Hôm nay,  

Trận lụt vàng

01/04/202310:40:00(Xem: 4214)
Truyện

reeducationcamps

Bầu không khí trong phòng giam lúc nào cũng ngột ngạt khó chịu. Nỗi khó chịu ấy cứ liên tục bao trùm đến nỗi mọi người phải quen đi như một lẽ tất nhiên. Tôi càng khổ sở hơn nhiều vì đã vướng phải bệnh ghẻ mấy tháng nay. Ghẻ mỗi ngày mỗi lan ra trên tấm thân gầy còm của tôi kéo theo luôn cả sự tàn tạ về sức khỏe. Mới vài hôm đây tôi lại mắc thêm chứng tê bại, cử động tay chân rất khó khăn. Thuốc men quá thiếu, ăn uống cũng quá thiếu, tình trạng chữa trị đối với tôi thật là bi quan.
     Buổi sáng ấy tôi thấy người uể oải, đầu choáng váng, nói không ra hơi, ngột ngạt khó chịu gấp bội ngày thường. Sự khó chịu gia tăng tột mức khiến tôi đã nghĩ rằng đời mình sắp đi đứt. Ở đây đã có mấy người lần lượt "thăng" rồi. Mang một lần hai chứng bệnh, bệnh ghẻ thì chỉ chữa bằng cách xức nước đắng thuốc lào, bệnh tê bại thì chỉ chữa bằng cách tự vận động, tôi thật hoàn toàn tuyệt vọng. Thế là tôi cứ nằm liều, lười luôn cả việc đi cầu đi tiểu. Rõ ràng mình đang ở tình trạng chờ đợi tử thần đến rước. Với sức khỏe mỗi lúc mỗi đuối thêm và sự ngột ngạt khó chịu tột cùng này, có lẽ tôi không thể chịu đựng qua được một vài tiếng nữa. Tôi gọi một thằng bạn thân, thằng Thái lại, trù mở lời trăng trối với nó, nhưng nó nhăn mặt chận họng:
     – Tầm bậy. Sáng nay trời nực nội khó chịu hơn mọi ngày. Ai cũng thấy như vậy cả chứ không phải một mình mày đâu!
     Lúc bấy giờ cơn đau đớn hành hạ quá làm tôi không còn đầu óc nào để ý tới ai. Nghe Thái nói, tôi nghĩ là nó trấn an tôi thôi. Khi tôi đang bị dằn vật bởi cơn đau thì bỗng nghe tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái nhà. Nhiều tiếng reo mừng vang lên:
     – Đã quá! Mưa tới rồi!
     – Mưa lớn lắm anh em ơi!
     Tôi thấy không khí trong phòng đột ngột dịu xuống và như được ai cho uống thuốc tiên, người tôi cũng khỏe ra nhiều. Tiếng mưa nghe rào rào. Thoáng chốc, mọi người trong phòng đều nghe được tiếng nước chảy dữ dội từ các máng xối. Tiếng cóc nhái, tiếng ễnh ương bên ngoài cũng đua nhau trỗi lên. Hơi nước mát bốc vào trong phòng làm cho mọi gương mặt đang khô héo bỗng như tươi lại. Tiếng nói tiếng cười trong phòng trở lên rộn rã... Chúng tôi đang sung sướng thưởng thức cái không khí mát dịu hiếm hoi chưa bao lâu thì giựt mình vì tiếng kêu:
     – Coi chừng nước vô phòng anh em ơi!
     Mọi người nhìn ra. Một đường nước đang từ từ bò qua dưới kẽ tấm cửa bửng bằng sắt. Dòng nước lan lan thật nhanh trên nền phòng. Những người nằm gần cửa vội vã xếp tất cả đồ đạc ôm theo mình. Khiếu và Thái nói với nhau:
     – Đưa thằng Trọng lên cửa sổ kẻo mắc nước bạc bệnh nặng thêm đó!
     Thế là tôi được đẩy lên thành cửa sổ. Bấy giờ người tôi đã khỏe lại, tỉnh lại, nhưng tôi vịn các song sắt cũng khó khăn lắm. Những ngón tay của tôi đều mất cảm giác và rất khó cử động vì chứng tê bại. Không thể tin tưởng ở những ngón tay của mình, tôi phải quài một cánh tay ra ngoài quặp khuỷu kẹp lấy một song cửa dù làm cách này rất mỏi.
