Hôm nay,  

Hoa bông giấy

06/08/202211:27:00(Xem: 4884)

Truyện ngắn

maxresdefault

Chuyện xa thì nhớ, chuyện gần thì quên:

 

Mời người lên xe về miền quá khứ

Mời người đem theo trọn vẹn thương yêu…

(Nghìn trùng xa cách, Phạm Duy).

 

Ở cái miền đấy hoa bông giấy nhiều lắm, nhiều vô kể, nhà học trò cô Anh Thơ, mỗi nhà có từng cụm cây hoa bông giấy trồng từ lâu đời, tàn lá sum suê rậm rạp. Hoa bông giấy có nhiều màu, màu đỏ xậm, màu đỏ tím như hoa sim, màu vàng cam, màu hồng, màu trắng, đủ màu, hoa không có hương, nhưng màu sắc rực rỡ vô cùng như những nụ cười chưa bao giờ khép.

 

Cây bông giấy lên rất khỏe, rất mạnh, càng cắt tỉa chừng nào, cành lá mau ra chồi chừng ấy. Hoa bông giấy không hề héo, hình như không bao giờ héo. Khi hoa nở đã lâu, gió thổi mưa rơi, hoa rơi theo lả tả dưới đất. Nhưng hoa vẫn không héo, 3, 4 cánh nở đầy vẫn tựa lưng vào nhau. Mấy nhụy vẫn vươn cao trong lòng 3 cánh hoa.

 

Cô Anh Thơ đã có lần tỏ thắc mắc: Tại sao hoa rụng mà hoa không héo nhỉ? Tại nó tên là bông giấy, thưa cô! Một đứa học trò hóm hỉnh trả lời: Kêu là bông giấy nhưng là bông thiệt, chớ không phải là bông giả đâu Cô. Xí, làm mặt tài không, ai không biết điều đó.

 

Tụi học trò ưa cãi nhau lắm. Tụi nó là cái đám học trò xã Đại Phước, thuộc yếu khu thành Tuy Hạ, nơi mà cô Anh Thơ được điều động về dạy học hơn hai năm nay, kể từ lúc cô vừa ra trường Đại học Sư phạm Sài Gòn.

 

Những ngày đầu tiên của nghề gõ đầu trẻ ở đây cô buồn buồn, buồn nhứt là phải bỏ lại sau lưng Sài Gòn rộn rịp, để rồi qua đò Thủ Thiêm, qua phà Cát Lái, về quận Nhơn Trạch hẻo lánh toàn thấy rừng cao su là rừng cao su.

 

« Con đi đầu tuần rồi cuối tuần con lại về Sài Gòn với gia đình, đi làm ăn phải vậy, có gì đâu mà con buồn. Rồi con còn đi lấy chồng nữa kia… » Mẹ cô vẫn thường an ủi vậy.

 

Nhưng bà có biết đâu rằng miền đất Nhơn Trạch nằm kề Sông Sàu, cùng với Dĩ An, Công Thạnh là những địa danh mà chiến tranh rình rập, biến hiện rất bất ngờ. Cô Anh Thơ không sợ chiến tranh, cô chưa biết sợ chết, kể là sợ súng đạn, vì hẳn là cô chưa trực tiếp đối diện. Thỉnh thoảng đêm nằm ngủ ở quận lỵ cô vẫn nghe tiếng súng vọng về từ  xa xa, có lúc thật gần, nhưng cô chỉ nghe chớ cô chưa nhìn thấy. Khi khó ngủ cô lại nhớ lời thầy giảng: “Người lính có thể hy sinh thân mình để bảo vệ gia đình, đất nước, quê hương, nhưng với vũ khí hiện đại ngày nay thì tội nghiệp làm sao, thử hỏi người lính đó có hy sinh cả cái mà nhơn danh nó mình hy sinh không? Có tiếng la ó phản đối từ đám đông sinh viên, rồi mất điện, có một đám tuổi trẻ không bằng lòng thầy, bảo là thầy giảng có ít nhiều tư tưởng phản chiến. Ừ thì có đối diện cận chiến đi rồi hãy nói chuyện tham chiến hay phản chiến.

