Hôm nay,  

Ước mơ lì xì...

18/01/202317:22:00(Xem: 3889)
Tùy bút ngày Xuân

Baolixi
1.

Một buổi trưa tháng Chạp, một mình lòng vòng trong khu China Town, chợt nhớ con đường nhỏ trong khu Chợ Lớn, Sài Gòn thuở xa lăng lắc... Mắt bỗng chạm cửa những căn nhà nhỏ, cũ kỹ, song lại sáng bừng bởi những tấm liễn đỏ rực, với những hàng chữ nhũ vàng, sắc nét. Đó là những câu đối, câu liễn trong những ngày giáp Tết âm lịch? Lòng bỗng nao nao một nỗi niềm khó tả.

 

Buổi tối vào khu chợ Việt quen thuộc, lại nhìn thấy bày bán la liệt, những hình ảnh cá chép, Táo Quân, cùng những phong bao, phong bì màu đỏ, dùng để lì xì, mừng tuổi. Thuận tay, chọn một mua một xấp phong bì, nghe thơm mùi giấy mới của những năm tháng tuổi ấu thơ ở quê nhà. Mùi thơm có lẽ còn lẫn khuất đâu đây, mang cả vào giấc mơ của người xa xứ, trong những ngày Xuân, ngày Tết cận kề?

 

2.

Mới sáng sớm ngày đầu năm mới, lũ nhóc chúng tôi thuở ấy, đã thức dậy sớm, sau khi đánh răng, rửa mặt, đã diện ngay bộ đồ mới cứng còn thơm mùi vải, mùi hồ mà ba mẹ đã mua cho trước đó, ngoan ngoãn, tề tựu ở phòng khách, để chờ mừng tuổi ông bà, cha mẹ và các anh chị, đồng thời... “cá” xem năm nay sẽ được “lì xì” như thế nào, và được bao nhiêu tiền.

 

Lì xì theo Wikipedia, là tập tục của các nước vùng Châu Á, xuất xứ từ Trung Quốc, do người lớn “mừng tuổi” cho trẻ con trong những dịp Tết Nguyên Đán. Lì xì còn gọi là “Hồng bao”. Còn theo tác giả Hạo Nhiên và Nghiêm Toản, “lì xì” có nguồn gốc từ tiếng Trung Hoa, có ý nghĩa là “Lợi thì”, tức là “Số lời thu được do mua bán mà ra” hay “sự tốt lành, có lợi” hoặc “vận tốt vận may”, chỉ sự được lợi, được tiền, là điều may mắn, mang lại cái hên cho người được lì xì.

 

“Lợi thì” phiên âm theo tiếng Quảng Đông là “lì shì” đã biến thành phương ngữ của người Việt là “lì xì”, và do có xuất xứ từ “Hồng bao” nên phong bì đựng tiền lì xì phải là phong bì màu đỏ, trên phong bì đỏ có thể có những chữ chúc phúc, may mắn bằng nhũ vàng, hoặc các hình ảnh vui tươi hay hình những đồng xu cổ màu vàng, theo người Trung Hoa xưa, phong bì màu đỏ chỉ sự vui tười, may mắn, và kỵ những phong bì màu khác, nhất là không sử dụng phong bì màu trắng, và tiền lì xì là tiền người lớn cho trẻ em, sau này mở rộng ra tiền lì xì cho người bưng tráp trong đám cưới, tiền mừng thọ cho người lớn tuổi và cả tiền lì xì cho khách trong tiệc mừng khai trương, tân gia, lên chức, mừng thọ... Và lì xì đã biến thành một hoạt động văn hóa không thể thiếu trong những ngày Tết, ngày lễ khánh thành, tân gia, mừng thọ của cư dân vùng Đông Nam Á như Mã Lai, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, v.v... Có nơi còn có thêm những qui định, như tiền mừng, không được mang con số “4” như 40, 400, 4000... vì 4 đọc là “tứ’ gần giống với chữ “tử” mang ý nghĩa xấu, hay không lì xì tiền cũ, vì sợ mang đến sự xui xẻo, tiền lì xì phải là những đồng xu, hay tiền giấy còn mới tinh, chưa xài, mới mang đến vận hên, may mắn suốt năm.

