Hôm nay,  

Hoạn quan

26/08/202210:22:00(Xem: 5499)
Tìm hiểu

thaigiam
Thái giám triều Nguyễn.

  

Người Việt Nam không còn lạ gì những nhân vật thái giám trong các phim bộ Hồng Kông, những người đàn ông có dáng dấp và giọng nói ẻo lả như phụ nữ. Ai cũng biết thái giám là những người đàn ông bị thiến, để phục vụ cho vua và hoàng tộc trong cấm cung. Đặc biệt là Quế Công Công, thái giám giả Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, đã làm những chuyện động trời với Kiến Ninh công chúa, em của vua Khang Hy, và với 2 tiểu thơ của Mộc Vương phủ, bị Thiên Địa Hội đưa vào hoàng cung, nơi bí mật để Vi Tiểu Bảo quản lý.


Thái giám ăn hối lộ của các cung phi, để sắp xếp cho được vào phục vụ nhà vua, thái giám rình rập nghe tin tức, làm gián điệp cho các hoàng hậu, hoàng thái hậu và giữa các quý phi...

Các triều đình phong kiến Việt Nam ngày xưa cũng có hoạn quan phục dịch, nhưng ít có ai nhắc đến họ, vì họ bị xem như những nô tài âm thầm trong cung. Hơn nữa, không có những hoạn quan chuyên quyền, lộng hành, gây bè đảng, nhũng nhiễu triều chính như ở bên Trung Hoa.

Dưới thời Đế Quốc La Mã, những thanh niên khoẻ mạnh được tuyển chọn đem đi thiến làm hoạn quan. Ví dụ như Bagoas là hoạn thần được Alexander Đại Đế sủng ái, còn vua Neron thì có hoạn quan tên Sporus.

Hoạn quan Trung Hoa

      Ngụy Trung Hiền - Đại thái giám lũng đoạn minh triều  hoan-quan-la-gihoan-quan-la-gi


Các triều đại phong kiến Trung Hoa xa xưa, từ đời nhà Tùy, nhà Đường, nhà Tống đã có những cơ cấu Nội Thị do hoạn quan đảm nhiệm, trông coi mọi việc trong cung đình. Hoạn quan nhà Tống có người thống lĩnh quân đội, đến đời nhà Thanh thì chức Tổng Quản Thái Giám đứng đầu các thái giám. Có nhiều tên và chức vụ để chỉ hoạn quan: Thái giám, Công công, Tự nhân, Yêm nhân, Nội thị, Thị nhân, Yêm hoạn, Hoạn giả, Trung quan, Nội thân, Nội giám. Từ ngữ "Thái giám" xuất hiện sớm nhất vào đời Đường Cao Tông năm 662, chỉ những người lo về xa giá, y phục trong hoàng cung. Người thái giám tất yếu phải là hoạn quan.

Đến thời nhà Minh, quyền thế thái giám được mở rộng ra, có người được cử làm sứ giả, coi xét quan lại, trông coi quân đội, cho nên sinh ra lộng quyền. Nhà Thanh hạn chế quyền hạn của thái giám, chỉ làm quan đến tứ phẩm. Có chức Tổng Quản Thái Giám để chi huy thái giám.

Nguồn gốc hoạn quan Trung Hoa

Theo các nhà nghiên cứu, nguồn gốc do 3 nguyên nhân sau đây:

– Hoạn quan là tội phạm, tù binh hoặc phản nghịch, bị cắt bỏ bộ phận sinh dục.

– Hoạn quan là cống phẩm của địa phương tiến cống vào cung đình.

– Tự nguyện xin làm hoạn quan để mưu cầu phú quý. Nhiều gia đình quá nghèo, đem con vào làm thái giám.

Một số phương pháp yêm cát

Yêm cát là thiến.

        https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRJ995Y3Sh_x6jbSjcWtZtRV_2CD9a8_J_is9zOVUX8EbykmA22  Ác mộng kinh hoàng 3 cực hình tĩnh thân thành thám giám - Ảnh 3 


Ngoại trừ những người khiếm khuyết bộ phận sinh dục từ lúc sinh ra, những hoạn quan phải trải qua "Thủ thuật" hết sức đau đớn gọi là yêm cát hay cung hình, tàm thất, hù hình, âm hình.

