Hôm nay,  

Tản mạn ngày Tết

14/01/202313:10:00(Xem: 4437)

Tản mạn


Da_Lat 


Năm nào cũng vậy, nơi mình ở, cứ đến những ngày cận Tết cho mãi đến sau Tết, thời tiết lạnh giá vẫn chưa chịu ra đi khiến không khí xuân thiếu phần khởi sắc như trong những bài văn, bài thơ, bài hát qua những lời ca tụng mùa xuân nắng ấm chan hòa, hoa màu muôn sắc và người người đang hớn hở đón mừng xuân. Không biết có phải mình đã luống cái tuổi xuân từ lâu nên nhìn sự vật chung quanh có phần ảm đạm hay không? Chắc là vậy.

 

Mấy tuần nay đã thấy không khí Tết diễn ra nhiều nơi trên màn ảnh truyển hình, trên Youtube, trên Facebook, trên radio và trên nhiều phương tiện truyền thông khác nữa. Nhiều nhất vẫn là hình ảnh trước Tết tại Việt Nam từ thành thị cho đến thôn quê do những kênh truyền thông cá nhân ghi nhận. Tại hải ngoại, cảnh trưng bày, mua bán, sắm Tết tại những thành phố có đông người Việt cũng không sao bằng với Việt Nam dù là với một thị trấn nhỏ miền quê.

 

Mình đã “ăn Tết” tại Việt Nam từ thuở tấm bé cho đến lúc phải “cất bước ra đi, mang theo niềm nhớ” (hình như đây là lời của một bài hát… xin mượn). Lúc tị nạn ở nước Cờ Hoa, nếu tính luôn Tết “Quý Mão” này thì mình cũng đã xơi tái được 31 mùa xuân ở hải ngoại. Vậy Tết ở Việt Nam thì sao? Tết ở hải ngoại thì sao? Khó mà nói cho hết! Thôi thì nhân ngày xuân về Tết đến, xin kể câu chuyện mồng một Tết lúc còn ở quê nhà, thời mà đi học phải kè kè bình mực xanh và cây bút lá tre cùng cây thước kẻ.

 

Mình được sinh ra trên mảnh đất Hoàng Triều Cương Thổ của triều nhà Nguyễn (nghe oai chưa!) vào cái thuở “đất rộng người lưa thưa”, sống dưới rừng thông gió hú bốn mùa và với cả cọp beo thường lảng vảng từ Cầu Quẹo lên tới Dankia, Suối Vàng, Suối Bạc… Miệt dưới thì mấy bác “30” cũng thường ghé thăm khu vực thác Cam Ly để nghe tiếng thác reo ì ầm quanh năm khiến mấy em con nít như mình nghe các cụ già như ông bà ngoại, các cụ trẻ như bố mẹ mình kể mà rợn cả tóc mai (không rợn tóc gáy). Về phía nam chút nữa như thác Prenn, Gougah, Pongour thì khỏi phải nói, còn rừng rú hoang vu nguyên thủy. Tóm lại đó là hình ảnh Đà Lạt của thập niên 40 vào thế kỷ hai chục. Qua đến thập niên 50 trở đi thì dân Đà Lạt mới từ từ đẩy mấy chú cọp bác beo vô tuốt trong bưng. Rồi dân số Đà Thành gia tăng sau cuộc di cư của người miền Bắc vô Nam để trốn các đồng chí đồng rận búa liềm. Đà Lạt lại có các khu định cư mới, ở miệt Bắc có các ấp Thánh Mẫu, Kim Thạch, còn ở miệt Nam thì có ấp Nam Thiên, Du Sinh… Xa chút nữa có Tùng Nghĩa, Phi Nôm nằm trên quốc lộ 20 chạy đi về hướng Sài Gòn hoa lệ.

