Hôm nay,  

Ngọn đèn vĩnh cửu

20/08/202212:14:00(Xem: 3736)

Truyện ngắn

photo3
Tranh Đỗ Hoa.

 


Rẫy mía nhà họ Nguyễn đất Phước An rộng mênh mông, mía cao quá đầu người, vào giữa đám mía cứ ngỡ lạc vào mê cung, đến mùa ép mía làm đường thì rộn ràng cả một vùng quê. Vị tộc trưởng thường bảo: “Vùng này là đất thổ, vốn bồi đắp từ xa xưa bởi con sông Hà Thanh. Ngày xưa khi tổ họ Nguyễn từ vùng Thanh Nghệ di cư vào Nam đã chọn vùng này lập nghiệp, kể từ ấy đến giờ cũng đã mười mấy đời rồi.” Mé bên phải gần lối vào rẫy mía có mả tổ to như một ngọn đồi con con. Mỗi năm rẫy mía cho cả mấy tấn đường, phần làm thu nhập của nhà bác Ba chi trưởng của dòng họ, phần để cúng tế giỗ quải tổ tiên.

 

Ngày nhà nước lấy đất, ruộng, vườn của dân để làm hợp tác xã, rẫy mía nhà họ Nguyễn cũng cùng chung số phận, chỉ chừng một năm sau là xơ xác tiêu điều, của công ai cũng muốn hưởng nhưng việc chung chẳng ai làm. Thế rồi chính quyền bắt bỏ mía trồng mì, cây mì vậy mà lì đòn dẻo dai, chẳng cần chăm bón chi cả cứ sòn sòn lớn lên xanh mướt. Năm nọ vào vụ cuối muà dỡ khoai mì và cày ải đất, lưỡi cày bác Ba Khả va phải phiến đá lớn đến mẻ một miếng. Bác ba và mọi người xúm lại xem và lấy làm ngạc nhiên:


– Quái lạ thật! Đất thổ vùng này xưa nay tìm một cục đá chọi chim còn hổng có, sao lại có đá tảng ở đây?


Chú Tư Đờn vạch và cạy thêm tí rồi thốt lên:


– Hình như là một tấm bia thì phải?


Mọi người sanh nghi bèn lấy cuốc xuổng đào xuống chừng ba gang tay là lôi lên được nửa tấm bia, trên mặt có những chữ Hán nhưng đã vạt đi gần hết. Bác Ba Khả và mọi người cùng ồ lên:


– Mộ cổ!


Lâu nay trong họ Nguyễn vẫn thường kể cho nhau nghe về truyền thuyết ngôi mộ tổ có ngọn đèn vĩnh cửu. Tương truyền khi Nguyễn Huệ đem quân ra dẹp loạn Bắc Hà, tổ họ Nguyễn ở Thanh Nghệ có theo phò, sau khi Nguyễn Huệ về nam thì tổ mang theo một nhánh họ Nguyễn vào nam. Năm Nhâm Tý, Nguyễn Huệ băng, tổ họ Nguyễn đoán biết nhà Tây Sơn sắp hết số nên căn vặn con cháu sau khi chôn cất thì vỡ bia mộ ở sanh phần của mình, san bằng mặt đất. Nay nhờ cày đất mà phát hiện tấm bia này, phải chăng là bia của mộ tổ chăng? Bác Ba Khả và bà con dòng họ quanh vùng vừa mừng vừa lo. Họ cũng chẳng biết nên làm gì. Tiếng đồn phát hiện mộ cổ ở rầy mía nhà họ Nguyễn chẳng mấy chốc lan khắp nơi. Xã vội cử người đến canh giữ và diện báo về tỉnh, ngày hôm sau sở cử một nhóm khảo cổ về để khai quật mộ. Ngày đầu khai quật, người ta phát hiện đây là một ngôi mộ rất lớn, hỗn hợp đắp quách bên ngoài bằng vôi, ô dước, mật mía, dầu rái… hợp chất cứng không thua bê tông của thời đại hôm nay. Nhóm khảo cổ phải dùng đến máy khoan mới cắt được một mảnh của nắp quách, một làn hơi nóng phụt lên, mọi người vội giãn ra sợ nhiễm hơi độc, một lát sau mới dám quay lại tiếp tục, gỡ thêm vài mảnh nữa thì phát hiện một khoảng trống rộng lớn bên dưới, đến khi gỡ toàn bộ phần trên của quách thì nhận ra hầm mộ là cả một căn phòng, cuối hầm có cỗ quan tài bằng gỗ trắc, đầu quan tài có một cái lu lớn, kiểu cách giống hệt lu chứa đường của nhà họ Nguyễn xưa nay vẫn dùng. Mọi người tiến vào xem và ngạc ngạc nhiên đến tột độ, trong lu có một ngọn lửa liu riu cháy, lượng dầu trong lu chỉ hao hớt chừng một phần ba lu mà thôi. Vị tộc trưởng chứng kiến việc khai quật mộ tổ từ đầu đến cuối, bấy giờ ông khẳng định chắc chắn đây là mộ tổ họ Nguyễn, điều này hoàn toàn khớp với lời truyền trong gia tộc bao đời nay. Vị tộc trưởng bước ra ngoài, kêu con cháu thiết một linh sàng tạm thời để đốt hương bái vọng tổ. Những người tham gia khai quật cũng sợ nên quỳ gối thành tâm khấn xin tha thứ nếu công việc khai quật có làm phiền đến vong linh. Bọn họ cũng tạm dừng để chờ lệnh cấp trên.


