Hôm nay,  

Kỹ sư thời mới

01/07/202308:06:00(Xem: 4538)
Truyện

hammer-sickle
Vinh cầm cái ly nhỏ đưa lên “Dô. Anh em !”  “Ê. Sao khẩn trương thế, mày? Chưa có miếng nhắm nào vô bụng cả!”  Đặt ly xuống, nhìn khuôn mặt bị thịt của Sáu Diên đang cười, Vinh chợt thấy bực mình và cụt hứng. Câu phát biểu đầy từ ngữ mới của dân cách mạng vừa dung tục vừa lớn lối đã làm cho tiệc nhậu mất trớn. Đây là một buổi họp mặt thật bất ngờ không có dự định trước. Chiều nay, sau khi tan sở, Sáu Diên vừa bước xuống khỏi xe buýt gặp Lủy đang đi lơn tơn và cặp nách một chiếc giỏ bàng, bèn chận lại hỏi “ Giấu cái gì trong giỏ vậy, hả mày?” Lủy đưa mắt nhìn quanh rồi ra vẻ nghiêm trọng “Báo cáo thủ trưởng, đế chánh hẩu, 50 chữ, đảm bảo không có pha thuốc sâu rầy !” Mắt Sáu Diên sáng lên, cười vui “Kiếm đâu được hay quá vậy mày. Ngày mai chủ nhật. Tụi nó mới cho tao một mớ tôm thẻ ngon lắm. Hay là mình làm một bữa cải thiện đi!”. “Tui có biết nấu nướng gì đâu anh Sáu. Hay là mình đem lại nhà ông Vinh đi, chắc ổng có ý kiến hay!” Sáu Diên gật đầu ngay, rủ Lủy về nhà lấy tôm rồi cùng đi. Đến nơi, thấy Vinh và Sinh đang ngồi uống trà trước sân, cả hai lao vào nhanh làm như sợ đối phương trốn chạy. Lủy nhanh nhẩu “Có anh Sinh ở đây thiệt hay. Tụi tôi mới kiếm được tôm tươi và rượu ngon tính làm một bữa nhậu. Ông thầy có sáng kiến gì không ?” Sinh đứng bật dậy, cười ha ha “Sao mà cầu được ước thấy thế!” Chỉ tay vào bụi mía xum xê ở góc sân, Sinh nói tiếp “Tôi và anh Vinh đang bàn nhau, ước gì có tôm ngon mà làm chạo tôm để nhậu thì đã phải biết!” Sáu Diên nhìn Vinh “Hôm nay đúng là gặp may. Thôi thì nhờ cậu ra tay cho anh em vui vẻ.” Vinh đang buồn vì nhớ nhà, thấy nhân dịp này nhậu một chầu cũng được, để biết rượu vào lời ra tốt xấu thế nào. Chạo tôm là món ăn bà xã Vinh làm rất khéo và ngon. Trước đây, Vĩnh thường giúp vợ một tay khi có tiệc tùng nên bây giờ tự làm món này thật không khó. Hơn thế, quan cách mạng Sáu Diên, trưởng phòng cơ điện, thường thì cứ mày tao tưới xượi hôm nay lại dịu ngọt ra vẻ biết điều quá, thật khó từ chối. Vinh đùa “Còn thiếu nhiều món ‘vật tư’ để chế biến ra thành phẩm có chất lượng, làm sao đây anh Sáu!”  Sau khi nghe Vinh liệt kê còn thiếu bánh hỏi, bánh tráng, rau thơm, giá sống ... Sáu Diên cau mày than “Rau giá chắc mua được, chứ thời buổi còn khó khăn gạo không đủ ăn lấy đâu mà làm bánh hỏi hay bún và bánh tráng để bán!” Sinh lên tiếng “Mì sợi tiêu chuẩn lương thực của tôi còn nhiều. Mình lấy mì thế cho bún và khỏi bánh tráng có được không anh Vinh?” Sáu Diên mừng rỡ, lắc vai Vinh nói “Thằng Sinh có sáng kiến đáng biểu dương. Thôi cứ nhất trí như thế, anh nuôi nhé!” Không chờ cho Vinh lên tiếng, Sáu Diên quay qua Sinh nói “Vậy mày chạy ngay ra chợ mua giá rau rồi về nhà lấy mì sợi mang lại đây. Còn thằng Lũy đi kêu thêm mấy thằng nữa đến nhậu cho vui.” Lủy nhìn Vinh “Anh Tài đang đi phép, mình mời thêm hai anh Phùng và Thắng đến lúc 8 giờ được không?” Vinh gật đầu. Lũy bương bả chạy đi ngay. Việc phân công tổ chức một bữa nhậu đầu tiên, rất tình cờ, của các kỹ sư nhà máy ba năm sau ngày “giải phóng”, thời điểm được mô tả là “nhân dân ta còn đói”, được tiến hành thuận lợi nhanh chóng như thế.