 

Những ý nghĩ mông lung làm cô trăn trở, những điều cô không thích ngay trong hiện tại bây giờ là quanh cô, những cái mái tranh thật thấp và bóng đèn dầu tù mù, làm cô thấy quãng đời như đi giật lùi, hay ai gọi là đi xuống tối tăm hơn. Cô hơi chán nản. Cô cũng có lần thở dài tiếc ngày còn đi học tràn đầy hoa mộng, tràn đầy ánh sáng ở Sài Gòn phía xa xa kia.

 

Thực tế và tương lai có lúc vui lúc buồn, nhưng phải đi vào cuộc sống mới hiểu rỏ được mình và cuộc sống, đã hòa trộn, đã lẫn lộn vào nhau thế nào. Thế rồi từ lúc nào không rõ cô đã yêu thương cái đám học trò vừa tỉnh vừa quê của cô, chúng dễ thương và mộc mạc lắm. Cũng có vài đứa con nhà khá khá, cũng biết làm dáng từ áo quần, sách vở qua lời ăn tiếng nói thưa gởi. Có những em thật lười, chúng gốc gác ở đây lâu đời, chuyên làm rẫy chăn trâu, nhứt là trồng hoa huệ, chỉ về Sài Gòn bán, hoặc chăn nuôi gà, vịt, heo. Chúng có vẻ quê đặc, mặc áo quần bà ba, cười nói oang oang trên đường đi học. Một số em, hơi ít, gia đình giàu có, có cửa tiệm, có cây xăng, nhà thuốc tây, một vài gia đình người Việt gốc Hoa bán tạp hóa, quán ăn, thì tỏ ra láng coóng, ăn diện và mỗi đứa sắm một cái xe Honda, chiều chiều phóng vù vù ngoài đường nhựa bọc quanh các lô cao su. Chúng sung sướng là lướt như nhà giàu ở thành phố lớn, sắm xe hơi chiều chiều ra xa lộ hóng mát vậy.

 

Nói vậy không phải học trò nghèo không có cái vui thú riêng của chúng đâu. Cô Anh Thơ nhớ là sau một tháng thầy trò làm quen, một buổi kia tan trường, có 2, 3 đứa học trò quê rà rà bên cô rủ cô chiều nay khoảng 6, 7 giờ đi chèo thuyền với chúng. Cô tò mò hưởng ứng ngay, thế là một buổi chiều hôm đó, thầy trò săn quần quá gối ra ven sông tập tễnh leo lên thuyền. Thuyền chèo tay, ghe thì đúng hơn, nhưng trò Non nó sống lâu năm trong nghề nên lanh lẹ lắm, chỉ cần quơ 2, 3 dầm nó đã đẩy thuyền ra giữa dòng sông sâu.

 

– Cô ơi cô muốn đi đâu?

 

– Đi đâu? Cô biết đâu mà đi, em dắt cô đi đâu, cô đi đó. – Cả bọn cười.

 

– Đừng bắt cô đi gặp VC nghe anh Non.

 

– Thôi, xuống dưới bến tụi em sẽ bắt ghẹ về rang muối. Đêm nay đêm rằm, nhiều cua, nhiều ghẹ ra lắm.

 

Cô Anh Thơ ưng thuận ngay. Một buổi đi chơi giữa thiên nhiên rất vui, vô sự. Hôm sau cô đến lớp hơi trễ vì dậy muộn. Vừa đặt chân lên hành lang xi măng cô đã nghe thấy vài ba câu hát ong óng như ghẹo cô.

 

Đêm nay bao con thuyền về đâu xuôi mái…

Ai ca dưới trăng vàng đường xa vắn dài

Mái chèo khoan thai trên sông dãi dầu

Con thuyền về đâu…? Ô hay sao trăng rụng xuống « đầu »…

 

Rồi một ngày sinh nhựt cô, đám con gái đã biết mang tặng cô một ôm hoa bông giấy đầy tay đủ màu tươi thắm. Cô cảm động đỏ mặt. Chúng biết giỡn bao giờ cô lấy chồng. Cô ân cần cười với đám học trò dễ thương. Khi nào cô lấy chồng cô sẽ mang về đây làm đám cưới để nhận được thật nhiều quà của các em.

 

– Thật nghe cô!