*


Năm ấy Nguyễn Ánh về kinh, y lập tức hạ chỉ truy sát tận diệt tất cả những ai có liên can đến nhà Tây Sơn, quật mộ tổ phụ nhà Tây Sơn, mộ Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ... Cuộc trả thù thật tàn khốc, máu chảy thịt rơi, lòng người kinh hãi, nhật nguyệt ảm đạm. Ngay cả những người không liên can đến nhà Tây Sơn cũng nơm nớp lo sợ, ngày đêm sống trong thấp thỏm bất an, chỉ cần có kẻ nào ghét mà cáo gian thì tai họa ập xuống đầu ngay. Cơn truy sát tận diệt của Ánh đã thành công, cả Bắc Hà  lẫn Nam Hà không còn một người nào có liên can đến Tây Sơn còn sống sót. Tương truyền chỉ có đô đốc Dõng và đô đốc Long là thoát khỏi cuộc truy sát này. Nguyễn Ánh liên tục hạ chỉ truy tìm nhưng hoàn toàn bặt vô âm tín, việc truy tìm mộ tổ họ Nguyễn Thanh Nghệ cũng không có tông tích gì, những vua kế nghiệp sau cũng tiếp tục hạ chỉ truy tìm nhưng không tìm được một vết tích nào cứ như thể mộ tổ họ Nguyễn Thanh Nghệ chưa từng tồn tại trên đời này. 


*


Mùa hạ Nhâm Tý, Nguyễn Huệ băng, Quang Toản nối ngôi nhưng không nối được chí anh hùng võ lược, không giữ được nghiệp nhà. Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền, đại thần trong triều chia bè lập phái tranh quyền sát hại lẫn nhau. Tổ họ Nguyễn Thanh Nghệ đoán biết vận nhà Tây Sơn hết số, ông lập tức thiêu huỷ hết sắc phong của nhà Tây Sơn ban cho, bia mộ ở sanh phần cũng đục bỏ chữ, những vết tích có liên quan đến nhà Tây Sơn đều xóa sạch. Tổ truyền miệng lại cho hậu duệ:” Sanh phần và mọi việc hậu sự ta đã chuẩn bị sẵn sàng, sau khi ta chết, chỉ việc đưa quan tài vào trong sanh phần, đốt ngọn đèn trong lu dầu phộng đã để sẵn ở đấy, trên mặt đất khỏa lấp bằng phẳng rồi trồng miá, trồng mì như đất vườn vẫn đang canh tác. Ta vốn phò Nguyễn Huệ, Tây Sơn lập công lớn, ra bắc dẹp Trịnh Lê vào nam đuổi Nguyễn, đánh Thanh, đập Xiêm… công lao hiển hách có một không hai trong sử sách nhưng mệnh trời ngắn ngủi. Sau chiến thắng Kỷ Dậu, ta theo chúa công vào nam và lập tức lui về vui thú điền viên ngay. Ta biết chốn quan trường không phải chí ta, nơi ấy đầy nguy hiểm và nghi kỵ, mặc dù ta đã từ quan rất sớm, tuy nhiên con cháu ngày sau e khó vượng, chí ít trong trong ba đời kế sẽ không được học hành thi cử, sẽ bị cấm tham chính, bề ngoài thì là họa, là bất hạnh nhưng bề trong lại ngầm chứa sự may mắn, cứ vui với đời nông phu vậy mà lại hay.”