    Bữa nhậu được bày ra trong nhà cho kín đáo. Bàn sa lông được xô vào góc rồi trải một manh đệm xuống giữa phòng khách thật vừa ấm cúng cho sáu người. Con số sáu gọn gàng là tổng số quân bình cho hai phe, ba kỹ sư “cách mạng”, hai kỹ sư và một cán sự “ngụy”. Từ đây đến cuối bài sẽ gọi là “mới” và “cũ” cho khỏi đau lòng và tránh đụng chạm vô ích. Sau cuộc đổi đời, sảy đàn tan nghé thật bi thương, kỹ sư cũ ở nhà máy này chỉ còn lại có ba người, còn kỹ sư mới từ Bắc vào tiếp thu nhà máy rất đông. Hiện diện tối nay chỉ có sáu người, con số này vừa là tình cờ nhưng cũng là một thu xếp kín đáo, mời gọi theo thiện cảm cá nhân nảy sinh dựa trên tính tình và cách đối xử với nhau sau một thời gian làm việc chung. Giao tiếp chỉ thuần nghề nghiệp, không mưu mô chính trị để hãm hại nhau.
    Một cách tổng quát, tuy có chủ quan nhưng khá chính xác, Vinh nhận xét và tạm phân loại cán bộ kỹ thuật mới của nhà máy làm ba hạng: kỹ sư chính qui, kỹ sư biên chế và kỹ sư nhân dân. Đặc biệt ở nhà máy này, sau 1975, chỉ huy kỹ thuật mới từ giám đốc xuống đến kỹ sư thường đều là dân hồi kết, nghĩa là người miền Nam. Hai chữ kép “chính qui” và “nhân dân” được sử dụng, và lạm dụng nhiều hơn, ở miền Bắc. Xã nghĩa Việt Nam thường chỉ trích và tránh dùng danh từ Hán Việt để ra vẻ như độc lập với Thiên triều, nhưng thực tế đã dùng nhiều cho mọi ngành, mọi nơi. Chính qui là chính thống và có qui củ. Bộ đội chính qui là lính chuyên nghiệp, được đào tạo bài bản, đánh trực diện chứ không lén lút, thụt ló như tụi du kích. Tương tự như thế, kỹ sư chính qui là thứ học hành đàng hoàng, có đến trường, có thi cử để chấm điểm (thi thiệt hay cuội thì còn tùy). Nói rõ hơn, phải học hết bậc tiểu và trung học trong 12 năm, sau đó được vào đại học kỹ thuật (trúng tuyển hay được gởi gấm vì là con cháu các cụ cả -5c- đều phải được chiếu cố như nhau, đấy là yêu cầu rất nghiêm túc của một chế độ ưu việt), theo học toàn thời gian và thi đậu tốt nghiệp.