 

Tuổi thơ thuở ấy, với những đồng xu, đồng hào còn “mới keng”, bóng loáng ánh bạc của “kim ngân” hay thơm mùi giấy mới của những đồng tiền giấy vừa mới lấy ra từ “két nhà băng”, là sự vui mừng, sung sướng của trẻ con. Những đồng tiền mới lì xì ấy, được... mau chóng mang ra mua pháo đốt, hay đặt trong những sòng “bầu, cua, cá, cọp”, hoặc “lô-tô” hay đem bỏ ống heo, cất giữ, đến mãi tận năm sau, đem ra lì xì lại cho em út, với những kỷ niệm thân thương khó phai nhạt...

 

3.

Ước mơ được lì xì, dường như luôn có sẵn trong mỗi con người từ lúc ấu thơ, trưởng thành và cả những lúc xế chiều? Thuở nhỏ mong mau đến Tết để được người lớn lì xì. Trưởng thành mong được tiền lì xì trong... đám cưới của chính mình, từ bạn bè, người thân, hay tiền “lợi thì” trong ăn mừng tân gia, khánh thành cơ sở kinh doanh, mua bán. Khi lớn tuổi thì mong họ hàng, con cháu, “mừng thọ” mình bằng những “hồng bao” đỏ thắm...

 

Bất giác, nhìn lại xấp phong bì mình mới mua. Tôi chợt nghĩ, ngày mai phải ra ngân hàng đổi một ít tiền mới để Tết này, tôi sẽ lì xì cho con cháu, em út, bạn bè của mình, như một tiếp nối của mùa xuân, cho những giấc mơ... may mắn, sung túc suốt một năm của mỗi một năm mới tuổi đời.

 