Con cháu trong nhà im phăng phắc, người nào cũng lộ rõ sự căng thẳng sợ sệt, có kẻ khóc thút thít. Tổ Nguyễn Thanh Nghệ nhìn khắp một lượt rồi an ủi:


– Bọn các người chớ quá lo lắng! Nguyễn Ánh sẽ không làm tội đến các ngươi đâu, bởi lẽ các ngươi không trực tiếp liên can đến nhà Tây Sơn, một lẽ nữa là ta từ quan sớm, ngay lúc Tây Sơn đang cường thịnh. Yết thị cũng công bố rõ ràng:” Người không trực tiếp liên đới ngụy Tây thì miễn tội”.


Nguyễn Hộ là con trưởng, y vốn học hành cũng đủ để đọc sách thánh hiền. Y vui lòng sống đời nông phu, không thi cử, không có chí làm quan, tuy không có chức tước gì nhưng người khắp các tổng đều nể trọng y. Y theo tổ Thanh Nghệ vào đây và giờ y thay mặt tổ để đứng đầu chi họ. Nguyễn Hộ đến bên giường bệnh:


– Chúng con nghe lời cha, chúng con tuyệt đối không ham thích lập thân chốn quan trường. chúng con cũng an ổn thôi! Sách có câu thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cứ giả mù mà sống đời nông phu thì tránh được họa quan trường chính sự.


Tổ nghe thế gật đầu ưng bụng, tuy nhiên tổ vẫn thao thức:


– Phận con dân như con sâu cái kiến, vận nước lênh đênh thì mạng dân cũng phập phều bèo giạt mây trôi, sống chết vô thường. Tuy sống đời nông phu nhưng nhiều lúc muốn an cũng không an nổi. Bắc Hà, Nam Hà hai trăm năm giặc giã điêu linh, chinh chiến liên miên. Nông phu cũng phải xiêu dạt tứ tán, đói khổ, chết chóc kể sao cho xiết. Vận nước thịnh suy vẫn thay đổi vô chừng, ta đoán hai trăm năm sau nước nhà lại một lần nữa chia cắt, vẫn là con sông Gianh này! Con sông hiền hòa vậy mà bị thiên hạ gán cho cái sứ mệnh nghiệt ngã chia hai sơn hà. Dân tình thống khổ vô cùng. Chi nhánh họ Nguyễn Thanh Nghệ ta từ khi vào nam đời sống khá giả, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai đều đầy đủ, xem ra cũng có phước phần. Giờ phút này ta sắp về với tổ tiên, ta tiết lộ cho bọn các người biết: "Sanh phần của ta vốn là đặc ân do vua Thái Đức ban cho, năm ấy khi ta cáo lão, vua cho công binh đến xây sanh phần nhưng bề ngoài phao tin dựng công sự cho triều đình". Khi ta chết, các con khâm liệm đơn sơ, đừng bồi táng bất cứ vật gì, mọi vật chôn theo chỉ là tai họa, tang lễ không được làm rền rang, càng đơn giản càng tốt về sau.


Năm Nhâm Tuất, Nguyễn Ánh hạ được thành Quy Nhơn và lập tức đổi tên là Bình Định. Y tỏ ý đã dẹp yên được Tây Sơn. Y lập tức cho truy tìm mộ tổ họ Nguyễn Thanh Nghệ, ấy vậy mà không tìm ra, tính đến nay cũng đã hơn hai trăm năm rồi. 


*


Khi hầm mộ được phá ra, cả đoàn khảo cổ lẫn bác Ba Khả, trưởng chi họ Nguyễn cùng những người hiếu kỳ vây quanh đều ngạc nhiên sững sờ thấy tim đèn trong lu dầu phộng vẫn còn leo lét cháy. Bác Ba Khả phấn kích xúc động:


– Hoàn toàn ứng với truyền thuyết ngọn đèn vĩnh cửu trong hầm mộ mà lâu nay họ Nguyễn vẫn truyền tai nhau. Bia mộ tuy đã đục bỏ chữ nhưng căn cứ vào điểm này đủ để khẳng định đây chính là mộ tổ của họ Nguyễn Thanh Nghệ ngày xưa.