    Trong manh tiệc hôm nay (không phải là bàn tiệc vì ngồi nhậu trên manh đệm trải dưới đất), và kể cả một đoàn đông đảo kỹ sư mới của nhà máy, chỉ có một kỹ sư chính qui duy nhất. Đó là Lê Hồng Sinh, 30 tuổi, đã tốt nghiệp kỹ sư cơ khí từ đại học bách khoa Mạc Tư Khoa, Liên Xô. Theo lời tự kể, cậu bé 6 tuổi tên Sinh đã theo cha tập kết ra Bắc năm 1954. Không ai biết vì nguyên do, hoàn cảnh hay động cơ nào đã khiến cho một người cha chịu khó mang một đứa con thơ xuống tàu để tập kết ra Bắc. Cậu bé Sinh đã được nuôi dạy thật tốt trong khuôn khổ giáo dục xã nghĩa với sự ưu ái dành cho con cháu của công thần cúc cung phục vụ chế độ. Cái tên đệm “hồng”  thuộc loại “hào quang lấp lánh” rất được nhân dân ưa chuộng của Sinh đã nói lên gia thế cũng như tiền đồ hứa hẹn rực rỡ của chính cậu. Sinh tốt nghiệp trung học ở một trường đặc biệt dành cho con cháu đảng viên cao cấp, và tiếp theo đó dễ dàng có một suất du học Liên Xô, rồi lấy bằng kỹ sư cơ khí loại giỏi. Hồng Sinh về nước, được sắp xếp việc làm tốt ở một Viện nghiên cứu ngay tại Hà Nội. Sau nhiều năm công tác, Sinh chán ngấy công việc nhàn hạ của những công trình khảo cứu “ảo tưởng” cùng với những bộ óc “đông đá” (chữ của Sinh) ở viện, và xin vào công tác trong Nam, tình nguyện đi làm ở vùng xa. Nguyện vọng được phục vụ đất nước ở “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên” đã được đáp ứng, và Sinh đã có mặt ở nhà máy này từ năm 1976. Sau lần gặp mặt đầu tiên, khi Vinh trở về nhà máy, Sinh đã để lại chút cảm tình trong lòng Vinh. Dù chưa có quan hệ công tác, Sinh đã đến thăm Vinh ở cơ xưởng. Những câu thăm hỏi xã giao nhạt nhẽo không che đậy được sự dè dặt mau chóng bớt khách sáo và cởi mở hơn, có lẽ vì cả Vinh và Sinh đều thấy đối tác không có những điều khó ưa như thành kiến cá nhân do thực tế của xã hội mang đến. Khuôn mặt sáng sủa tươi tắn của Sinh khác hẳn những bản mặt “nhìn là thấy ngu” của hầu hết cán bộ kỹ thuật mới. Cách ăn nói của Sinh tuy không nhún nhường nhưng không chút nào khoe khoang và hợm hĩnh như các bạn đồng sự của mình. Những câu đối đáp của Sinh thật chậm rãi , thoải mái và rất lễ độ đã gây ấn tượng tốt. Vinh đoán được là Sinh cũng ngạc nhiên vì đang tiếp xúc với một kỹ sư “ngụy” tuy hiền lành nhưng có một tác phong không thể xem thường, không đúng như những điều Sinh đã bị tuyên truyền nhồi sọ trước khi vào Nam là “hãy cảnh giác khi tiếp cận với bọn kỹ sư ngụy, vì tên nào cũng thủ đoạn và hiểm ác!” Chuyện có thật này do chính Sinh thố lộ. Vinh nhớ hoài lời tự giới thiệu của Sinh “Em là Lê Hồng Sinh, kỹ sư cơ khí bậc 2, đảng viên, học ở Liên Xô về, đang công tác ở phòng cơ điện, không có chức vụ.” Nghe cái lý lịch tuy ngắn gọn nhưng khá đầy đủ này người ta không khỏi thắc mắc, tự hỏi vì sao một kỹ sư học ở Liên xô, đã nhiều năm trong nghề, lại là đảng viên mà chỉ là kỹ sư 2, không có chức vụ gì cả ở một cơ quan “làm cảnh” như phòng cơ điện. Sau đó, những lúc rảnh Sinh thường tìm gặp Vinh để nói chuyện. Sinh làm việc cà lơ phất phơ, không có công tác nào đặc biệt, vì rỗi việc nên đi kiếm Vinh rất thường. Về cư xá cũng thế, cứ cách vài ngày là rủ Vinh ra quán cà phê hay đến nhà chuyện vãn,  có hôm nửa đêm chưa về. Ban đầu, Vinh nghĩ có thể Sinh được phân công theo dõi mình; nhưng sau vài tháng, qua thái độ, ngôn từ cũng như nội dung những chuyện trao đổi của Sinh, Vĩnh thấy rõ anh chàng này có quá nhiều tâm sự, hình như không thể gởi gấm cho người cùng phe. Những lúc Sinh phàn nàn về công tác và đời sống riêng Vinh chỉ chăm chú lắng nghe chứ không góp ý kiến. Vinh chọn thái độ này một phần vì cần phải thận trọng để thủ thân, phần khác xem đó như chuyện giải trí, nghe cho biết những âm mưu bẩn thỉu trong thâm cung của triều đại mới. Vinh nghĩ, chỉ nghe mà không bàn góp để Sinh sẽ không hứng thú kể tiếp nữa, nhưng anh chàng vẫn cứ tỉ tê kể thêm mãi, có vẻ như là nói cho vơi sầu, nỗi sầu của một người cô đơn trong chính đội ngũ của mình. Vinh biết, Sinh tìm đến một người chịu lắng nghe thôi. Một kỹ sư mới bị gạt ra rìa bộ máy quyền lực kèm với quyền lợi tìm đến một kỹ sư cũ bị tước bỏ hết chức quyền đang làm việc như một tên tù khổ sai như để biểu lộ sự bất mãn với tổ chức một cách thụ động, nhưng đã không che dấu tình cảm và sự thán phục như đối với một đàn anh trong nghề.
