại đất nước con cháu Thái Dương Thần Nữ, người dân đã đi trước thế giới một thời gian dài. Những lần ghé nước Nhật, ở trong các khách sạn, tôi đều có dịp sử dụng máy rửa này, thật tiện lợi vì ấm áp trong mùa Đông, mát mẻ trong mùa Hè. Phiền một điều là những cái nút xử dụng chỉ được viết bằng tiếng Nhật; may nhờ hồi nhỏ hay coi truyện tranh có hình, tôi cũng mò mẫm xử dụng đúng “chức năng” chùi rửa và hong khô của nó. Về lại Mỹ, tôi mua ngay 1 cái gắn trong bàn cầu nhà, xài thử để bắt kịp nền “văn hóa rửa” của Nhật Bản, để cho bằng anh và bằng em, và quan trọng hơn nữa là để khỏi lo thiếu giấy khi khan hiếm.


Thật ra bidet được sáng chế ở Pháp vào cuối thế kỷ thứ 17, không được thịnh hành cho lắm vì chỉ nhà giàu mới dám xài; nhưng lịch sử Châu Âu có ghi, vào hậu bán thế kỷ thứ 18, hoàng hậu Maria Carolina của xứ Sicily và Naples đã cho gắn bidet trong phòng tắm của nàng.


Xin trở lại đề tài chính là giấy vệ sinh. Tuy hiện nay, con người đã khôn ra và biết xử dụng cả giấy lẫn nước, nhưng có bao giờ chúng ta thắc mắc, tò mò, thời cổ đại, con người ta khi cần phải giải quyết “bầu tâm sự”, nghĩa là phải xách cuốc ra đồng hay ôm bụng chạy ra sau hè, họ xài gì để chùi khi chưa có giấy? Rồi khi có giấy, tại sao con người vẫn chưa dám xài? Ngày nay, trong các nước nghèo như các nước cộng sản và một số nước ở Châu Phi, không có tiền mua giấy, họ dùng cái khỉ khô gì để làm sạch phía dưới?


Giờ nói chuyện bên Tây trước: khi chưa có giấy, người cổ La Mã và Hy Lạp ngày xưa xài một cây gậy, một đầu được quấn bông gòn hay miếng bọt bể, sau khi xài xong, ngâm đầu gậy vào thùng nước, rửa xong đem phơi khô để xài cho lần tới. Họ gọi cây gậy này là Tersorium. Năm 850 trước Công Nguyên, hai thày trò nhà thơ Hy Lạp Homer hay đi rong ruỗi trên đường, khi mắc đại tiện, họ xài cái gì để chùi? Homer là một đại thi hào mù, ông là tác giả thiên trường thi nổi tiếng “The Odyssee” được truyền tụng đến bây giờ. Theo truyền thuyết, trong túi đồ đeo bên vai của chú tiểu đồng đi theo hầu, lúc nào cũng có vài viên đá cuội dành cho việc đại tiện của chủ mình. Nếu hơi nhám, xài 3 viên, còn trơn láng, xài 4 viên. Nhiều nhà sử học kết luận, đế quốc La Mã cũng chấp nhận thời đó người dân đều xài đá cuội hay miếng giẻ từ quần áo cũ, được giặt sạch sau mỗi lần dùng.


Châu Âu thời Trung Cổ, thời các hiệp sĩ, vua quan, và dân thường. Họ xài gì khi cần đi “trút bầu tâm sự”? Ngoài xài nước là thứ không phải lúc nào cũng sẵn một bên, các chàng kỵ sĩ, quân lính trên đường ra mặt trận, họ phải xài một cành cây nhỏ hơi cong ở một đầu, hoặc lá cây, rơm, cỏ khô hay một cục đất khô, còn sang hơn một chút là miếng rong rêu phơi khô vì thứ này mịn và êm ái hơn nhiều.


Thời Phục Hưng bên Pháp: vua chúa và giới thượng lưu, mỗi khi “đi việc cần” , họ đi đâu, xài vật liệu gì để chùi? Nhà xí của họ hình dáng ra sao? Thời này văn minh hơn, giấy đã bắt đầu phổ biến nhiều nhưng vẫn rất đắt đỏ vì hầu hết chỉ được xài trong văn tự cung đình và trong văn chương, thi phú và hội họa cho giới thượng lưu. Thời hoàng đế Napoleon, người giàu đã dám xài giấy, loại giấy xài rồi, có chữ viết bị bỏ đi, họ chỉ vò cho nó mềm để chùi. Còn dân nghèo vẫn phải xài giẻ rách, chùi rồi giặt lại xài tiếp cho đến khi nào tả tơi thì thôi. 