Tối hôm ấy, đài truyền hình địa phương đưa tin cuộc khai quật mộ cổ và phỏng vấn ông trưởng đoàn khảo cổ học:


– Chúng tôi rất vui mừng khi khám phá ra được ngôi mộ cổ này, thật ra thì người phát hiện đầu tiên chính là con cháu họ Nguyễn, cụ thể là ông Ba Khả, người ấy hiện là trưởng chi họ Nguyễn và cũng là hậu duệ đời thứ mười bảy của họ Nguyễn ở đất này. Trong lúc cày ải đất, ông ấy đã đụng phải tấm bia chôn vùi trong đất, nhờ thế mà phát hiện ra ngôi mộ. Ngôi mộ to lớn khác thường, chứng tỏ chủ nhân của nó là người có uy tín và danh vọng. Ngôi mộ xây chìm dưới đất, hợp chất quách gồm vôi, mật mía, ô dước, đá ong… những hợp chất và vật liệu thường thấy ở những ngôi mộ cổ của vùng này. Trong mộ không có bất cứ vật tùy táng nào, ngoài quan tài ra chỉ có một lu dầu phộng và tim đèn vẫn còn cháy sáng, điều này khớp với huyền thoại ngọn đèn vĩnh cửu, nhờ lu đèn này mà ta mới biết đây là mộ tổ họ Nguyễn Thanh Nghệ. Trong mộ có hệ thống thông khí rất tinh vi giúp cho ngọn đèn cháy sáng mà không tắt, tuy nhiên qua thời gian năm tháng cùng với sự canh tác trên mặt đất, một số lỗ thông khí đã bị bít nghịt, trong cái rủi lại có cái may, chính vậy mà hay, nhờ giảm bớt lượng ôxy mà ngọn lửa cháy nhỏ lại giúp bớt hao tổn dầu. Khi chúng tôi khai quật thì ngọn đèn này đã cháy được hơn hai trăm năm rồi, căn cứ vào lượng dầu còn lại. Chúng tôi dự đoán ngọn đèn này có thể cháy bằng ba lần thời gian đã qua, nếu mà không được khai quật.


Kết luận ban đầu của chúng tôi thì ngôi mộ có ngọn đèn vĩnh cửu này mới chính là mộ tổ họ Nguyễn, còn ngôi mộ đồ sộ bên rẫy mía kia chỉ là mộ giả. Con cháu họ Nguyễn ngày xưa lập ra để đánh lừa tai mắt triều đình. Có một điều chúng tôi thắc mắc mà chưa tìm ra lời giải:" Tại sao ngôi mộ giả to lớn vậy, có cả bia đá vậy mà người của triều đình truy tìm không thấy? Phải chăng chính kẻ truy tìm cũng biết là mộ giả nên vờ không biết để dùng kế dụ rắn ra khỏi hang? Dùng đó để làm chim mồi?".  Tuy nhiên đây chỉ là giả thuyết, chúng tôi cần có thêm thời gian, tìm thêm sử liệu mới có thể kết luận một cách chính xác.

* 


Mãi đến thời kỳ cải cách, chính quyền trả lại rẫy mía cho nhà họ Nguyễn, ngày cuối năm giẫy mả, con cháu tụ họp về và nhiều người tỏ ý muốn góp tiền xây lại mả tổ cho to lớn đàng hoàng hơn. Bác Ba Khả nói:


– Tình cảm con cháu dành cho tổ tiên rất quý nhưng ta không làm như thế được, vì làm thế khác gì phá huỷ vết tích ông cha. Mặt khác thì cũng không cần phải xây mồ to mả lớn làm gì, ngọn đèn vĩnh cửu vẫn cháy trong lòng chúng ta suốt hơn hai trăm năm qua có tắt bao giờ. 


– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 08/22)



Tình cờ gặp lại Thúy-Minh – người bạn ngày xưa cùng học trường Võ-Tánh và cũng cùng sinh hoạt trong ban ca nhạc Bình-Minh đài phát thanh Nha-Trang – Thanh-Điệp mừng quá, hỏi hết chuyện này sang chuyện khác.
Cõi thơ 50 năm của anh chính là bức tranh đời yêu thương định phận này. Nó đậm đà sắc màu âm thanh của một dòng sông với khát vọng tìm về nguồn cội. Có thể đó là nỗi hoài niệm, thương cảm êm đềm hay kêu gào xót thương một thời vàng son đã mất, nhưng hình như sắc màu âm thanh cõi thơ anh mãi mãi không bao giờ lụi tàn.
Anh bước vội vào trong toa xe điện. Một chút ăn năn vì anh về muộn. Anh lỡ quên hôm nay là ba mươi Tết. Anh tìm chỗ ngồi kín đáo và cố thu người lại sao cho ấm. Anh nghĩ bên nhà giờ này là mùng một Tết. Anh vụt nhớ câu thơ ai viết: ”Đêm xuống bên ni/ Ngày lên bên nớ”. Mắt anh đau đáu nhìn ra ngoài trời, Chicago tràn ngập tuyết. Chiếc tàu điện cần mẫn lặng lẽ trường mình dưới tuyết lạnh đưa đoàn lữ hành về các vùng ngoại ô phía Tây thành phố Chicago.
Hậu duệ của một trong những bộ óc vĩ đại nhất của thế kỷ 20 ông Bill Gates, người làm cho năng suất làm việc, và hiệu quả kinh tế tăng bội phần) không sợ thuốc chủng ngừa đại dịch thay đổi DNA của Cô thì không hiểu tại sao những người bình thường, thậm chí chỉ số IQ (intelligence quotient) còn ở dưới mức trung bình, lại sợ thuốc chủng ngừa làm thay đổi DNA của mình !!!
Chưa thấy mặt cô giáo, Duy không biết nhan sắc của cô như thế nào. Nhưng, nhìn mái tóc dài, chiếc nón nghiêng nghiêng của cô giáo Duy tưởng như chàng đã gặp hình bóng ấy vào một chiều Xuân, tại Nha Trang, khi Trục Lôi Hạm Chương Dương II, HQ 115 ghé Cầu Đá.
Con bé yêu mẹ nó. Cứ vài ngày lại điện thoại hỏi mẹ có khỏe không. Bao giờ cũng vậy, cuộc thẩm vấn trên điện thoại với mẹ xoay quanh những câu đại loại như mẹ có bị sốt không, có bị ho không, có mệt mỏi không, có ngửi mùi thức ăn được không, có gặp người nào bị bệnh Covid không. Toàn bộ những câu mà người ta thường hỏi khi khách hàng bước chân vào một cửa tiệm trong mùa giãn cách cơn đại dịch. Ông không muốn con gái nghĩ bố bỏ mẹ ở nhà vì mẹ bị cách ly sau khi có những triệu chứng vừa kể. Nó muốn chắc ăn là cả bố lẫn mẹ không ai bị nhiễm Covid hết.
Những ngày gần cuối năm, chúng tôi nhận một ngôi nhà “mới” (của mình và “cũ” của người ta) không có đồ đạc và cần sắm sửa một vài thứ căn bản. Đồ mới, đồ đẹp thì ai lại không mê, nhưng ngặt nỗi đâu phải cái gì thích cũng đều có khả năng mua mới. Quần áo giày dép nào thích có khi còn nán đợi sale giảm giá vài ba lần mới mua, huống hồ những thứ đồ lớn với giá tiền gấp cả trăm lần… Phải thực tế và biết mình hỏng phải “First Daughter” (con gái lớn của tổng thống) mà là con gái lớn của cái anh Hai Lúa nhà kia từng làm việc ở tiệm Thrift Store (tiệm bán đồ của mấy nhà dư giả “biếu”). Đã 10 giờ tối, nằm trong túi ngủ (sleeping bag) trải trên sàn nhà (vì chưa có giường), tụi tôi “đi dạo” trên mạng xem có ai trong vùng rao bán gì hấp dẫn không. Có một quảng cáo chỉ vừa mới đăng chừng 5 phút rất ngắn gọn: “Bộ bàn ăn 8 ghế gỗ và da – giá $395, bán bởi chủ nhà”. Nhìn hình kèm lời quảng cáo phải nói là có cảm tình liền. Nguyên bộ bàn nhìn rất chắc và rất đẹp. Có vẻ là đồ “hiệu” thiết k