    Phòng cơ điện là một cơ quan mới của nhà máy sau ngày miền Nam thất thủ. Trên danh nghĩa phòng này có nhiệm vụ, hay nói theo thời mới là có chức năng kiểm soát và chỉ đạo (lại chữ mới) mọi công tác thuộc về cơ khí và điện; nhưng thực tế đây chỉ là một “chậu kiểng” giúp cho cơ cấu mới của nhà máy thời “cách mạng” mang vẻ có kiểm soát chặt chẽ với tổ chức hoàn bị. Ngoài ra, phòng này rất tiện dụng để làm chỗ tạm cư cho những nhân viên mới về nhà máy và người cũ không biết “điều” đi đâu, hoặc không có cơ quan nào chịu nhận. Nhân số của cái phòng có tên rất kêu này, trừ lão trưởng phòng, chỉ có 4 mạng, cả bốn đều tiêu biểu cho hai số phận vừa mới nói. Thư ký của phòng là chị Giang, người Hà Tây, vợ của kỹ sư nhân dân Tư Mạnh, người xứ Quảng, hồi kết mang theo vợ con. Công việc của chị là đóng dấu, ghi sổ công văn đi và đến. Chỉ cần độ nửa tiếng trong 8 giờ lao động mỗi ngày để chị chậm rãi lôi xấp hồ sơ trong ngăn kéo ra bày trước mặt, ghi chép vài dòng, vuốt giấy cho thẳng rồi xếp lại. Xong. Ngoài hai chuyến đi về giao nhận công văn lâu chừng vài ba tiếng, thì giờ còn lại chị ở trong phòng gạ chuyện với bất cứ ai có mặt chứ ít tiếp xúc với bên ngoài vì “Công nhân Nam bộ nói nghe chẳng hiểu gì sất!” Ai đó được chị kể chuyện cho nghe cứ phải ráng mà nghe, bỏ đi là phiền đời lắm! Chuyện của chị Giang quanh năm chỉ có một đề tài thôi “Khổ cái thân tôi, dại dột nghe lời dụ dỗ đi theo Tư Mạnh vào đây buồn nẫu cả người, muốn trở về quê mà chả biết làm sao!” Nhân viên kỹ thuật của phòng có ba người, một kỹ sư mới là Sinh, kỹ sư Thắng và cán sự Lủy, hai người cũ. Thắng và Lũy trước đây là nhân viên đắc lực của Vĩnh, cả hai đều giỏi và rất năng động. Mang tiếng là về phòng cơ điện để làm công tác nghiên cứu, nhưng Thắng làm kỹ sư “cà nhỏng” còn Lũy thành tay điếu đóm để sai vặt của trưởng phòng.
