Hôm nay,  

Một nét văn hóa khác

25/02/202316:16:00(Xem: 4793)

Tạp ghi

 

Kieth & Brandon, những giọng ca hay
Tác giả và hai người bạn da đen.



Cuộc sống người Việt hải ngoại ngày tháng trôi qua quá bình yên, ngày đi cày tối nghỉ ngơi cứ như cái vòng tròn khép kín. Đời sống tương đối thiếu những sinh hoạt cộng đồng: Hoạt động công ích, thể thao, văn nghệ… năm thì mười họa mới có một sô ca nhạc. Người Việt hải ngoại khá đông và cũng đã lâu nhưng có mấy ai đi xem một trận bóng cà na hay bóng rổ. Điều này khác biệt với người bản địa. Họ  cũng cày như ta nhưng ngoài việc mưu sinh ra còn tham gia những sinh hoạt chung rất tích cực.

 

Thứ bảy tuần rồi tôi được mời tham gia một dạ tiệc nho nhỏ mừng tháng Lịch sử Người Da đen do nhóm bạn da đen ở Fairburn City mời. Chúng tôi làm chung với nhau đã lâu nên thân thuộc và biết nhau rất rõ, ấy vậy mà khi đến dự tôi không khỏi choáng ngợp. Ngày thường thì xuề xòa ấy vậy mà khi dự dạ tiệc lập tức trở thành những ông hoàng châu Phi hay tiểu vương Ấn Độ. Họ ăn mặc sang trọng, toàn áo lông thú, trang phục đắt tiền, chưng diện ngất trời luôn.

 

Tôi thì không biết gì về âm nhạc, chỉ cảm nhận bằng cảm tính thôi. Nói đến nhạc Jazz thì không thể không nói đến kèn trumpet, một nhạc cụ không thể thiếu. Tiếng kèn lúc trầm bổng, lúc rền rỉ thống thiết như thân phận người da đen của những năm cuối thế kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi. Tiếng kèn trumpet kéo dài như tiếng còi tàu hơi nước trên bến New Orleans. Ngày nay con tàu hơi nước vẫn đậu ở đấy, mỗi sáng vẫn có vị thuyền trưởng kéo còi và chơi đàn piano trên boong tàu để chào đón du khách. Tiếng kèn harmonica thì sắc bén và trong trẻo hơn. Nhạc Jazz đã biến tấu liên lục trong trăm năm qua với nhiều dòng khác nhau nhưng kinh điển nhất vẫn là dòng nhạc Jazz gốc New Orleans. Vài giọng ca trong cộng đồng địa phương như Brandon, Keith, Eddie… hát như dồn cả tâm hồn vào bản nhạc, hát bằng tất cả nội lực và sự đam mê. Phần nhạc Rap đặc biệt có Rapper như Brandon. Anh ta ngoài công việc mưu sinh ở hãng còn là một ca sĩ trên YouTube. Anh ta đã ra nhiều clip. Brandon với chất giọng khàn khàn nhưng bắn Rap như súng liên thanh, mình nghe không mà cũng cảm thấy líu cả lưỡi, víu cả tai. Nhạc Rap xuất phát từ những khu ghetto cuối thể kỷ mười chín đầu thế kỷ hai mươi. Ban đầu là những tiếng nói phản kháng bất công xã hội, phản ảnh sự nghèo đói cũng như thân phận người da đen, miêu tả những uẩn ức trong tâm lý… Rap cũng như Jazz và các dòng nhạc khác liên tục thay đổi, biến tấu để cho ra nhiều dòng nhạc mới. Nhạc Rap hát khá thoải mái tự do và tự chế theo cảm nhận và cảm tính, tất nhiên là khuôn nhạc nền vẫn vững.

 

Tôi cảm nhận hát Rap hay đọc rap, nói Rap có chút gì đó giống lối hát cương hay hô lô tô của người Việt. Ráp phải bắn nhanh và có vần điệu. Việt Nam giờ cũng có Rap với những tên tuổi khá trẻ như Su Boi, Đen Vâu, JBLee 7... Nghe nhạc Rap của người da đen thực tình mà nói rất nhiều điệp khúc và từ ngữ thô tục chẳng hạn như: “That the big old ass right there”, “Stroke it with the emotions”, những từ như: “Mother f**k”, “ ass”, “cunt”, “hole” và những từ bạo lực giết, hiếp, đốt…

 

Thằng Brandon hát và nhảy vô cùng bốc lửa, nó như lên đồng với âm nhạc. Cả đám bạn uống như hũ chìm, toàn rượu nặng, thức ăn cũng có đấy nhưng chẳng thấy ăn bao nhiêu, uống là chính. Đêm dạ tiệc cuồng nhiệt, Jazz thống thiết, Rap bắn tới bến luôn. Mọi người nhảy nhót tự do thoải mái chẳng cần phải theo bài bản. Tôi nhìn thấy mỗi người nhảy và lắc lư hay luyến láy theo cái cách của mình, phải công nhận bọn họ có đôi chân rất dẻo, người to cao sồ xề vậy nhưng ra sàn thì nhảy nhuyễn. Người da đen hầu như không có khái niệm e thẹn hay mắc cỡ như người mình, họ rất tự tin, trong dạ tiệc ai cũng nhảy chứ chẳng có ai ngồi yên thụ động như người Việt.

 

Giữa những người ăn mặc sang trọng quá, tự nhiên tôi cảm thấy hơi bị lạc lõng vì chỉ mặc một bộ veston đơn sơ rẻ tiền, tuy nhiên mọi người thân thiện và chẳng ai để ý việc ăn mặc của tôi. Tôi và nhóm bạn này chơi thân ngày ngày đùa vui và chơi khăm nhau. Có lần thằng Mauricio bảo tôi: “Mầy làm ra tiền thì phải ăn mặc đồ hiệu sang trọng, phải là King thì người ta mới nể mầy”. Tôi bảo nó: “Tao không quan tâm người ta xem thường hay xem trọng, giá trị ở nội tại chứ không phải ở quần áo bề ngoài”. Nó lại nói: “Đây là Mỹ chứ không phải xứ mầy”. Thằng Mauricio không biết đấy thôi, xứ tôi người ta còn xem bề ngoài, coi mặt hơn ai hết.

 

Buổi dạ tiệc mừng tháng Lịch sử Người Da đen thật vui và sôi động. Tôi là người khách da vàng châu Á duy nhất, nhỏ con nhất trong đêm tiệc này. Dạ tiệc vui quá, xả hết căng thẳng và năng lượng, riêng tôi cảm nhận thêm một nét văn hóa khác biệt với văn hóa truyền thống của mình cũng như văn hóa người da trắng hay văn hóa của người Mỹ Latinh.

 

– Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 0223)

Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.