Người Việt chúng mình tại Mỹ hình như có cơ hội ăn “thiệt” và tiệc tùng trong năm nhiều hơn dân bản xứ, vì ngoài các ngày lễ bình thường, mà quan trọng nhất là các lễ Chiến Sĩ Trận Vong, Độc Lập, Tạ Ơn, Giáng Sinh, Tết Dương Lịch, còn có Tết Âm Lịch – bây giờ xin sửa lại như sau: Tháng 12 là tháng ăn chơi, Tháng Giêng cũng lại chơi với ăn đều đều, Tháng Hai thì Hội với Hè - đó là chưa kể đến các ngày lễ không kém phần quan trọng cho cộng đồng người Việt tỵ nạn như ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm Mất Nước 30 tháng 4, ngày Quân Lực VNCH… cùng các ngày kỵ giổ của từng gia đình, đại gia đình, và các đại hội của từng quân binh chủng, từng hội đoàn, từng hội thân hữu … Nhìn về những cái Tết khi còn ở quê nhà, Tết là một ngày lễ quan trọng duy nhất cho mọi người, mọi gia đình, cho cả nước. Bởi vậy có những năm Mẹ tôi được chính phủ cho thêm lương tháng 13. Người lớn rộn ràng sửa soạn Tết theo cách người lớn, tỉ mỉ, chuẩn bị trước cả tháng. Con nít chúng tôi có những náo nức riêng. Nhà nhà đều ăn
Tết càng cận kề, từ làng trên xuống xóm dưới, mọi người càng chộn rộn lo đủ thứ, y như cả năm chưa đủ lu bu vậy. Nhà bà hội đồng thì khỏi nói. Song le, năm nay bà hội đồng lại bận bịu một cách khác. Số là giữa bà và cậu Hai Đức đang có chuyện gây cấn. Sẵn dịp xuân về, bà muốn mời cô Tư Nhung qua nhà chơi vào ngày mùng hai Tết.
Nhớ, những năm mấy chị em còn nhỏ, có lần được Ba chở bằng xe vespa, ra tận Vũng Tàu. Trên đường đi, Ba ghé một khu rừng nào đó, đậu xe, đem theo cây dao, vào sâu trong rừng để tìm mấy cội mai. Ba chặt vài nhánh, chở về nhà. Lại nhớ, Ba cặm cụi tỉa nhánh, lặt lá, những cành có rất nhiều nụ. Ba ngâm mấy nhánh mai trong chậu nước lạnh để hãm nụ. Sau đó, cận cuối năm, Ba sẽ ngâm những nhánh mai chi chít nụ vào thau nước nóng, để sang giờ khắc giao thừa, những nụ mai bừng nở, vàng tươi cả bàn thờ, rực rỡ trên bàn phòng khách, mang điềm may mắn suốt năm. Mai vàng khoe sắc cùng mấy chậu cúc vàng, vạn thọ màu cam tươi, mồng gà đỏ rực, màu và sắc Tết trong gia đình Tím ngày xưa.
Nó đâu có biết rằng, tiếng hô bài chòi, hô lô tô, tiếng pháo giao thừa, âm thanh sôi nổi của hội xuân, hình ảnh hoa quả bánh mức, hình ảnh ngôi chùa quê với ông thầy hiền như Bụt ấy in sâu vào tâm khảm nó. Mà đâu chỉ có thế, hình ảnh bộ lư đồng sáng choang, ngọn đèn hột vịt leo lét trên bàn thờ cũng nạm vào hồn của nó.
Ngày xưa, người ta nhớ tới Ông Đồ Già mỗi lần Tết đến, ngày nay mình nhớ mấy cái YouTube của những nhóm sinh viên ở Sài-Gòn, tụ lại với nhau nấu bánh chưng bánh tét rồi đêm đến đem phân phát cho những người không nhà không cửa sống lây lất trên vĩa hè. Thấy người nào cũng vui, cũng đẹp và gói bánh cực kỳ giỏi. Chỉ mong một ngày nào về cùng gói bánh với họ, rồi theo họ đi “giao hàng”. Mình không biết gói bánh tét nhưng chắc học cũng mau thôi vì đã có “căn bản” rồi. Và chắc là sẽ rất “vui”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.