    “Thủ trưởng” của phòng cơ điện là Phan Văn Diên, tức Sáu Diên, kỹ sư điện bậc 4, thuộc thành phần kỹ sư biên chế. Thuở nhỏ, chú bé Diên con trai thứ sáu của một gia đình khá giả được cho ăn học tử tế, từng theo học trường trung học Mylere ở Mỹ Tho rồi bỏ nhà theo kháng chiến chống Pháp. Năm 1954, Diên tập kết ra Bắc, dãi dầu mưa nắng mười năm ở một lâm trường khai thác gỗ. Vì là công nhân tiên tiến nhiều năm lại thêm có chữ nghĩa nên Diên được tưởng thưởng cho đi học kỹ sư điện ở Ba Lan. Lúc đó Diên đã 31 tuổi đời, 12 tuổi đảng. Học xong, Diên về nước được sắp xếp công tác ở Bộ công nghiệp. Năm 1975, khi Bắc quân chiếm được miền Nam, Sáu Diên xin hồi kết, đến cuối năm 1976 mới được chấp thuận cho về công tác ở nhà máy này. Vì thuộc loại “trâu chậm uống nước đục” nên chỉ nắm được chức trưởng phòng, trong khi nhiều đồng chí vào trước vớ bở hết những chức vụ cao, dù bọn họ chỉ là kỹ sư nhân dân, tức là thợ các ngành được chiếu cố cho học tại cơ sở một cách qua loa, học cho có, rồi lãnh “hàm” kỹ sư luôn. Đám kỹ sư loại này còn có một tên gọi khác là kỹ sư tại chức. Sáu Diên người tầm thước, tóc rễ tre lù xù, gương mặt tròn đen đũi trông rất “hãm tài” dù lúc nào cũng tươi cười vui vẻ. Tính tình bộc trực, thẳng thắn, không phách lối nên ít bị “nhân dân” ta thán, điều này phải nói là bất thường đối với một cán bộ cứng tay nghề, già tuổi đảng như Sáu Diên. Mấy mươi năm mưa phùn gió bấc trên đất Bắc hình như không làm mất đi chút nào tính hề hà của một dân chơi Nam bộ, 45 tuổi vẫn còn độc thân. Sáu Diên có lối nói chuyện rổn rảng, với ai cũng mày tao nhưng có phần thân mật hơn ra vẻ trưởng thượng. Học kỹ sư ở Ba Lan bốn năm, trình độ nghề nghiệp chắc không tệ, nhưng không biết có phải vì khiêm tốn hay vào Nam bị dội ngửa khi đụng độ với những kỹ sư cũ trẻ tuổi hiểu biết nhiều, anh Sáu trở thành nhún nhường thấy rõ. Trong những buổi họp mở rộng bàn về công tác Sáu Diên rất ít khi phát biểu, cực chẳng đã khi bị giám đốc hỏi chàng thường lúng túng và hay nói bọc theo ý người khác cho qua chuyện. Vào cái thời mới lắm điều quái gở này có một chuyện nhiều người ghét và không ít kẻ ưa thích. Đó là chuyện nghiệm thu. Thực hiện xong một công trình xây cất phải có nghiệm thu. Hoàn tất một công tác sửa chữa lớn cũng nghiệm thu ...  Thực chất là xúm lại xem xét rồi ký tên xác nhận kết quả tốt, đạt chất lượng (phẩm chất làm gì có số lượng, rõ là từ ngữ quái thai, nhưng cứ dùng một cách vô tư). Người làm có khi méo mặt vì bị kẻ đến kiểm tra gây khó dễ nên không khéo “lót tay” thì khó xong việc. Qua báo chí, hàng trăm công trình cầu đường bị sụp hoặc sạt lở vì bê tông và nhựa đường thiếu “chất lượng” mặc dù thầy chú cùng các ban bệ đã ký tên đàng hoàng. Nói chuyện dông dài như thế để mô tả tầm mức quan trọng của phòng cơ điện trong nhà máy, vì nghiệm thu mà không có chữ ký của phòng này là xem như công tác chưa hoàn thành. Theo dõi tiến trình các công tác sửa chữa đã có hai kỹ sư Sinh và Thắng không cần ông trưởng phòng phải nhọc công, cứ làm xong rồi báo cáo ông xuống ký tên thôi. Chẳng có ai phàn nàn bị khó dễ vì thủ trưởng cơ điện thường ký tên ngay ít hỏi han gì thêm. Không có vấn đề gì cần nghiên cứu nên Sáu Diên cứ ung dung ngồi trong phòng có điều hoà không khí cho khoẻ, ít khi ra ngoài. Thỉnh thoảng, nếu có đi loanh quanh cho dãn gân cốt anh Sáu hay tìm Vinh để nói chuyện đời cho vui. Dù là kỹ sư điện nhưng hiếm khi anh đặt chân tới nhà máy phát điện vì nó ồn ào quá. Sáu Diên hút thuốc như ống khói tàu, và khoái thuốc rê hơn thuốc điếu. Cứ nhìn anh Sáu nhẩn nha vấn một điếu thuốc thật tròn và khéo mới thấy anh đầu tư biết bao thì giờ vào cái thú lửa khói này.