 

Hồi còn bé tí tẹo mình cũng như bao thằng nhóc tì khác, thấy gần đến Tết là vui trong cái bụng lắm (nói theo tiếng của người K’ho là cái bụng), vì: Thứ nhất là được nghỉ học đến cả hai tuần, khỏi phải học bài làm bài gì cả. Thứ hai được dự trại tất niên do trường tổ chức (thời trung học) vui lắm với những màn thi đua văn nghệ, thể thao, bích báo và được ngủ lều dưới cái lạnh “teo gân” của Đà Lạt. Hồi đó các nhóc tì Đà Lạt ưa nói lạnh “teo gân” để chỉ cái lạnh rừng rú hoang dã. Thứ ba là được ông bà bu mua cho bộ quần áo và một đôi sandal mới cáu cạnh để diện ba ngày Tết. Thứ tư là mấy ngày Tết được ăn thức ăn ngon và nhiều. Thứ năm là được lì xì vào sáng mồng một. Còn nhiều cái vui linh tinh khác nữa xin giấu bớt.


Nếu kể “vòng vo” chắc là tốn giấy hao mực (xin lỗi, sợ mệt hai ngón tay) nên chỉ xin kể câu chuyện của ngày mồng một Tết mà thôi. Số là mình có một người bác dâu (vợ của bác ruột) ở đường Phan Đình Phùng, gần ngã ba chùa Linh Sơn rất thương mình vì bác không có con trai – chỉ có sáu mống con gái – thích cái tính lanh lợi vui vẻ của mình nên bác thường nhắc nhở mỗi khi gần Tết “sáng mồng một mi ghé nhà bác để xông đất nghen”. Mình tuân lệnh răm rắp không dám ý kiến ý cò chi cả. Hơn nữa mình cũng thấy có lợi (được tiền lì xì) nên trong suốt thời gian dài, cả chục năm trời ròng rã, cứ sáng mồng một là mình đạp xe đạp mất ba cây số để đến “xông đất” nhà bác.

 

Khi bước chân vô nhà là phải vòng tay cúi đầu chào hai bác, sau đó chào mấy bà chị kèm theo nụ cười trên môi và mặt phải lộ vẻ vui mừng, không được nhăn nhăn nhó nhó và nói năng lắm lúc “vô trật tự” như những ngày thường. Bác khen ngoan rồi móc túi dí vào tay một phong bì màu đỏ chói. Mình cám ơn và nhét ngay vô túi quần. Có vài bà chị cũng tặng bao lì xì. Sau đó bác bảo mấy bà chị dọn thức ăn ra bàn và bảo mình ngồi ăn, có bánh tét, có dưa món, có thịt đông, thịt luộc, chả, xôi, chè chuối…Ôi thôi đủ thứ. Ăn xong thấy một bà chị mở radio hiệu Philips cho nghe tin tức ngày xuân trong đó có lời chúc Tết của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, tiếp theo là một lô các bài hát xuân như bài Xuân Và Tuổi Trẻ, Cánh Bướm Vờn Xuân…của thập niên 50 (thế kỷ trước), rồi những Đón Xuân, Xuân Đã Về, Hoa Xuân, Ly Rượu Mừng, Cánh Thiệp Đầu Xuân, Anh Cho Em Mùa Xuân… Đặc biệt là những bài hát nói về mùa xuân của lính như bài Đồn Vắng Chiều Xuân, Xuân Đầu Tiên, Phiên Gác Đêm Xuân của thập niên 60. Bài Ly Rượu Mừng của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là bài hát được ưa chuộng nhất được nghe mỗi dịp xuân về. Bài này sau tháng tư bảy lăm mấy anh giải phóng cho đi ngồi tù đằng đẵng suốt 43 năm, đến năm 2018 mới ký giấy cho tháo xích xiềng để thả ra để cho trăm triệu dân “từ bắc xuống nam” cùng nghe. Không hiểu mấy ảnh có biết rằng trong 43 năm đó, dân Việt đã nghe Ly Rượu Mừng mỗi lần xuân về khắp hang cùng ngõ cụt hay không? Có khi mấy ảnh cũng hân hoan “ngày xuân nâng chén” không chừng.