Bốn phương pháp để thiến con trai:

1. Cắt toàn bộ dương vật và dịch hoàn
2. Chỉ cắt bỏ dịch hoàn
3. Đè cho bể nát dịch hoàn
4. Cắt bỏ dương vật

Còn có phương pháp thiến nữa gọi là "Thằng hệ pháp" tức là dùng dây cột chặt dịch hoàn của đứa bé, lâu dần bộ phận sinh dục mất khả năng phát triển và chết đi. Hoặc cho đứa bé uống một thứ thuốc tê, gọi là ma tuý dược, rồi dùng kim chích hoài vào dịch hoàn khiến cho bộ phận sinh dục không còn công dụng được nữa.

Tác giả Carter Stent mô tả việc thiến ở cuối đời nhà Mãn Thanh như sau:

"Trước khi thiến, người muốn làm thái giám được đặt nằm nghiêng trên một cái giường thấp, và được hỏi lần cuối cùng là có hối hận gì khi bị thiến hay không. Nếu trả lời không, thì một người giữ chặt cái bụng người đó, 2 người khác banh hai chân ra và giữ cho không cục cựa. Băng vải được quấn chặt ở bụng dưới và ở 2 bên đùi. “Bịnh nhân” được cho uống một thang thuốc mê gọi là ma phế thang. Bộ phận sinh dục được chà xác bằng nước ngâm ớt. Cả dương vật và dịch hoàn được cắt "xoẹt" một cái sát đáy. Một cái nút kim loại, được gắn ngay vào lỗ dẫn nước tiểu. Vết thương được băng lại bằng giấy bản, bên ngoài quấn vải thật chặt.

Người phụ trách việc thiến gọi là "Đao tử tượng" và con dao bén gọi là "Yêm đao". Những đao tử tượng dìu người bị thiến đi quanh phòng ba giờ liền trước khi cho nằm nghỉ. Người bị thiến vừa đau đớn vừa khát nước vì mất máu, nhưng không được uống nước suốt 3 ngày để không cho tiểu tiện. Sau 3 ngày, băng vải được cởi ra, và cái nút được rút ra. Nếu bịnh nhân đi tiểu được thì xem như thành công. Trái lại, nếu không đi tiểu được thì chỉ có nước chờ chết.

Nhiều gia đình chuẩn bị cho con mình làm thái giám ngay lúc còn nhỏ. Một bà Vú đặc biệt được thuê để thực hiện, từ lúc còn nằm trong nôi. Bà vú có một thủ thuật riêng, mỗi ngày 3 lần, nắn bóp dịch hoàn đứa trẻ khiến nó khóc thét lên. Sức bóp càng ngày càng tăng thêm, và cơ quan sinh dục đứa bé bị hủy hoại. Khi lớn lên, chẳng những mất khả năng sinh dục, mà dương vật càng ngày càng teo dần khiến cho đứa trẻ có nhiều nữ tính. Không có trái cổ, hai vú nhô cao, mông nở, giọng nói lanh lảnh, dáng điệu trở thành bán nam bán nữ.


Những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế


Ở hậu cung có cả ngàn cung phi mỹ nữ, làm sao mà quản lý cho hết được. Muốn được xếp ưu tiên thì phải chiều chuộng thái giám. Bỗng nhiên thái giám trở thành những kẻ thao túng chuyện mây mưa của hoàng đế. Thái giám còn có nhiệm vụ ghi chép tên tuổi, ngày giờ mà cung phi được ăn nằm với hoàng đế, để sau đó, nếu cung phi có thai thì đem ra đối chiếu thời gian mà xác định đứa bé có phải là con của ông vua hay không. Việc nầy rất quan trọng trong việc thừa kế ngai vàng, xác định hoàng tử, thái tử.


Hoạn quan Việt Nam

https://encrypted-tbn0.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcTgMGJSxB1Hb0uquUTCdy_LHcN88xDkmMP1DBApggl90ac2S6PdtQ 

Nghĩa trang thái giám ở chùa Từ Hiếu, Huế.


Ở Việt Nam, hoạn quan được ghi nhận đã có từ thời nhà Lý.

Đến nhà Nguyễn thì hoạn quan chia làm 5 trật:


– Quản Vụ Thái giám

– Kiêm Sự Thái giám

– Thừa Vụ Thái giám

– Cung Sự Thái giám

– Cung Phụng Thái giám.