    Phải kể nốt người thứ sáu trong manh tiệc hôm nay. Đặng Tương Phùng, tức Hai Phùng, kỹ sư “si-li-cát” bậc 4, trưởng phòng thí nghiệm. Người có cái tên nghe như thi sĩ này từng là một học sinh trung học xuất sắc ở Bến Tre, con nhà giàu có. Nghe lời rủ rê của bạn bè, Phùng đi theo quân chống Pháp lập được nhiều chiến công. Đình chiến, Phùng tập kết ra Bắc rồi được chọn đi học bắn hỏa tiễn ở Trùng Khánh. Trở về Hà nội, anh chỉ huy một trung đội “tên lửa” trong lực lượng phòng không. Thời đó, bộ đội tên lửa rất nhàn rỗi nhưng Phùng luôn phấn đấu làm một sĩ quan gương mẫu nên được cho đi học kỹ sư ở Ukraine, Liên xô. Sau 5 năm, Phùng tốt nghiệp kỹ sư silicat hạng xuất sắc. Về nước, anh được bố trí công tác ở mỏ than Hòn gai. Cuối năm 1975 Phùng đạo đạt nguyện vọng lên đảng bộ xin chuyển công tác về quê quán. Cấp trên cứu xét lâu quá, hai năm sau Phùng mới được về nhà máy này. Cũng giống như Sáu Diên, hai Phùng là kẻ chậm chân đành chịu số phậm hẩm hiu trong một trận đấu đá quyết liệt tranh giành chức vụ và lợi lộc của đám kỹ sư mới. Năm Trắc, kỹ sư tại chức, đang làm bí thư đảng bộ kiêm phó giám đốc nhà máy, từng học học silicat chung với hai Phùng ở trường đại học Kiev, thương tình bạn học cũ cố thu xếp tạm cho nắm phòng thí nghiệm. Về tướng mạo, Hai Phùng cao hơn Sáu Diên nửa cái đầu, đi đứng hiên ngang, mặt mũi sáng sủa, nổi bật lên khỏi đám kỹ sư nhân dân hầu hết mang bản mặt đần độn nhưng lúc nào cũng vênh váo. Tạm tổng kết vào thời điểm đó, cấp chỉ huy kỹ thuật mới của nhà máy chỉ có một kỹ sư chính qui, Sinh, và hai kỹ sư biên chế là Diên và Phùng. Nói cho rõ thêm, đây là loại kỹ sư được cho phóng ngang vào đại học, trước đó chưa hoàn tất trung học. Hai Phùng tính trầm lặng, ít nói. Nhân viên thường thấy anh ngồi bất động cả buổi ở trong phòng, chăm chú nhìn bằng cấp kỹ sư thật to đóng khung treo trên tường mắt buồn vời vợi. Văn phòng của phó giám đốc cũng có treo một bằng cấp giống cái này. Hai Phùng nhìn nó buồn bã, có thể là anh đang nghĩ về người kỹ sư đàn em học lực chưa hết tiểu học mà giờ này chẳng những là phó giám đốc mà còn nắm sinh mệnh các đồng chí đảng viên, trong đó có Hai Phùng.
    Thấy Vinh trầm ngâm, Sáu Diên cười hà hà cầm ly rượu lên “Sao mời rồi lại không uống, hả Vinh ?” Lủy lên tiếng “Anh Sáu ơi! Anh xa quê nhà lâu quá chắc quên. Dân Nam bộ nhậu nhẹt hào hứng lắm, thường mở màn một cách xôm tụ, mỗi người cạn một ly cho nóng máy.” Sáu Diên chưa chịu thua “Uống rượu mà cũng có luật lệ nữa sao, mày?” Thắng nói xen vào “Cái đó không phải luật gì cả, chỉ là thông lệ thôi anh à. Dân nhậu kỵ hai thứ, phá lệ và chạy làng, ai vi phạm thì lần sau sẽ không được mời. Vậy thôi!” Vinh nhủ thầm, người anh em của mình cũng là một tay chiến. Để phá tan không khí căng thẳng, Vinh cầm ly lên “Mời tất cả anh em, muốn uống bao nhiêu cũng được, không ép buộc.” rồi uống một hơi cạn ly. Mọi người uống theo, ai cũng chới với vì thứ rượu đế nước đầu 50 chữ này, nặng đến độ đổ ra dĩa châm lửa cháy ngọn xanh lè. Cũng may, Phùng có mang đến một lít nước cất nên sau đó rượu được pha cho nhẹ bớt. Món nhắm chạo tôm được chiếu cố tận tình và khen ngợi hết lời vì ngon quá. Ít lời như Hai Phùng cũng phải nói “Hôm nay, chúng ta phải cám ơn anh Vinh vì món nhậu ngon tuyệt này. Nên thưởng một ly!”. “Nếu không có rượu của Lủy, anh Hai Phùng cho nước cất, tôm của anh Sáu, mì và rau giá của Sinh, sau đó Thắng róc mía, Sinh quết tôm, rồi Lủy gia công nướng chạo thì không có bữa tiệc vui vẻ hôm nay. Nếu thưởng thì phải mỗi người một ly nữa!” Nghe Vinh tố chẳng có ai dám bắt vì mới xong có một ly mà đã có người ngầy ngật, đỏ mặt tía tai. Bữa nhậu vui, không ồn ào nhưng ấm cúng vì mọi người đều biết tự chế. Thắng đóng vai hoạt náo viên rất khá. Luân phiên, ai cũng phải kể chuyện vui hoặc những kỷ niệm nhớ đời. Một chuyện xưa của Sáu Diên đáng được viết lại sau đây.