Có truyền thuyết ghi chép rằng trong triều đình Pháp còn xài dây thừng. Trong nhà vệ sinh của hoàng gia lúc nào cũng có 1 sợi dây thừng treo toòng teng kế bên dành cho việc đi ngoài. Khi xong việc đại quan trọng, người ta chỉ cần lòn dây thừng qua giữa hai chân, rồi kéo tới kéo lui như chơi đàn violon vậy. Quả là “đại tiện…lợi”. Họ không thích thay dây mới: đức vua xài xong, đến hoàng hậu, rồi các triều thần. Người ta giải thích vì việc này tượng trưng cho vua tôi một dạ một lòng, trung thành và chí tình với nhau. Nhưng tôi ngờ rằng họ không thay vì lý do “nhạy cảm” như các vị “tủ lạnh” trong nước hay nói; dây cũ thì trơn tru, kém độ ma sát, còn dây mới thì nhám nhúa, coi bộ hơi thốn dữ đa. Cứ tưởng tượng một tờ giấy nhám còn mới, độ nhám số 80 hay số 120 mà chà vào nơi nhạy cảm thì phải biết, còn xót xa hơn cả một mùa Đông tê tái. 


 blank

 Ghế bồn cầu xài trong cung điện Versailles, Pháp.

blank 

Bidet được dùng trong thế kỷ 18 Châu Âu.


Bây giờ nói về giấy vệ sinh bên ta mà 3 nước lớn và văn minh tiêu biểu như Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản.


blankblank

Hình trái: Bàn cầu của Từ Hy thái hậu bên Tàu; Hình phải:  Chugi, thẻ tre của Nhật Bản thời chưa xài giấy.


Thời cổ bên xứ Phù Tang, hoàng gia và triều thần, các Samurai và quý tộc đều xài Chugi vì chưa có giấy. Chugi là những thanh gỗ hay thanh tre dùng để quẹt phía dưới sau khi giải tỏa xong “bầu tâm sự”. Nó trở nên thịnh hành vì rẻ và rửa lại xài tiếp, nói theo ngôn ngữ trong nước là xài “liên hoàn”, có nghĩa là cứ xài đi xài lại, càng xài càng bóng và càng êm. Họ đã xài Chugi trong cả ngàn năm mà vẫn chưa bao giờ lỗi thời. Chỉ những gia đình vua chúa, quyền quý mới biết xài giấy vào thế kỷ thứ 7 sau công nguyên.


Có truyền thuyết hoàng gia Nhật cũng xài cánh của con ve sầu. Cánh ve cứng và giòn, nên người hầu phải ngâm trong nước ấm 3 ngày mới đem ra dùng được. Phương cách này có điều lợi là cánh ve sầu trong suốt nên có nhìn thấu qua để biết hoàng tộc có bị bệnh đàng dưới như táo bón, kiết lỵ, hoặc có bị  “Tào Tháo rượt” hay không? Điều này rất dễ dàng cho các ngự y chẩn và chữa bệnh cho hoàng gia.


Còn anh hàng xóm khổng lồ 4 tốt, 16 chữ vàng kế bên, thời xưa xài cái gì? Vào thời Tam Quốc khoảng năm 220-280, trong sách Tư Tri Thông Giám có viết rằng người Tàu cũng xài một thanh gỗ hay thanh tre được vuốt theo hình cái thẻ, gọi là Xí Trù (廁籌).


Thời xưa không có giấy vệ sinh, người xưa dùng cái gì ? – Triết học đời sống

Xí trù: Thẻ tre đi cầu ngày xưa bên Tàu.