Mấy phút sau cả phòng xôn xao chộn rộn hẳn lên. Nước đã vào khắp phòng và từ từ dâng. Mọi người đều phải ôm mang đồ đạc của mình lên cả. Dầu vậy, họ vẫn hớn hở nói cười vì quá lâu họ mới hưởng được một bầu không khí dễ chịu như lúc đó. Một số người không muốn giẫm nước tranh nhau leo lên cửa sổ đeo vịn như tôi. Một số khác không còn chỗ phải chen nhau tránh lên ô vệ sinh (nơi có một bể chứa nước và hai cái cầu tiêu hai đầu, xây cao hơn nền phòng) vì đây là chỗ duy nhất nước chưa lên tới. Nước vẫn tiếp tục dâng đều.
     – Trời ơi! Của quí! Vàng nổi!
     Những người đang ở trên ô vệ sinh bì bõm nhảy xuống dưới trở lại. Theo sau chân họ là từng khúc, từng miếng phân người phát xuất từ miệng hai lỗ cầu cứ từ từ tỏa ra mọi phía. Chúng càng lan rộng càng biến dạng. Từ cửa sổ nhìn xuống tôi tưởng như đám mây lan khi trời sắp mưa. Mọi người cứ xô dạt nhau mà tránh. Nhưng chỉ thoáng chốc là không còn chỗ để tránh nữa vì phân người đã loang ra khắp nơi. Trong khi đó, từ hai lỗ cầu phân người cứ thiên hình vạn trạng tiếp tục trồi lên. Nó trồi lên, trồi lên, trồi lên không dứt khiến tôi phải mỉm cười đau khổ: “Đúng là của trời kho vô tận!” Phân người cứ tiếp tục theo mặt nước lên cao. Bấy giờ thì nỗi vui sướng của mọi người đã qua hẳn nhường chỗ cho nỗi ghê sợ lợm tởm. Phân người đã phủ kín mặt nước. Những người mặc quần dài ban đầu tưởng xắn ống lên là yên, lúc này nước càng lên cao đã làm họ vô cùng lúng túng. Thứ nước này thật đáng sợ. Ngoài phân, váng dơ, lại còn biết bao nhiêu côn trùng ở nước, dòi, kiến cũng xuất hiện khắp nơi. Chúng bò lên chân người, ruồng vào áo quần làm cho ai nấy đều khó chịu. Nước đã lên khỏi đầu gối. Nhiều người sợ dơ quần bấy giờ muốn cởi cũng không được nữa. Người nào người nấy đều phải ôm mang đồ cá nhân muốn luội tay còn làm gì được. Mấy anh sức khỏe không tốt, chân yếu, đứng quá lâu xiêu qua vẹo lại vấp vào người khác làm rơi đồ xuống nước dơ cãi cọ om sòm.
      Thật là hú vía! Tôi gài cánh tay mình vào song cửa, lúc ấy cũng thấy tê cứng nhưng vẫn cứ mừng. Nhờ bệnh mà tôi được lên cửa sổ trước, đồ đạc hoàn toàn không bị dơ và người cũng thoát dầm nước. Nước cứ tiếp tục dâng cao làm cho mọi người càng thêm hoảng vía. Cán bộ trại giam bên ngoài có lẽ giờ này cũng đang lo cứu đồ đạc của họ. Những phòng tù này bị khóa kỹ tới hai lớp cửa họ đâu cần bận tâm! Nếu tình trạng này kéo dài qua đêm thì thật khốn nạn. Nhiều anh em bị thấm nước bắt đầu kêu lạnh. Có vài người đã nổi da gà, run lúi úi. Nước đã lên tới háng mọi người. Người cao dò nhất trong phòng bấy giờ phân dơ cũng đã bám vào quần cả lớp...
     "Bõm!"
     Một luồng nước bắn vọt lên hất bao nhiêu là chất dơ tung tóe tràn đầu tràn mặt mũi những người chung quanh người bị té. Anh Bội, anh bạn tù nhỏ con đang co người vịn trên thành của sổ không hiểu sao lại bị trật tay. Có lẽ do tay anh bị lạnh và tê đi. Tiếng chửi thề lẫn tiếng cười vang lên lộn xộn. Tội nghiệp anh Bội người ướt loi ngoi đứng dậy, toàn thân không một chỗ nào khỏi dính phân. Những người không may đứng quanh đó không ít thì nhiều đều phải chia phần. Anh Bội bất đắc dĩ phải xông pha bì bõm trong nước đầy phân lội vào gần bể nước để tắm giặt. Sau đó anh dùng cái áo ướt để quấn che vừa đủ phần cần thiết của mình...