    “Hôm ấy, buổi sáng mùa đông lạnh cắt da lại thêm mưa phùn lất phất làm cho không gian ở lâm trường u ám. Tao đang cùng đội chuyển gỗ làm việc được lệnh ngưng công tác để qua giúp cho đội đốn cây đang gặp nạn cách đấy không xa. Đến nơi, tao thấy quan chức lâm trường đều có mặt. Một anh thợ đang hạ một cây lớn hơn một người ôm, cưa máy cắt được hơn một nửa thì hỏng, kẹt luôn trong thân cây, kéo thế nào cũng không ra. Trởi trở gió, cây rung rinh thấy ớn người. Tổ trưởng định sai người leo lên cây buộc dây thừng để kéo cho cây nghiêng qua một bên rồi lấy máy cưa ra, nhưng chần chờ mãi chưa dám. Chỉ huy lâm trường lính quýnh chạy qua chạy lại miệng la inh ỏi nhưng không ra lệnh lạc gì cả. Bí thư đảng ủy bất lực đứng im một chỗ, tay chỉ chỏ, động viên công nhân vắt óc suy nghĩ phát huy sáng kiến để cứu nguy. Những kẻ có trách nhiệm chỉ nghĩ đến làm sao cứu cái máy cưa Liên xô mới viện trợ chứ không quan tâm đến sự an nguy của cả đám thợ rừng đang lăng xăng quanh đó. Tụi bay không biết đâu, thợ rừng ở đây đa số là bộ đội miền Nam tập kết, vẫn còn mặc áo lính chứ chưa được phục viên. Một thằng lính trụi lũi gốc tiểu tư sản như tao đã phấn đấu qua chín mùa rét thấy ông bà ông vải, nếu cứ ngậm họng sẽ không có ai phê phán gì cả; nhưng nghĩ đến bạn đồng đội đã cùng vào sinh ra tử những ngày chống Pháp ở miền Nam không thể chết lãng vì cây đè ở đây, tao phải góp ý giải quyết. Theo đề xuất của tao, trước tiên phải cho những người không có việc tránh ra xa. Không cần leo lên cây, chỉ quăng một đầu của ba sợi dây thừng dài bọc quanh một nhánh cao rồi kéo ra xa cột chắc vào ba thân cây gần đó để đảm bảo cây sẽ ngã về phía thân chưa cưa. Sau đó, đẽo nhiều mảnh gỗ có dạng lưỡi búa để nêm vào vết cắt, dùng búa tạ dộng vào cho đến khi có độ hở đủ để kéo máy cưa ra. Nhờ cái ý kiến không cần động não nhiều nhưng được đảng bộ khen là “sáng kiến rung động núi rừng” ấy tao được đề bạt đội trưởng, một năm sau lại được cho đi học kỹ sư ở Ba Lan.”