 

– Hoan hô cô!

 

– Thế cô cho tụi em ăn cỗ luôn hả cô?

 

– Tụi em sẽ mua của nhà thằng Trương Ngừng một con bò con, mình thui nó lên!

 

*

 

Quân Nhơn Trạch mùa xuân 1968

 

Mùa xuân đến cùng khắp nơi nơi, có một sự thay đổi của đất trời và của lòng người. Mùa xuân nơi làng quê hoa nở rộ, cả những đóa hoa mắc cỡ và nhiều loại hoa dại bên đường. Con đường quê quận lỵ mặc áo mới, con đường mang những đường viền lộng lẫy: đất thì đỏ nổi bật giữa viền hoa vàng, tím xanh và cỏ non mượt. Con đường lên dốc nhà thờ, đường xuống chợ Đại Phước, đường ra bến phà Cát Lái, đường sang Long Thành, người đi lại rộn rịp, buôn buôn bán bán, xe cộ nhộn nhịp vào cuối năm. Từ sớm tinh mơ xe lam chở đầy hoa huệ và hoa cúc về Sài Gòn. Tiếng gọi nhau ơi ới. Cùng với tiếng vó ngựa nhịp nhàng gõ lốc cốc trên những khúc đường tráng nhựa.

 

Còn gần một tuần lễ nữa học trò nghỉ Tết. Các thầy cô sửa soạn tất niên cùng với các lớp. Học trò nhà quê vừa giúp cha mẹ bán hàng, vừa lật đật ghé về trường, chạy tới chạy lui như con thoi. Trên bàn giấy nhà cô Anh Thơ, kê sát cửa sổ ngó ra đường, ngoài cái đồng hồ báo thức và chồng bài đang chấm dở, còn có thêm quà Tết học trò mang lại sớm mừng tuổi cô: hai chai rượu Tàu Mai Quế Lộ, cặp bánh tét bụ bẫm và bao trà Hoa Mai giấy bóng kiếng đỏ.

 

Cô Anh Thơ đang lục đục ở cuối phòng, cũng có một góc bếp, ý chừng cô đang sửa soạn pha chút café cho buổi sáng. Thấy Nhuệ, thầy Xiết chân trong chân ngoài cửa nhà cô đã kịp pha trò:

 

– Ôi chao, học trò chi mà chúng có hiếu quá. Nó Tết cô nó hậu ghê ta!

 

– Anh có biết sao nó Tết cô mà chưa Tết thầy không? Coi chừng nó không Tết thầy nó luôn đó.

 

– Ờ, cái đó là chúng ẩu thiệt, không chừng nó hối lộ, qua năm mới cô đừng cho nó zero bài kiểm.

 

– Thôi thôi ông đoán sai bét. Tại sao, tại vì thầy nó tham ăn, láo ăn quá nên chúng khoan biếu vội.

 

Cả ba đồng nghiệp thích chí cười vang.

 

– Tôi đồng ý với chị Thơ chút xíu, mà anh Nhuệ cũng có lý, tụi này quê quá chứ láu cá lắm đấy. Nhứt là đám Tiều dưới chợ và đám nhà giàu trên Long Thành. Cả mấy đứa Bắc kỳ di cư dưới Thị Câu cũng khôn tổ mẹ.

 

– Không lẽ chúng dại hết để mình mình khôn.

 

Ông thầy xoay xoay hộp trà, cười cười tiếp:

 

– Bọn ở rẫy con nhà Sáu Trân như thằng Non, thầy Tính ôi chu choa nó dốt sao mà dốt, giờ nhạc mà nó hát như đếm làm tôi chán nản.

 

– Mấy đứa con gái xóm chợ thì đanh đá dễ sợ.

 

– Mình đang nói xấu học trò khuất mặt như vậy mắc cỡ lắm.

– Tại là chúng chưa được đọc văn chương của cô. Sang năm lên lớp học cô nó văn minh ngay mấy hồi.

 

– Thôi đừng tán. Hai chai rượu thì tôi để tôi uống mình tôi, chớ tôi không mang lại tất niên đâu. Khoan mừng vội đi ông.

 

*

 

Nhưng rồi cô Anh Thơ cũng mang bánh, mang rượu lại tất niên với đồng nghiệp, với học trò.