 

Khoảng 8 giờ, bác sắm sửa y phục chỉnh tề bước ra và ra lệnh cho mình và hai bà chị cỡ bằng tuổi mình xuất hành đi theo bác. Mấy bà chị cũng mặc áo dài có điểm bông hoa tươm tất, người nào cũng có cái ví cầm tay nho nhỏ. Mình không biết bác có coi hướng để xuất hành sáng mồng một hay không nhưng năm nào cũng vậy, một đồng nam và một hai đồng nữ theo chân bác đi về hướng hướng bắc. Ban đầu cứ tưởng bác dắt lên Núi Bà xin xăm, ai dè đến ngả ba Mả Thánh bác bèn quẹo vô con đường đất đi tuốt vào trung tâm mồ mả của cư dân Đà Lạt. Thì ra bác đi thăm mộ phần của những người thân trong gia đình. Lên đến Mả Thánh mới thấy cảnh bà con đi thăm mộ phần đông ơi là đông. Sau này mình nghiệm ra đây là một trong những tập tục của đa số người Đà Lạt lúc bấy giờ. Nhìn cảnh thiên hạ đi viếng mộ mồng một Tết mình nhớ đến hai câu thơ của thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều tả cảnh chị em Thúy Kiều đi tảo mộ “trong tiết tháng ba”: …Ngổn ngang gò đống kéo lên/ Thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay…

 

Bác dắt mấy chị em đi thăm và thắp nhang trên từng ngôi mộ. Mộ nằm rải rác đó đây chứ không cùng một chỗ, thế mà bác nhớ mộ ông, mộ bà, mộ anh em, con cháu nằm ở đâu, bác nhắm hướng đi đến là trúng phóc. Hai ba đứa trẻ theo chân bác sau chừng nửa giờ đã đổ cả mồ hôi thấm ra áo. Gần 10 giờ bác đưa xuống núi. Nghe ông bà bu mình kể rằng Mả Thánh trước là quả đồi cao thuộc sở hữu của Hoàng Triều Cương Thổ, vào năm 1936 cụ Võ Đình Dung bỏ tiền ra mua để cho dân Đà Lạt có nơi chôn cất. Thật là công đức vô lượng. Giờ thì mấy bác giải phóng đã san bằng từ lâu, không biết có xây cất gì chưa?

 

Trên đường về bác lại đưa đến chùa lễ Phật đầu xuân ở chùa Linh Sơn, gần nhà bác. Nơi đây cũng tấp nập Phật tử đi lễ đầu xuân trong những bộ áo quần còn vương mùi vải mới đủ màu sắc, các bà các cô toàn mặc áo dài vì thưở đó phụ nữ Đà Lạt chưa mặc trang phục Tây phương. Nhớ trước chùa có hai cây hoàng lan cao cả chục thước tỏa hương thơm ngát. Vô chánh điện lạy Phật ba cái rồi rút lui, còn bác thì bỏ tiền vào thùng “phước sương”. Trước sân chùa tập nập người đi qua đi lại, kẻ vào chánh điện, người vô phòng khách và có người ra sau nhà bếp, chắc là để kiếm món ăn chay.

 

Rời khỏi chùa, tưởng rằng được về nhà nhưng không, bác đi tiếp trong khi “cái bụng” của mình thấy nao nao đói. Thôi thì bấm bụng để đi theo bác chứ chẳng dám nói năng chi hết. Ngặt một nỗi là mình mang một đôi sandal mới nên giày cọ vào da chân thấy đau và nhìn xuống thấy gót chân có chỗ bị trầy rướm máu! Thằng bé lại tiếp tục đi cà nhắc theo chân bác không một lời than tiếng thở. Không biết mấy bà chị có rơi vào tình trạng “đớn đau” gót chân như mình hay không nhưng mình đoán chừng các chị cũng có vấn đề nơi hai bàn chân vì mấy đôi giày mới.