Thời Phật Giáo còn sơ khai, sau khi Đức Phật đã nhập Niết Bàn cả trăm năm rồi, các đệ tử mới ghi chép lại trong Tì Ni Mẫu Kinh, lời Đức Phật dạy khi đi nhà xí, ta phải đem theo thẻ tre và cỏ khô đến trước nhà xí, ta phải búng ngón tay 3 lần để người bên trong biết có người đang ở bên ngoài chờ đến phiên. Khi xong, nếu không có thẻ tre thì không được chà lên vách, ván, hay cột của nhà xí. Không được dùng đá, đất nhuyễn, cỏ tươi, lá cây mềm, hay các loại cây lạ. Chỉ được xài gỗ, tre, hay cỏ lau làm thành thẻ tre dài nhất một gang tay, ngắn là 4 lóng tay. Cái nào xài rồi, không được để lẫn lộn với thẻ sạch. Qua chuyện này, chúng ta biết người Ấn Độ đã đi trước người Tàu trong việc xử dụng thẻ tre trong việc vệ sinh cá nhân.


Dù người Tàu đã sáng chế ra giấy từ năm 105, nhưng giấy vẫn là một món hàng quý và đắt, là một trong văn phòng tứ bửu gồm Bút, Nghiên, Giấy, Mực. Giấy cũng được dùng trong việc thờ tự và là một phương tiện giao tiếp với trời đất thần linh bằng cách viết chữ trên đó, đốt tờ giấy để dâng lên thần thánh. Vì vậy, đối với người Tàu, giấy vẫn là một thứ linh thiêng và quý hiếm.

Lúc hoạn quan Nguyễn An xây Tử Cấm Thành năm 1420, không hề có bất cứ một cầu tiêu hay nhà xí nào trong khuôn viên. Người hầu phải khiêng những thùng gỗ chất thải, đi theo một lối đi riêng, sau khi hoàng gia xài xong, họ xịt nước hoa để khử mùi.  Khi Càn Long lên ngôi (1711-1799), ông mới cho xây 3 nhà xí trong cung điện của mẹ mình, có giấy chùi đầy đủ kèm theo.


Người Ấn Độ dạy cho người Tàu cách dùng thẻ tre trong một thời gian rất lâu; rồi đến con cháu Thành Cát Tư Hãn mới chỉ cho người Tàu cách thay que bằng giấy khi họ chiếm toàn cõi Trung Hoa. Người Mông Cổ vốn không đặt nặng vấn đề tín ngưỡng nên không coi trọng giấy trong việc thờ phượng. Theo Nguyên Sử, phần liệt truyện của Du Tôn Huy Nhân Dụ Thánh hoàng hậu, có ghi: nàng Bá Lam Dã Khiếp Xích, khi còn là vợ của thái tử, sống rất hiếu thuận với mẹ chồng, tức mẹ của Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt; nàng thường dùng má của mình để thử độ mịn màng của giấy trước khi đưa cho Chiêu Duệ Thuận Thánh hoàng hậu dùng trong việc vệ sinh cá nhân. 

Thời nhà Minh, trong sách sử cuốn 50, có ghi về một cơ quan chuyên lo việc về giấy đi cầu trong cung đình được gọi là Bửu Sao Ty. Đến thời nhà Thanh, có nhiều sử sách có viết về việc dùng giấy đi cầu. Trong truyện Hồng Lâu Mộng, giữa thế kỷ thứ 18, đời Càn Long, nhà Thanh, hồi thứ 41, có đoạn tả cảnh  lão Lưu bất giác thấy bụng sôi sùng sục, bèn hét một a hoàn lấy cho mấy tờ giấy, rồi định cởi quần ra. Mấy người gần đó vừa cười vừa quát to: “Chỗ này không đi được đâu!”. Rồi sai một bà già đưa lão Lưu đi về hướng Đông Bắc. Đưa lão Lưu đến nơi, bà già vội lẩn đi nơi khác. 


Viết về đủ các thời kỳ, cách thức các nước trên thế giới xài giấy đi cầu mà không viết về thời văn minh đỉnh cao đi thụt lùi của người và của chế độ cộng sản sau năm 1975, sẽ là một thiếu sót lớn lao trong lịch sử Việt Nam thời cận đại. Cái thời mà người người, nhà nhà, ngoại trừ mấy mấy “ngài tủ lạnh” cao cấp và gia đình họ, dân đen, ai nấy đều phải “tư duy sâu”, “phát huy sáng kiến”, tận dụng và “cải thiện” tối đa phương tiện có được trong thiên nhiên, ngoài nước sông, nước giếng, nước hồ, ai nấy lo bứt lá cây mềm, xui tận mạng mới hái lầm lá Poison Ivy, xài lá chuối khô mà phải đúng lá chuối xiêm phơi một nắng cho nó mịn màng; nếu đang ở ngoài ruộng thì bờ cỏ non, xanh mềm như nhung là tuyệt vời nhất, xong việc, cọ bàn tọa lên bờ cỏ êm ái, thì cảm giác còn mê ly hơn lý tưởng cộng sản gấp vạn lần.