Mấy thầy tháp tùng học trò vô rừng chặt mang về hoa mai rừng. Hoa mai vàng nở bùng tưng bừng trang trí xung quanh một lớp học riêng, bàn ghế kê sát, bao vây quanh tường. Phía trên cửa ra vào phòng học rộng làm tất niên, bàn tay nào kín đáo đã gắn lên một bó hoa giấy màu trắng tươi nở rộ, lộng lẫy ngay phía trên đầu mọi người. Màu sáng trắng đẹp quá làm căn phòng như bừng lên nét tươi trẻ và hăng say yêu đời. Đám nữ sinh nấu một nồi chè Bà Ba thật lớn. Đám nam sinh khuân tới bánh chưng, bánh tét, mứt và dưa hấu. Quả nào quả nấy láng mướt hứa hẹn bên trong đỏ lựu ngọt ngào.

 

Thầy trò chúc Tết qua lại từng lớp, từng lớp. Tiếng vỗ tay râm ran thay pháo. Trò Thọ, trò Tốt sung sướng khua đàn guitare vang vang và màn văn nghệ bỏ túi bắt đầu.

 

Tuy không thiện nghệ lắm nhưng cũng đủ để hoạt náo mọi người. Thầy cô trẻ hân hoan, không ngờ đám học trò nhà quê của họ cũng đầy máu văn nghệ văn gừng y như họ mới ngày nào cũng khua rộn đại học xá Minh Mạng.

 

Trò Bảnh, trưởng lớp 9A1 kín đáo, ngoan ngoãn và kỷ luật, lúc nào cũng có đó mà như không có đó. Trò đi qua đi lại bên cửa sổ, khi quay ra nhìn ngoài lộ, khi quay vào lượm vài tờ giấy nơi trên bục giảng kê dọc theo chiều dài tấm bảng đen lớn của lớp ở đó đã được viết đầy những hang chữ to: “Cung Chúc Tân Xuân, Bonne année. Meilleur voeux, Happy New Year… you’re never forgotten. “Mấy trò nữ xung phong lên hát, tụi con trai ồn ào vỗ tay phụ họa. “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi…”  Rồi tất cả thầy trò, trai gái cùng nhau hát vang lên. Họ cùng đón xuân với nhạc sĩ Phạm Đình Chương:

 

Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi, người thương gia lợi tức, người công nhân ấm no, thoát ly đời gian lao nghèo khó. A A A A… chúc người vui… Ngày máu xương thôi tuôn rơi, ngày ấy quê hương yên vui. Đợi anh về trong chén tình đầy vơi…

 

Họ cùng hát, những ánh mắt long lanh. Mộng đầy tay, xuân ngập lòng. Tình cảm chơi vơi, hân hoan trong tiếng hát vang, rộn rã, tưng bừng muốn bể cả cái trường trung học đầu tiên và bé nhỏ của một quận lỵ ngay giới đầu chiến tuyến.

 

Đến lượt phe nam sinh chẳng ai dám ra hát, đứa nọ đùn đứa kia.

 

– Tụi nó nhát cáy lắm, phá thì như quỉ mà hát hò thì chẳng đứa nào dám lên.

 

– Im đi. Coi kìa, có anh Non già đứng lên, anh Non giơ tay muốn hát. OK. OK.

 

Tết không về chắc em nhắc anh nhiều lắm. Non có nhiều thiện chí góp vui, nhưng hát dở kệch, hát như nói.

 

– Con khỉ chớ ai thèm nhắc nó.

Mọi người cười ngất ngư, Non vẫn tiếp tục hát. Hình như hắn muốn chọc cười mọi người, hát sai nhịp, hát như đọc bài. Cô thầy bạn bè lăn ra cười, cười gấp đôi người, cười chảy cả nước mắt. Hai đứa đàn chợt ngưng đàn để cười. Non trịnh trọng bắt sang câu khác:

 

Ngày đầu xuân chúc non nước thanh bình,

Ngày mùng hai chúc cho lứa đôi mình…

 

– Thôi, chấm dứt đi ông nội. Mầy cứ hát như vậy chắc tụi tao sẽ đau bụng mà chết. Hết ăn Tết vì mầy.