– Trần Hoàng Vy

Những ngày cuối tháng tư quân trường Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung vẫn đang cắm trại, chồng tôi chưa về, nhưng trước khi đi anh đã bảo tôi ở nhà có gì thì bám theo cha mẹ và các em để đùm bọc lẫn nhau. Gia đình cha mẹ tôi ở gần nên hai nhà như một...
Tôi bồn chồn liếc mắt nhìn đồng hồ, rồi lại nhìn chừng về phía hội trường đầy ấp hơi người và ồn ào tiếng cười nói. Đã hơn tám giờ mà chương trình vẫn chưa bắt đầu. Chưa bao giờ tôi thấy khó chịu về chuyện giờ giấc như lúc nầy. Thấp thoáng trong đám đông, tôi thấy Khánh đang chạy đôn đáo chừng như kiểm điểm sự có mặt của một số khách “nồng cốt”, để bắt đầu chương trình...
Tiếng hát Cẩm Vân trong trẻo, vút cao, nghèn nghẹn đầy xúc cảm. Tôi buông thả Mi7 và chuyển vội La thứ như chưa muốn ngừng những âm vang cuối. Nốt dứt đoạn ngân dài, tất cả lặng yên, bên ngoài có tiếng gió đêm Sài Gòn vội về, bất chợt...
Tố Như tiên sinh đã để lại cho hậu thế câu thơ tháng ba đẹp như tranh trong truyện Kiều, “cỏ non xanh tận chân trời/ cành lê trắng điểm một vài bông hoa…” Đọc xong câu thơ thì nửa số người đọc đã nhắm mắt lại để hình dung ra bức tranh mùa xuân vẽ bằng thơ; với hai màu xanh, trắng vào tay hoạ sĩ, chúng ta có bức tranh chiêm ngưỡng bằng mắt, nhưng với nhà thơ chúng ta có bức tranh trong trí tưởng tuyệt vời… Tôi nói với ông bạn mê thơ đang ngồi chung bàn cà phê mà mọi người đang nói chuyện thời sự nên không phù hợp với một sáng tháng ba trời mát lạnh vì mưa đêm qua rả rích tới sáng, anh em rủ nhau ra ngoài trời ngồi uống cà phê cho mấy ông bạn còn hút thuốc được thỏa mãn thú tính. Thế là những ông đã giã từ làn khói mỏng bị những ông còn hút thuốc giận cho, rồi cãi nhau.
Đầu tháng Tư, hoa tulip đã vội gõ cửa mọi nhà sau giấc đông miên ngắn ngủi. Mùa Xuân cũng theo hoa tulip trở về, mở ra khúc giao mùa. Trong gió Xuân đầu mùa còn lạnh, ngoài xa trên cánh đồng rừng quê muôn vạn búp non đang nẩy lộc đâm chồi. Cỏ non, cây rừng già vẫn mạnh mẽ vươn lên tràn đầy sức sống. Đàn cá hồi thức giấc bắt đầu vượt thác trở lại quê hương nguồn cội...
Một thời gian ngắn sau Hiệp Định Genève tháng 7, 1954, gia đình chúng tôi rời Phủ Cam dọn vào ở trong khuôn viên trường Đồng Khánh. Măng chúng tôi dạy môn Nữ Công Gia Chánh, và có lẽ vì là một quả phụ với 6 con, nên được Bà Hiệu Trưởng Nguyễn Đình Chi, ưu ái giúp đỡ cho gia đình được sống trong 2 căn phòng trên lầu Ba (bên phải, nếu từ cổng trước nhìn vào). Cùng ở trên lầu Ba sát cạnh gia đình chúng tôi là gia đình của bà quả phụ Trần Thi, mà chúng tôi thường kêu là Dì Hoàn vì Dì là bạn của Măng tôi từ khi 2 người học chung với nhau tại trường Đồng Khánh trong thập niên 30. Gia đình Dì cũng đông không kém gia đình tôi – 7 người. Dì ít cười và có vẻ nghiêm khắc. Các nữ sinh nghỉ trưa tại trường rất sợ gặp “Bà Thi”, dễ bị Bà la rầy hay cho “kỷ luật”, nhất khi bị bắt gặp đi lang thang trong hành lang thay vì phải ở trong phòng học.
Hạo chỉ có cậu Tân là người cậu duy nhất. Mẹ Hạo là chị cả trong gia đình có bốn người con. Mẹ, dì Hiên, cậu Tân và dì út Hậu. Cậu Tân vốn là một nông dân chính hiệu. Hình như cậu học mới qua bậc tiểu học là cậu bỏ cây bút để cầm cái cày, cái cuốc. Đến năm cậu trên bốn mươi, cậu đã có bảy người con, bốn trai, ba gái. Có lẽ cậu thấy cuộc sống làm một người nông dân quá cực hay sao mà cậu nhảy ra tham gia chánh quyền. Cậu được bầu làm xã trưởng...
Những chuyến xe ngập ngừng, chậm chạp lăn trên con đường gập ghềnh để chuyên chở đoàn người đi thăm cha, anh, em, con, chồng ở khắp nơi trong những trại tù, nơi mà lớp người mới gọi là "Trại Học Tập Cải Tạo" nghe ngược ngạo, chua chát nhiều đắng cay. Từ Quốc Lộ 1, phải đi khoảng chừng 2 cây số, trên một con đường mòn, xuyên qua rừng cây gỗ quý cẩm lai là đến trại tù cải tạo Hàm Tân...
Cuộc hôn nhân ngắn ngủi vài năm của Bình với người vợ cũ tan vỡ. Mộng Điệp là người phụ nữ vật chất, đứng núi này trông núi nọ, tính nết đanh đá chua ngoa luôn có những lời nặng nhẹ chê bai chồng không biết kiếm tiền giỏi như người ta...
Chuỗi dài thời gian của quá khứ ta còn giữ được. Giữ được mãi mãi cho đến khi trí đã mòn sức đã kiệt. Giây phút hiện tại coi như chẳng có gì. Nó vuột khỏi tay ta từng sát na rồi cũng tan biến vào quá khứ đề xếp hàng cùng với chuỗi thời gian đã qua. Tương lai là điều chưa có, chưa đến nên ta cũng chẳng làm chủ được gì của những điều ở cõi xa thẳm diệu vợi...
Hôm đi Cần Thơ, đứa cháu gọi bằng chú kể chuyện đi Hòn Kẽm- Đá Dừng, ranh giới tự nhiên hiện nay giữa 2 huyện Quế Sơn-Hiệp Đức, một địa danh mà thời trung học và đến mãi sau này tôi vẫn nghĩ là vùng núi non hiểm trở phía thượng nguồn sông Thu Bồn, nơi được biết đến nhiều bởi trận lụt kinh hoàng ở Quảng Nam năm Giáp Thìn 1964...
Mùa hè một chín bảy hai, cha tôi tử trận ở Long Mỹ, để lại một vợ và bốn con. Mẹ lúc đó mới ba mươi sáu, tôi mười lăm và thằng Thanh vừa bảy tuổi. Sau gần ba tháng bàng hoàng, tang thương mẹ tôi trở lại với cuộc sống cơm áo đời thường với đàn con nhỏ dại...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.