Riêng tôi lúc đó đang phá rẫy trồng đậu và bắp ở trong rừng nên có dư dả vật liệu cho việc “đi đồng”. Tôi phơi khô và tích trữ cùi bắp và vỏ trái bắp rất nhiều, cả một kho. Ai thiếu thốn, tôi không biết, tôi chỉ biết tôi dư thừa “giấy đi cầu” cho riêng bản thân tôi, lại còn có dư để tiến nhanh tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội mà không cần đến cái thứ giấy “Kiss Me” của bọn tư bản giãy chết. 


Một lần tôi từ trên rẫy về thăm nhà, chở theo về một ít nông sản trồng được ở rừng về cho gia đình. Tôi bắt gặp đứa em gái từ trong nhà xí bước ra, trên tay cầm một tập thơ Tố Hữu trong tủ sách của tôi, chỉ còn lam nham vài tờ. Thấy tôi, mặt nó tái xanh, thất thần và hoảng sợ; còn tôi giật mình, đau nhói trong tim, không phải tiếc tập thơ mà vì thương em gái mình. Từ một đứa bé gái quen sống ở thị thành, không biết khổ là gì, nay phải xài cái thứ giấy màu nâu nhám nhúa, thô ráp, lòng tôi quặn đau vì thương em.


Chiều hôm đó, một bà ve chai đi ngang nhà, rao bán giấy vụn cân ký cho người ta gói hàng, tôi kêu vô và thấy mấy chồng báo Nhân Dân, một cuốn Tư Bản Luận, vài cuốn sách về chủ nghĩa cộng sản đóng bìa da mạ vàng còn mới tinh do nhà xuất bản Chính Trị Sự Thật in ra còn thơm mùi mực, giá rẻ rề. Tôi mua hết cả gánh cho bà ra về được nhẹ nhàng. Bà cho hay, nếu cần thêm, bà còn cả đống sách mới nguyên, còn ràng giây cẩn thận, cũng do những nhà xuất bản nhà nước mới in xong, chưa ráo mực, bà sẽ gánh đến bán cho tôi, giá rất phải chăng. Tôi vui vì đã có một quyết định đúng lúc và tôi tự hứa không để gia đình mình phải xài cùi bắp do tôi mang về. 


Có lẽ do sống khá lâu trong xứ thiên đường nên bà xã tôi có cái tật đầu cơ tích trữ, kể cả tích trữ giấy đi cầu, nhờ vậy trong thời đại dịch, chúng tôi chưa bao giờ thiếu giấy. Bây giờ lại có thêm bidet hỗ trợ thì tôi chẳng còn phải lo chi việc giấy…tờ. Dầu sao qua những thăng trầm lịch sử của giấy đi cầu, tôi cũng rút ra được kinh nghiệm sống: trong cái khó, nó ló cái khôn; ở trong nước thì trong cái khó, nó ló cái gian. Nếu không có cả hai thứ cần thiết là giấy và bidet, tôi vẫn sống khỏe bằng chính đôi tay của mình, bằng những cái mình tự có khi phải trả lời tiếng gọi thiên nhiên của cơ thể mình mà người Mỹ vẫn nói với đùa với nhau một cách dí dỏm và văn hoa khi con người phải “answer nature’s call”, be ready. 

    

blank

Giấy đi cầu Việt Nam thời XHCN.


– Nguyễn Văn Tới (LT)

(7/2022)


Chú thích:


https://en.wikipedia.org/wiki/Cai_Lun

https://en.wikipedia.org/wiki/Bidet

https://www.travelchinaguide.com/attraction/beijing/are-there-toilets-inside-forbidden-city.htm

Buổi chiều ra cổng nghĩa trang, nắng thu vàng còn đậu lại ngang tường đất thánh, những cây hạt dẻ lá đỏ lá vàng vẫn như đứng đó để chào tạm biệt, mười cây vẫn đó không thiếu một cây.
Có thể nói không ngoa, rằng bầu cử Tổng Thống Mỹ được cả thế giới quan tâm, huống chi Canada là hàng xóm kế bên, hỏi sao không “hot”?
Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.