     May thay, lúc đó tiếng mưa bên ngoài đã giảm. Nước cũng chỉ lên ngần ấy thì ngừng lại rồi bắt đầu rút. Nhiều người cứ nhìn vào ngấn nước ở bốn mặt tường. Nước rút hơi chậm hơn khi tiến vào. Cùng với việc nước rút, một vấn đề cấp bách hiện ra trước mắt mọi người. Khi nước lên, tuy có nhiều phân dơ nhưng nó nổi trên mặt nước, không đặc lắm, cũng dính vào chân mọi người nhưng nhờ nước lõng bõng nên ít thấy khó chịu. Nước rút chừng nào thì phân dơ càng co cụm, đặc quánh lại. Cuối cùng chúng tạo thành một lớp bùn phân sền sệt xập xèo lút quá mắt cá chân thật ghê tởm. Bước một bước rùng mình kinh khủng một bước, nhưng nào ai đứng yên được. Với lượng người quá lớn so với diện tích phòng giam, không mấy chốc cả lớp phân cục bị giẫm nhão ra hết. Chính những cục phân nguyên khi bị bể đã phát ra mùi tanh tưởi nguyên thủy làm cho bao nhiêu người muốn nôn mửa. Tôi may mắn ngồi trên thành cửa sổ nhìn anh em lội cũng phải rùng mình thon thót.
     Ban chỉ huy phòng bắt đầu chia công việc thu dọn. Dụng cụ để xúc hốt không có, chính trưởng buồng và phó buồng đều phải hi sinh cả đồ đựng cơm để anh em xúc vào một cái xô đem đổ trở lại vào cầu tiêu. Số khác thì lo múc nước giội rửa, quét dọn dần. Lúc này ngoài việc giội rửa chung, không ai được quyền dùng nước cho các việc khác. Ba tổ cứ thay phiên nhau gồng mình mà làm. Mọi người vừa đói vừa mệt mỏi vì bữa cơm chiều vẫn vắng vẻ mà thân thể thì mấy tháng nay nằm hoài cũng quen lười. Có lẽ đây là buổi công tác lao động “xã hội chủ nghĩa” tự giác vô tiền khoáng hậu mà những người trong cuộc khó quên được. Nước rút từ buổi tối mà mãi đến khoảng nửa đêm phòng mới tạm sạch. Xong việc chung những người có đồ dơ mới được phép đem giặt rửa. Khi trận lụt đang diễn ra, ít ai để ý đến mùi phân và những phản ứng tự nhiên của mình. Xong việc người ta mới để ý đến từ đầu đến cuối phòng khắp nơi đều có tiếng nôn ọe khậm khạc. Hình như đồ đạc của mọi người đều nhiễm ít nhiều mùi phân, người ta cứ bắt chước nhau ngửi đồ mình rồi khịt mũi lắc đầu. Ai nấy đều dùng đồ riêng lau chùi lại hoặc dùng quạt phất tới tấp cho sàn chóng khô.
     Khoảng một giờ khuya nhà bếp mới mang đồ ăn đến. Anh cán bộ vừa mở cửa liền vọt chạy ra xa, tay dằn ngực, miệng khạc nhổ:
     – Các anh ăn ở dơ dáy quá! Thiếu văn hóa quá!
     Hai anh tù nhà bếp vì bổn phận phải đưa cơm nước vào và thu lại đồ cũ nhưng trông bộ cũng khổ sở lắm. Anh trưởng buồng hỏi:
     – Anh em đói quá rồi! Sao trễ dữ vậy!
     – Thông cảm, phải cố gắng lắm mới có củi nấu đấy! Sao hôi cứt quá chừng vậy mà các anh chịu nổi?
     Anh trưởng buồng kể sơ cho anh nhà bếp nghe việc cầu bị nổi phân, anh tiếp:
     – Anh làm ơn nói với cán bộ xin khoan đóng cửa phòng một chốc cho mùi phân bốc đi bớt có được không? Hôi quá anh em càng sinh bệnh ra đấy!
     – Được, tôi nói cho!
     Anh tù nhà bếp lui ra nói với anh cán bộ:
     – Phòng này cầu tiêu bị nổi phân họ mới dọn xong. Xin cán bộ khoan đóng cửa một chốc để cho mùi phân bốc bớt, xin cán bộ thông cảm cho họ!
     Anh cán bộ lạnh lùng nói:
     – Không được! Mở như thế cho nó thúi cả trại ai mà chịu nổi! Mà mở cửa thì tôi phải đứng đây vừa canh chừng vừa ngửi cứt à? Chìa khóa đây, anh vào đóng khóa lại ngay cho tôi!
 