Việc tuyển chọn thái giám ở Việt Nam thì theo lịnh của triều đình, ưu tiên cho những trẻ em bán nam bán nữ bẩm sinh. Người dân nào sinh con có khuyết tật đó, thì được quan chức sở tại đến kiểm tra, và dâng sớ tâu lên triều đình. Cha mẹ nuôi con đến 13 tuổi, thì Lễ Bộ đưa vào cung tập sự làm hoạn quan. Làng nào có hoạn quan thì được miễn binh lính, phu phen, tạp dịch, và cả sưu thuế nữa.

Nếu bẩm sinh không đủ số, thì thanh niên nào tình nguyện sẽ được xem xét tuyển chọn. Có lẽ vì nghi kỵ Tả Quân Lê Văn Duyệt, vốn là thái giám, nắm nhiều binh quyền, cho nên vua Minh Mạng ban chỉ dụ quy định thái giám chỉ làm việc hầu hạ trong cung mà thôi. Tấm bia khắc toàn bộ văn bản của chỉ dụ nay vẫn còn trong Văn Miếu ở Huế.

Rút kinh nghiệm từ những bậc tiền bối, bị thái giám nổi loạn chuyên quyền, đến thời Minh Mạng (1820-1841) vua đã ban hẳn một chiếu chỉ riêng dành cho thái giám: “Cho họ người nào việc ấy để sai khiến hầu hạ, nhưng mãi mãi không cho dự vào giai và phẩm hàm quan chức. Vì chức vụ của họ là để nội đình sai khiến và truyền lệnh mà thôi. Tất cả triều chính và việc ngoài đều không được tham dự, kẻ nào vi phạm phải trừng trị nặng, không khoan tha. Trẫm đã dặn dò, hết sức mưu tính sâu xa cho đời sau…”


Thái giám Việt Nam có riêng một nghĩa trang trong khuôn viên chùa Từ Hiếu, cách Huế chừng một cây số. Chùa Từ Hiếu còn được gọi là Chùa Thái Giám nữa.

Những danh tướng xuất thân từ thái giám

Ba thái giám trở thành danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Hoàng Ngũ Phúc và Lê Văn Duyệt.

Lý Thường Kiệt (1019-1105)


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRS6Ws7mo67320WEqHC_JxJIZXv7R5ntWHfJpqc4eSP9dB9fBE8  http://daidoanket.vn/Pictures/bao%20tuan/_2011/221/2011_221_7_anh3.jpg


Là một danh tướng xuất thân từ hoạn quan thời nhà Lý, đời vua Lý Thái Tông. Theo Gia Phả họ Ngô Việt Nam, thì ông tên là Ngô Tuấn, con của Sùng Tiết Tướng Quân là Ngô An Ngữ. Cũng có tài liệu nói ông họ Quách. Vì gia đình có công, cho nên nhà vua cho mang họ Lý, Lý Thường Kiệt.

Năm 22 tuổi, vì gương mặt xinh đẹp nên được sung vào làm Hoàng Môn Chi Hậu, là thái giám phục vụ cho vua và hoàng hậu. Trong 12 năm làm thái giám, danh tiếng của ông ngày càng nổi bật lên. Lý Thường Kiệt là một danh tướng có chiến thắng lẫy lừng là phá Tống, bình Chiêm.

Hoàng Ngũ Phúc (1713-1776)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR_KfPk_K6kThDEqzfWEKjUQyIx6nPKYRoVeYnaKCoF6RU9prmO Về cuộc Nam chinh của Việp Quận công Hoàng Ngũ Phúc -0

Hình minh họa Hoàng Ngũ Phúc (phải). Mộ Hoàng Ngũ Phúc (trái). 


Là danh tướng thời Lê Mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh và Tây Sơn khởi nghĩa. Hoàng Ngũ Phúc người xã Tân Mỹ, huyện Yên Dũng, Bắc Giang. Ông xuất thân là một hoạn quan, nổi tiếng là có nhiều mưu kế. Giữ chức Nội Sai trong Hình Phiên. Ông có công dẹp loạn Nguyễn Hữu Cầu và vào Phú Xuân đánh bắt Trương Phúc Loan, chấm dứt giai đoạn Trịnh Nguyễn Phân Tranh kéo dài trên 200 năm, mà Sông Gianh là ranh giới.

Lê Văn Duyệt (1764-1832)

https://encrypted-tbn2.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcSWD8sQsjJpnnvT-McpeZHe70orP8IUyeRI_zQnIZn_ZuI4c5se https://encrypted-tbn1.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcR3ByynDEQFmJRVlVr50kJ3yrbP4Qiw9CygIS970zpTn8XY2sxS


Người thái giám thứ ba trở thành danh tướng, một trong những khai quốc công thần của nhà Nguyễn là Tả Quân Lê Văn Duyệt.