 

Huỳnh Văn Tính đứng lên cản Non. Non ngồi xuống rồi không biết hăng tiết sao đó hắn lại loi choi đứng dậy mặc cho Tính đè hắn ngồi xuống.

 

– Thưa, em đề nghị chị Rí lên ca bài gì “Lau mắt đi em”… của Đỗ Lễ, nghe mùi lắm.

 

Nãy giờ mọi người đã lau mắt quá trời vì thằng Non rồi. Rí khoan thai lên hát “Sang ngang” của Đỗ Lễ. Quả là cô bé học trò nầy có giọng ca tryền cảm. Tiếng ồn ngưng, im bặt trong mười phút. Rồi cũng bị phê bình.

 

\– Mùi, tao thấy có mùi gì đâu?

 

– Mầy nghẹt mũi rồi. Tao có thấy mùi mà là mùi phân bò với mùi rơm khô.

 

– Im mồm ngay. Cái mặt mẹt thằng chệt Đặng Tiểu Bình kia!

 

Bình xếp ve, ngồi im cười cười thì đúng lúc đó Bảnh, trưởng lớp, tác phong vẫn nghiêm trang, đến cô Anh Thơ nhỏ nhẹ thưa:

 

– Dạ, có hai chị Hoa và Nữ lớp 9A2 đi Long Thành mua pháo nãy giờ chưa về.

 

– Ai cho hai em đó đi? Đi hồi nào?

 

– Dạ, nghe mấy chị đi từ sớm mai, trước khi tới trường.

 

Cô Anh Thơ nhìn đồng hồ lo lắng, bóng nắng đã xéo qua thềm. Đầu cô như lùng bùng.

Thềm đầy vỏ hạt dưa đỏ và hoa giấy tròn tròn cắt vụn vung vãi lung tung, làm cô, bước đi chập choạng.

 

– Cô khỏi lo, mấy đứa nó không bị tóm đâu, bị tụi nó có người nhà ở “bển” mà.

 

– Hai chị đó “ngựa “ lắm cô, chiều nào cũng bới tóc ngược lạng xe Honda xém ra tới xa lộ Đại Hàn.

 

– Tụi nó cũng ham tán mấy ông lính trong thành nữa.

 

Cô giơ tay xua lũ nhóc con ra xa đặng trao đổi với trưởng lớp.

 

– Tại sao các em biết ngoài đó có pháo mà ra mua?

 

– Bị ở đây cấm làm vì gần kho đạn, mà ở ngoài đó họ làm lén, bán lén, thưa cô.

 

Cô Thơ ra ngoài hành lang xa hơn, bàn bạc cùng mấy thầy, giữa cái vùng xôi đậu nầy không biết làm sao mà cứu giúp nhau.

 

*

 

Buổi chiều 28 Tết Quý Mùi cùng ngày, cô Anh Thơ đùm đề khăn gói xuống phà về Sài Gòn ăn Tết với gia đình, sau khi đã ăn Tết với học trò. Chỉ còn khoảng nửa giờ thì tàu rời bến. Mấy đứa học trò lớn đã kịp chạy tới hớt hải phi báo:

 

– Cô cô! Hai trò đó bị bắn sẻ ở Tiểu Tòng Lâm hồi xế chiều rồi.

 

– Tiểu Tòng Lâm, Tiểu Tòng Lâm ở đâu? Cô Anh Thơ hốt hoảng.

 

– Dạ ở kế một bên Đại Tòng Lâm

 

– Đại Tòng Lâm?

 

– Dạ, chỗ đó giáp ranh với làng cô nhi Long Thành, chỗ bữa trước trường mình có lần tổ chức lên thăm các em. Ngay ngã ba quẹo về đường đi Bà Rịa.

 

Nhìn mặt đám học trò ngây thơ, sợ sệt và xanh lè, cô biết là chuyện không đùa. Cô không nói, bậm môi bước lên phà. Chuyện riêng tư của thầy trò cô đâu ai biết, ở đây mạng người có lúc nhẹ như cái lá tre. Có đứa học trò nào đó có lúc nói với cô câu đó.