    Lủy kể một chuyện tiếu lâm.  Ở làng quê của Lủy, vào một ngày hội, người ta tổ chức thi gánh nước chạy cho thanh niên thiếu nữ tham gia. Không ai ngờ được là đội nữ thắng cuộc. Cai tổng hỏi hương quản “Thầy Quản à ! Tui đố thầy biết tại sao bọn thanh niên tráng kiện lại thua mấy cô yếu đuối ẻo lả như vậy?” Thấy cai tổng đang vui vẻ và cao hứng, hương quản nói đại “Thưa ông cai, tui nghĩ đám con gái nhờ hai trái lẳng lơ phía trước đung đưa giúp thêm trớn nên chạy nhanh hơn!” Nghe tới đó cả manh tiệc đã muốn phì cười. Ông cai tiếp lời “Thầy nói vậy cũng có lý một phần. Theo tui, nguyên do chánh là mấy thằng đực bị cái bìu nước nặng đeo ở dưới làm cho chạy chậm lại!” Lũy chờ mọi người vỗ tay cười một hồi, nhìn Hai Phùng hỏi “Thằng em học hành ba mớ, không biết nước nặng là nước gì. Anh Hai học về silicat tức là hoá học chắc biết, xin nói cho nghe.” Hai Phùng suy nghĩ vài giây  “Nước nặng là nước không tinh khiết, có chứa tạp chất nên nặng hơn nước trong.” Sáu Diên vỗ tay tán đồng “Câu trả lời rất lô gích. Vậy là thằng Phùng ám chỉ cái túi nhỏ bên ngoài chứ không phải cái bàng quang bên trong. Nước chứa trong đó nặng dữ lắm đó nghe!” Mọi người cười hả hê, Lũy liếc nhìn Vĩnh vừa cười vừa gật gù khoái trá.
    Kể chuyện xoay vòng tới phiên Thắng. “Tôi nhớ, có đọc trong một tạp chí cách đây khá lâu. Ở Âu châu thường tổ chức thi toán cho học sinh bậc trung học. Năm đó, hai trò vào chung kết, một Đông Đức, một Hi Lạp, tranh tài nghiêng ngửa chỉ còn một câu hỏi chót. ‘Em hãy chứng minh sin bình phương cộng với cos bình phuơng kết quả là 1’ Cả hai thí sinh đều bí, phải thi thêm một vòng nữa để chọn giải nhất. Câu hỏi này tôi cũng chịu thua vì thấy lạ quá. Có ai trả lời giúp không?” Quay sang Sinh, Thắng hỏi “Anh Sinh học giỏi chắc giải được câu hỏi này?” Sinh trầm ngâm một lúc rồi ngập ngừng “Đúng là một câu hỏi lạ. Có thể là đố mẹo, hay ban giám khảo ra đề sai cũng không chừng!” Vinh đứng lên, xin phép ra sau nhà vì cứ ngồi đó không nhịn cưòi được, bể “mánh” của Thắng cũng kẹt!
    Rượu nồng, mồi thơm đã hết, buổi nhậu tàn. Ba kỹ sư mới về trước, Vinh đưa ra tận cổng. Sáu Diên bắt tay từ giã thật nồng ấm, nói nhỏ “Hồi nãy, thằng Lủy có nhắc tiệc tới mời Năm Trắc, thôi chớ dại nghe mày, có mặt bí thư khó nói chuyện lắm!” Hai Phùng bật cười “Anh Sáu mà cũng biết sợ nữa à? Rét cái gì chứ! Thôi tớ về, cậu đi nghỉ, khuya quá rồi!” Sinh thầm thì “Bữa nay vui quá! Anh thật đa tài, chạo tôm tuyệt cú mèo. Sớm họp mặt lại anh nhé. Em về đây.” Vinh trở vào nhà, Lủy và Thắng nhanh tay dọn dẹp đã xong. Trước khi chia tay Thắng nói “Trình độ kỹ sư mới hạng ưu tú mà tệ thế, thì nhà máy này, đất nước này sẽ đi về đâu?!” Vinh không nói gì, choàng vai hai người em bước ra sân. Chợt một cơn gió nổi lên. Trời như sắp có giông!

 

—Hoàng Thư

 

 

Tiếng niệm chú rì rầm trầm hùng vang rền cả đại điện, bóng các tăng sĩ trong màu áo huyết dụ lắc lư, tay lần tràng hạt trong ánh đèn bơ lung lay trông thành kính vô cùng. Toàn bộ mọi người như nhập thần vào câu chú, thân người ngồi đó mà thần thức như ở cung trời nào chứ chẳng phải trên mặt đất này. Khói trầm phảng phất bay lên, pho tượng Phật trên toà tay bắt ấn kiết tường, mắt mở to như nhìn thấu những tấn tuồng của trò đời, thông suốt những nỗi đau của chúng sanh, biết tường tận tâm can của của mỗi người.
Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum . Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn. Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng… Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm: - Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.