Ông theo vua Gia Long năm 17 tuổi làm thái giám, là người bán nam bán nữ bẩm sinh chớ không phải bị thiến. Lê Văn Duyệt giúp Chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh thắng nhiều trận được xem là khai quốc công thần của nhà Nguyễn. Đền thờ ông hiện tại còn ở Sài Gòn, được gọi là Lăng Ông Bà Chiểu.

Nhiệm vụ thái giám

Trong cung cấm, hoàng gia đông đúc, tam cung lục viện, cần người phục vụ hằng ngày cho vua, hoàng hậu, các cung phi, hoàng tử, công chúa... Nhà vua không an lòng để cho những người đàn ông bình thường sống chung với những người đẹp được tuyển chọn khắp nơi đưa vào cung. Cho nên, những quan chức ấy phải bị thiến. Những người bị thiến sau tuổi trưởng thành, dù mất khả năng sinh dục, nhưng họ vẫn còn những khao khát và đòi hỏi về sinh lý.

Trong nhiều triều đại, thái giám được cho ngủ chung với đàn bà trong cung để cho các phi tần có chút khí dương ngõ hầu ít bịnh tật. Đối với những thái giám chỉ bị cắt dịch hoàn, họ còn khả năng cương cứng, cho nên đã có những lời đồn đãi về thái giám với cung phi.

Đời sống của hoạn quan

Họ sống đầy đủ về mặt vật chất nhưng thiếu thốn về mặt tinh thần. Người xưa rất coi trọng việc truyền giống, kẻ tuyệt chủng bị kết án nặng nề. "Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", là có 3 điều bất hiếu, tội lớn nhất là không có con nối dõi tông đường. Đau khổ vì mặc cảm bị người đời khinh rẻ. Buồn vì cuộc đời cô đơn, khi nhắm mắt làm ma lang thang không nơi nương tựa. Vì vậy, nghĩa trang của thái giám Việt Nam đặt ở trong chùa để nương nhờ hương khói mai sau.

Giữ gìn bảo cụ

Bộ phận sinh dục của hoạn quan, sau khi cắt ra, được giữ gìn kỹ lưỡng, xem như một báu vật, gọi là “bảo cụ”. Bảo cụ được tẩm vôi bột, hút hết máu để không hôi thúi. Của quý được xem là bảo vật, vì mỗi khi được thăng quan thì phải trình bảo cụ cho thái giám thượng cấp, để chứng minh thật sự là đã bị thiến. Tránh những trường hợp như của Quế Công Công Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, làm chuyện động trời như đã nói trên.

Trường hợp thứ hai là, khi chết bảo cụ phải được mang theo cho được chết toàn thây.


Trường hợp thứ ba là vì niềm tin cho rằng bộ phận sinh dục có thể mọc lại nếu uống thuốc và ăn uống các loại tráng dương. Do đó, nhà Thanh cứ mỗi 3 năm thì thái giám phải qua kỳ "Tiểu tu", 5 năm qua kỳ “Đại tu” để cho thái giám chuyên trách khám xét xem ngọc hành và dương vật có mọc lại không.

Ngoài việc thay đổi hình dạng, hoạn quan còn thay đổi tánh tình, trở nên nhỏ nhen, độc ác, tàn nhẫn. Thường bị són đái, nước tiểu chảy ra quần, gây mùi khó ngửi cho nên thường bị chê cười, chế giễu.

Hình dưới là ông Tôn Diệu Đình, người được xem là thái giám cuối cùng của Trung Hoa.


https://encrypted-tbn3.gstatic.com/images?q=tbn:ANd9GcRFfW29pn5_sXX-6asjj_7PmilnFtQMdW1UwLD4yGs7lgsE75h0 a


Sự ích kỷ của các vua chúa ngày xưa, đã tạo ra một hình thức quan lại đặc biệt, đã làm khổ biết bao nhiêu thanh niên như thế. Năm 1996, ông Tôn Diệu Đình (Sun Yaoting) là người hoạn quan cuối cùng của chế độ phong kiến, nhà Mãn Thanh đã qua đời, chấm dứt chế độ hoạn quan Trung Quốc.

– Trúc Giang MN

Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.