 

Xung quanh vẫn ồn ào tiếng người và sóng nước dập dồn. Còi hụ, tàu rời bến. Cô Anh Thơ vẫy tay từ biệt những học trò nhỏ bé của cô. Chân tay cô lạnh ngắt, ngươi đong đưa tựa con tàu lắc nhịp chòng chành. Cô chóng mặt, mấy bó bông trên tay cô tuột khỏi, va nhẹ đâu đó và bị rơi xuống nước, sóng nước dập dồn…

 

Hoa bông giấy đó.

 

Hoa giấy mà là hoa thật không phải hoa giả đâu cô.

 

Những bông hoa xuân màu đỏ thật là thân thương đang vỡ tan tành, từng cánh từng bông. Trôi bồng bềnh, trôi bồng bềnh, lên xuống, ra xa.

 

– Chúc Thanh

 

Gái muộn chồng thì thậm khổ/ Trai muộn vợ cũng thậm khổ/ Mây trên trời thì kéo xuống/ Gió ngoài biển thì thổi vô...
Đại Quan họ Đỗ, quê cha đất tổ ở Huyện Nho Quan, Tỉnh Ninh Bình, một vùng núi non hùng vĩ, sơn thủy hữu tình nhưng nghèo. Ninh Bình là vùng đất hẹp, người đông cho nên đất đai quý hơn vàng. Tổ tiên bao đời sống bằng nghề nông, đổ mồ hôi nước mắt trên vài mẫu ruộng, sống chết với ruộng đồng nhưng cuộc đời vẫn không khá.
Gần 2 thập niên quen biết, học hỏi và làm việc cùng Thầy. Mới thấy sự tận tụy, miệt mài của Thầy, nhất là những khi dịch kinh điển. Tuổi cao mắt mờ và không rành máy tính, Thầy viết bằng tay, dò từ chữ với kính rọi phóng đại. Rồi nhờ người đánh máy, rồi Thầy dò lại, v.v… Nghiệp làm sách, trong đó có những tập kinh của Thầy dịch, có lần Thầy gởi tiền lì xì tặng "người thiết kế sách" và nhắc anh chàng tội nghiệp, bảo rằng "dẫu có hư, nhưng không hỏng", hãy thương yêu đùm bọc nhau và làm việc cho Phật giáo. Thầy là một số ít vị Tăng lữ xem việc ấn bản những kinh kệ, sách vở văn hoá Phật giáo là quan trọng và thường khuyến tấn. Thầy, một con người khiêm cung, hiền hoà và mẫu mực.
Alphonse Daudet (13/5/1840 - 16/12/1897) là một nhà văn Pháp và là tác giả của nhiều tập truyện ngắn nổi tiếng. Ông sinh ra ở Nîmes (thuộc miền Nam nước Pháp). Ông bắt đầu viết văn từ năm 14 tuổi, đến năm 18 tuổi Alphonse ra thi tập "Những Người Đàn Bà Đang Yêu" (Les Amoureuses, 1858) và được đón nhận ngay. Độc giả Pháp đặc biệt yêu mến ông qua các tiểu thuyết "Thằng Nhóc Con" (Le Petit Chose), gần như là thiên hồi ký của thời niên thiếu đau khổ của chính mình mà đôi khi cũng được ví với nhân vật trong tác phẩm "David Copperfield" của đại văn hào Charles Dickens của Anh. Những năm sau ông viết nhiều tiểu thuyết cũng thành công không kém, qua các đề tài xã hội của một nước Pháp dân chủ thay thế cho chế độ quân chủ. Cho đến cuối đời, Daudet dao động từ niềm vui thẳng thắn (Nhân vật huyền thoại Tartarin de Tarascon) đến sự mỉa mai như quất mạnh (Numa Roumestan), hoặc nỗi u sầu bệnh hoạn nhất.
Đôi tay, cánh tay, thân mình của anh bê bết máu, Anh đã men theo hàng rào kẽm gai suốt mười cây số mà không thể luồn bên dưới rào được. Anh cũng không hề thấy một nơi nào có kẽ hở để lách qua. Nhưng mà ở ngay phía bên kia, chỉ cách chừng năm mươi phân thôi, ở bên trên những vòng dây có gai nhọn hoắt làm rách toạc mọi thứ, một thế giới khác sẽ hiện ra, nơi đó nhà cửa không đổ sụp xuống, nơi đó đàn bà, trẻ con không lẩn trốn như thú vật, và đàn ông thì không còn sợ hãi, không còn chịu cảnh đói rách lạnh rét nữa.