 

Tiếp tục cuộc hành trình sáng mồng một là theo bác đi thăm người thân. Trước tiên bác đưa đi thăm người em của bác ở cây số bốn, từ Mả Thánh qua đây rất gần nhưng bác đã dẫn đi ngược về chùa Linh Sơn rồi mới quay lại hướng Mả Thánh để đến số bốn thăm người em. Điều mình thích ở Đà Lạt là dù đang đi ngoài trời nóng nực chảy mồ hôi nhưng khi bước chân vào nhà là thấy mát mẻ khiến người nhẹ nhõm ra ngay. Vào đến nhà ông cậu, sau các thủ tục cúi đầu vòng tay, mình được cho uống nước cam hiệu Birley’s rồi ăn mứt mứt dừa, mứt gừng và rỉ rả bốc vài hạt dưa cho vào miệng cắn bóc vỏ để ăn, lắm khi cắn hạt dưa nát cả vỏ cũng nhai và nuốt luôn cho tiện. Bác và cậu nói chuyện và chúc Tết lẫn nhau và trước khi bước ra cửa, ông cậu lì xì mỗi đứa một chiếc phong vì đo đỏ, mình cúi đầu cám ơn và cho phong bì vào túi ngay. Hai bà chi thì mở ví cho phong bì vào.

 

Ra đường gặp lại cái nắng xuân râm ran dễ chịu, chắc là vừa mới trong nhà bước ra. Trong bụng thầm nghĩ chắc là bác đi về nhà sau hơn ba tiếng đồng hồ. Nhưng không! Bác không quay về đường Phan Đình Phùng mà bác đưa đồng nam đồng nữ đi theo đường Hai Bà Trưng đi đến tận cầu Bá Hộ Chúc, leo dốc Bà Triệu để đến đường Trần Hưng Đạo. Lâu lâu mình phải dừng lại để nhìn xuống hai gót chân xem nó trầy trụa đến đâu rồi. Trong bụng không muốn đi theo bác nữa nhưng không biết làm cách nào. Thật là “tiến thoái lưỡng nan”. Cuối cùng thì cũng phải tiến theo bác mà thôi! Đi đến nhà thờ Con Gà bác quẹo vô đường Nhà Chung, khoảng nửa đường thì bước xuống một con dốc đất gồ ghề để đến nhà một người bác của mình nằm thỏm trong ấp Xuân An. Ông bác này là một nhà nho, mặc áo dài vải the thâm màu đen, rất nghiêm nghị. Mình và hai bà chị ngồi im re cắn hạt dưa để nghe hai bác trò chuyện chúc Tết lẫn nhau để cuối cùng đám nhóc cũng có bao lì xì dằn túi.

 

Rời khỏi nhà ông bác mình mừng muốn chết và trong “cái bụng” thầm mong cho bác đừng ghé đến nhà ai nữa. Ra đến đường Trần Hưng Đạo, ngang qua nhà thờ Con Gà vẫn thấy rất đông những người đi lễ nhà thờ, không kém gì cảnh đông đúc ở sân chùa Linh Sơn. Bác đi xuống dốc lê Đại Hành trước mặt nhà thờ rồi vòng qua Cầu Ông Đạo, lên đến phố Hòa Bình, theo đường Hàm Nghi xuống dốc chùa Linh Sơn rồi queo phải về nhà. Lúc đến Cầu Ông Đạo mình thấy vô số tài tử giai nhân dập dìu du xuân quanh hồ với những tà áo dài xanh đỏ phất phới bay trong gió xuân, lên đến khu Hòa Bình thì thấy đám múa lân rộn rã tiếng trống và những tràng pháo nổ vang ở các góc phố.                                    

Vô nhà nhìn đồng hồ trên tường thấy kim chỉ hơn hai giờ. Thế là hơn sáu tiếng đồng hồ, bác đưa hai nhóc gái và một nhóc trai chạy bố show: Mả Thánh, Chùa Linh Sớn, ấp Số Bốn và ấp Xuân An. Bác mình đã mất từ lâu, nếu bác còn sống mà đọc được những điều mình viết như vầy thì thế nào cũng ăn vài cái cốc nhẹ lên đầu.

 

Tính ra tiền lì xì mình nhận được cũng đủ tiêu xài trong ba ngày Tết. Nay nhớ lại có lẽ mình cũng có cả chục năm theo bác “du xuân” trong ngày mồng một của những ngày thuộc thập niên 50-60. Làm sao quên được cái thời hoang sơ của thành phố Đà Lạt. Phong cảnh hữu tình và người thì dễ thương.

 

– Phong Châu

(Cuối năm Nhâm Dần)

Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.