*
 
Khi chia cơm xong, mọi người đang lần lượt lấy phần mình về bỗng có người rú lên:
     – Thôi chết tôi rồi!
     – Kia kìa! Gớm ghiếc quá chừng!
     Nhiều người xúm lại coi chuyện gì đã xảy ra. Thì ra người ta chợt thấy trong tô cơm độn 80% sắn của anh kia có mấy con dòi đang bò lúc nhúc. Khổ chủ buồn bã định đổ đi thì một người cản lại:
     – Để cho tôi! Hạt ngọc của trời đâu phí được!
     Anh vừa nói vừa cầm lấy cái tô của người bạn lượm mấy con dòi vứt vào bồn cầu rồi úp cái phần cơm ấy vào tô mình. Một anh bạn khác thấy vậy cười hóm hỉnh:
     – Sao lại vứt dòi đi! Dòi mẹ ngon dòi con béo, thêm vitamin mà lị!
     Theo sự xầm xì mà cười với nhau, hình như còn nhiều người nữa phát hiện trong cơm mình có dòi nhưng họ chỉ lặng lẽ lượm dòi vứt đi...
     Sau cơn mưa, không khí trong phòng vẫn tiếp tục mát dịu, lại trải qua một ngày quá mệt mỏi nên đêm đó phần đông anh em ngủ được. Tuy thế, chốc chốc lại có người phải vùng dậy vì dòi chun vào lỗ tai hoặc ruồng vào tóc. Không hiểu chúng núp ở đâu chui ra mà cả đến hàng chục người bị như thế...
     Thế mà đâu đã hết, hai ba ngày sau anh em còn nhiều người vẫn thấy dòi bò bên chân vách hoặc trong đồ đạc của mình.
     Trận lụt ấy xảy ra vào năm 1976 ở trại giam Tân Hiệp Biên Hòa (trại B5). Dù nó không gây thiệt hại nhân mạng hay vật chất nhưng nó cứ ám ảnh tôi mãi. Đã mấy chục năm qua, mỗi khi hồi tưởng lại, tôi vẫn còn rùng mình. Khổ nỗi, lâu lâu nó vẫn tự động đến thăm tôi một lần trong giấc mộng...

 