Thế mà giờ đây, tôi mất đi khứu giác và vị giác, nghĩa là tôi chẳng ngửi được mùi hương của hoa, của ly cà phê, của người đẹp sức nước hoa Baccarat đắt tiền bước ngang qua; tôi cũng chẳng nếm được thức ăn ngon, mất đi cái sung sướng thưởng thức món sơn hào hải vị trong nhà hàng. -- Tùy bút của một nạn nhân Covid-19. Việt Báo trân trọng mời đọc.
Đã hẳn thân phận con người quả là nhục nhã khi chỉ có thể im câm thúc thủ trước mọi sự định đoạt, nhào nặn của Định Mạng và Ngẫu Nhiên, nhưng nếu được những thế lực vô tâm này xếp bày cho trúng số thì cũng không tệ lắm. Hỡi ông lão bán vé số, hởi anh phu hốt rác, đừng chết, đừng tuyệt vọng trước giờ xổ số!
Tôi bước ra cửa, vì biết không giành nổi với mấy bà đang chết mê chết mệt thằng bé con và thầm mỉm cười. Mới hôm kia, bà nào cũng hăng máu đả đảo hải tặc rất quyết liệt, tưởng như không có gì cản nổi, mà bữa nay ôm cưng thằng… con hải tặc quên trời đất, mà câu nào cũng có chữ “cha mày, cha mày” thiệt là âu yếm, đáng yêu làm sao!
Vào ngày 22 tháng 7 năm 2011, cánh hữu cực đoan Anders Breivik đã đặt một quả bom ở thủ đô Oslo, giết chết tám người, trước khi tiến đến hòn đảo Utoya nhỏ bé, nơi hắn rình rập và bắn chết 69 người, phần lớn là thành viên thiếu niên thuộc cánh thanh niên của Đảng Lao động.
Bây giờ cô Laura mới hiểu ra một điều đơn giản mà sung sướng hạnh phúc cho cả đôi bên, thà mỗi tháng cô gởi 200 đô về Việt Nam nuôi má là xong bổn phận báo hiếu lại còn được tiếng giúp đỡ gia đình anh trai vì họ ăn ké vào những đồng tiền đó và thỉnh thoảng cô gởi riêng cho nhà anh Hiền chút tiền họ mừng vui và mang ơn cô biết bao nhiêu.
Chỉ đơn giản có thế. Và họ đi cùng chuyến. Ghe không lớn lắm. Sáu mươi mấy người chen chúc nhau dưới hầm. Tiếng máy khậm khoạc inh tai. Được một ngày một đêm thì máy nóng, tỏa khói mịt mù. Bầy người giúi đầu vào nhau, tay quạt liên hồi, miệng nhào nháo những cơn ho. Tài công tắt máy, chờ cho nguội bớt. Gặp cơn bão nhiệt đới. Sóng cao như những ngọn đồi. Chiếc ghe lắc đám dân vượt biên chồng chất trong khoang như lắc những con xúc sắc trong lòng đĩa. Cơn bão lắng dần, người nằm vùi cả lên nhau. Người con gái co quắp một xó. Người thanh niên co ro một xó khác, lẫn lộn giữa những thân người xa lạ. Ướt át, nhớp nhúa, hôi hám nồng nặc. Tàn cơn bão, biển lặng, sóng êm. Dưới ánh sáng lờ mờ của hầm tàu, người thanh niên nhìn quanh, toàn những khuôn mặt lạ. Cô gái tỉnh dậy, tròn mắt nhìn người đàn ông không quen mà cô đang nằm úp trên ngực anh ta. Cô luống cuống chống tay ngồi dậy. Chân tay nhơm nhớp chất bài tiết. Nhìn quanh. Toàn những người lạ. Mãi, hai người mới nhìn thấy nhau.
Đoản thiên của một nhà văn Pháp Mone Dompnier, do Thái Lan chuyển ngữ. Lần đầu đến với Việt Báo, xin trân trọng iới thiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.