– Ngô Viết Trọng

Qua khung kính cửa sổ phi cơ, Hạnh thấy những ánh đèn ly ty lùi lại trong bóng đêm. Khoảng không gian giữa những chấm sáng ly ty đó và chiếc Boeing đồ sộ này có lẽ xa lắm; nhưng Hạnh tưởng như nàng thấy rõ những con đường mòn len lõi trong rừng thông, từng làn sóng òa vỡ lao xao trên ghềnh đá và những bệ xi-măng vỡ vụn của một phi trường bỏ hoang. Phi trường đó mang tên Orote Point. Cái tên lạ, vô nghĩa như khoảng thời gian dài vô vị trong căn lều vải, trên những chiếc ghế bố nhà binh.
Khi em đưa cái Thẻ Kiểm Tra, mình chưa đọc tên đã biết ngay là em. Nhưng mình cứ làm tỉnh ngồi ôn lại những kỷ niệm ngày xưa. Em thì tình thiệt không biết mình. Nhớ hồi nhỏ hai đứa cũng quyến luyến nhau, dầu chưa tới mười tuổi. Em hay giận hờn
Điện thoại rung, tôi coi thấy Dũng gọi. Biết Dũng chưa bao giờ đi làm sở, sẽ gọi lại nhiều lần nếu không được trả lời nên tôi khẽ đứng dậy bước ra phòng họp gọi bấm phône hỏi: - Có chuyện gì không Dũng? - Chiều nay anh có rảnh không? Tới em. Em làm vài món, mình làm lai rai vài lon. Thứ hai nhà hàng em đóng cửa. - Được ông chủ nhà hàng nấu là nhất rồi. Chết cũng phải mò tới. Anh đang bận họp. Tí anh gọi lại em.
Giữa bất an, và lo buồn của mùa.... mắc dịch, vẫn có những điều làm người ta vui hơn, an tâm vì dù tình hình có xấu đến đâu đi nữa, vẫn có những tấm lòng. Chẳng hạn ở Severna Park, Maryland, từ vài tuần nay, mỗi ngày vào khoảng 11 giờ sáng ở một góc đường, trên một cái bàn màu trắng, có một số túi giấy màu nâu (lunch bags) để ngay ngắn trên bàn với tấm bảng viết tay khá lớn : "Phần ăn trưa miễn phí cho bất cứ ai cần" .
Ánh nắng chói chang như thiêu đốt nhức cả mắt, cháy cả da thịt, da dẻ ai cũng sạm đen thô ráp, đầu bù tóc rối, môi nút nẻ tứa máu, có vệt đã khô, có vệt mới còn tươi. Mọi người nằm rũ rượi như những tàu lá chuối bị hơ lửa, áo quần nhàu nát, dơ dáy, xốc xếch trông như những hình nhân.
Ôi, Sài Gòn của Ngà, cái Sài Gòn xưa với đủ mọi sắc màu tươi thắm lấm lem, cổ tích với dân dã, ngọt ngào lẫn tủi cực, cái Sài Gòn mà người ta nhất quyết bôi xóa, nó đã mọc lên ở đây, ở cái khe đất người bản xứ không chú ý, như những cây me con con đã nhờ gió thổi hạt bay tứ phương rồi lén lút trồi lên ở bất cứ rãnh đất trống nào, trong khi Sài Gòn ngày nay ở quê nhà lại như những con phố ngoại quốc lòe loẹt cửa hàng thời trang với những tòa nhà chọc trời che hết thổi bay hết các sắc mùi quê hương yêu dấu.
Ba tôi là một sĩ quan truyền tin của quân đội VNCH. Gia đình tôi sống trong Bộ Tổng Tham Mưu, gần sát phi trường Tân Sơn Nhất. Vì sống trong trung tâm của Bộ Tổng Tham mưu nên ba tôi nói rất nguy hiểm và ba đã xây một cái hầm cho mẹ con tôi trốn đạn. Mẹ nói ba làm rất cực để giữ an toàn cho gia đình. Ba vì công việc nên đi hoài, mẹ ở nhà mỗi khi nghe đạn pháo nổ dắt chúng tôi chạy xuống hầm trốn đạn. Và ngày ấy đạn pháo bay như mưa, tôi còn nhớ cứ lâu lâu nghe tiếng súng bắn và nghe người ta la "chết rồi, máy bay cháy", hoặc "chết rồi, nổ rồi, cháy ..cháy" và trên radio thì cứ nghe bài hát "một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh…. ".
Bài viết “Đánh Trận Là Một Nghệ Thuật” đã được đăng trên “The Journal of Military History” số 68 vào năm 2004. Đây là một quyển báo rất có uy tín của quân đội Hoa Kỳ từ năm 1937, chuyên đăng những bài nghiên cứu có giá trị về lịch sử quân đội của mọi nơi trên thế giới. Dù đã ra đời mười sáu năm, bài viết này có một giá trị lịch sử đặc biệt vì người viết đã tham khảo rất công phu nhiều tài liệu của cả Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ và Bắc Việt. Bài viết này đã được Cố Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa nhận định là chính xác đến 95%.
Máu đã đổ suốt từ thời chiến tranh cho tới lúc hòa bình 45 năm nay, những giọt máu của người dân trong nước khao khát nền Tự Do Dân Chủ vẫn còn chảy trong nhà tù với những bản án khắc nghiệt dành cho họ và những người đã chết đều có thật. Rất thật.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Dù tôi đã sống trên đất Mỹ nhiều năm rồi, nhưng thỉnh thoảng, trong giấc ngủ hằng đêm, tôi vẫn gặp ác mộng về những lần trốn chạy kinh hoàng của một người bị săn đuổi. Choàng tỉnh dậy giữa đêm, tôi nhớ lại rất rõ nét những giấc mơ vừa trải qua, mồ hôi toát ra như tắm vì tôi như vẫn còn nghe văn vẳng đâu đây tiếng kẻng báo thức rõ mồn một, tiếng kẻng của các trại giam cộng sản Việt Nam được làm bằng những cái niềng (rim) xe hơi và dùng 1 thanh sắt gõ vào tạo thành 1 âm thanh vang rất xa. Ai từng ở tù hay bị đày ra những trại cưỡng bức lao động, hoặc trại tập trung cải tạo của cộng sản Việt Nam thì không bao giờ quên được tiếng kẻng này.
46 năm sau biến cố cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974, và 32 năm sau vụ thảm sát Gạc Ma nơi quần đảo Trường Sa 1988, cả hai đều do bàn tay vấy máu của Trung Cộng. Không chỉ bằng vũ lực, Bắc Kinh nay còn viện dẫn Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng ký như bằng chứng pháp lý gây khó khăn cho Việt Nam trong tranh chấp chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.