Hôm nay,  

Tuổi trẻ tươi đẹp

16/08/202308:15:00(Xem: 4393)
Tùy bút

VN sand

Mấy hôm nay có những cơn mưa kèm theo gió mạnh buổi chiều kéo dài đến khuya, báo  hiệu sắp hết mùa Hè. Tôi lại nhớ tuổi trẻ của mình những năm đầu “lập nghiệp” vào mùa  tựu trường.
 
Ngôi trường mới
 
Chuyến xe đò từ Sài Gòn chở tôi ra đến bến xe Nha Trang lúc 6 giờ chiều. Thời gian đi  mất gần mười tiếng đồng hồ trên đoạn đường dài 450km. Hành trang của tôi chỉ vỏn vẹn  chiếc va-li nhỏ và túi bỏ giấy tờ, quan trọng là quyết định phân công về Phú Khánh của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn. (Trước 75 Nha Trang và Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa, sau nhập chung với tỉnh Phú Yên đổi tên thành Phú Khánh, bây giờ dùng lại tên cũ Khánh Hòa.)
    Đêm đầu tiên tôi ở lại nhà dì Lệ, bác sỹ bịnh viện Yersin Nha Trang, bạn mẹ tôi thời trung  học Đồng Khánh-Huế. Vợ chồng dì có một con trai nhỏ, suốt ngày hát véo von “Mùa Đông áo đỏ, mùa Hạ áo xanh, cây bàng ngoài vườn thì chim đến vây quanh...” Ít ra tôi  còn nghe được những câu hát dễ thương thay vì “đêm qua em mơ gặp bác Hồ.” Sáng sớm hôm sau tôi tạm biệt gia đình dì Lệ, đến Ty Giáo Dục Phú Khánh trình diện. Ông Trưởng Ty giữ tờ quyết định của trường ĐHSP-SG và ký tên đóng dấu một tờ “quyết định bổ nhiệm” khác giao cho tôi. Cầm tờ QĐBN, đọc kỹ những chi tiết và tên trường, Trung Học Phổ Thông Cấp 3 (Trung Hoc Đệ Nhị Cấp) Trần Bình Trọng-Cam Ranh. Tôi  hỏi ông Trưởng Ty đường đến trường rồi chào và đi ngay.
    Đón chiếc Daihatsu ngoài quốc lộ 1 chạy ngược về phía Nam, tôi dặn bác tài xế đến  trường Trần Bình Trọng ở Bãi Giếng-Cam Ranh thì nhắc giùm. Bác tài hỏi:
    – Cô mới tới đây lần đầu hả? Cô dzô đó dạy hay học?
    – Dạ, dạy học.
    Không lâu lắm, xe ngừng lại bên lề quốc lộ. Bác tài chỉ lên tấm bảng lớn ghi tên trường Trần Bình Trọng màu xanh dương, gắn trên hai cái trụ bê tông giống một cái cổng rộng không có cánh cửa.
    – Trường này đó, cô giáo dzô đi.
    Tôi cám ơn bác tài và xuống xe.
    Đó là một ngày vào Thu, mang tâm trạng gần giống cậu bé trong tập truyện ngắn “Quê Mẹ” của nhà văn Thanh Tịnh, tôi rảo bước vào sân trường trên lối đi đầy cát trắng. Chỉ  có mây bàng bạc trên cao và cát lún mềm dưới chân, không có lá rụng đầy trên đường, cũng không có mẹ dắt tay đi học, một mình tôi nơi đây, xa lạ, đối diện với cuộc sống hoàn  toàn mới. Khoảng sân rộng mênh mông lưa thưa vài gốc liễu già. Chung quanh toàn là cát mịn,  không có lấy một bụi cỏ. Phía trong xa, học sinh đang tập thể dục. Dừng lại vài giây, tôi  hít sâu tiến qua hàng rào “vận động viên”, thẳng đến dãy phòng ngang chính giữa, nhìn  lướt qua những bảng tên treo trên cửa lớn tìm “Phòng Hiệu Trưởng”.
    Thầy Cẩn, Hiệu Trưởng, tiếp tôi thân thiện. Sau khi đọc qua tờ quyết định bổ nhiệm, không hỏi gì thêm, thầy vô đề ngay:
    – Cô T. tính dạy ở trường lâu dài không?
    Hơi bất ngờ, tôi ngớ người ra thầm nghĩ không dạy ở đây chứ đi đâu, không lẽ chê huyện  nghèo rồi trở về bám thành phố?
    – Dạ, ý của thầy tôi chưa hiểu. – Tôi hỏi lại vì muốn biết rõ lý do.
    Thầy cười:
    – Vì đây là xã Bãi Giếng nên nước chỉ dùng nước giếng, điện thì không có. Trước cô T. có mấy cô ở Sài Gòn ra, chịu cực không nổi nên bỏ về. Tôi muốn biết cô có thật ở lại dạy học hay không để còn tính.
    Tôi chưa biết mùi vị cực đến thế nào mà các cô không chịu nổi phải nghỉ ngang, làm  người mới như tôi bị nghi ngờ. Tuy nhiên, giọng miền Nam thân thiện và cách nói chuyện  của thầy Hiệu Trưởng đáng tin cậy nên tôi hứa sẽ chịu trách nhiệm việc dạy học, nếu  muốn về nhà cũng báo trước chứ không tự ý bỏ việc. Thầy Hiệu Trưởng cười hiền hòa  tỏ vẻ thông cảm, nhưng có thật tin tưởng tôi không thì chưa biết.
    Sau giờ thể dục, tất cả thầy trò vào lớp, trả lại một màu trắng xóa trên bãi sân dưới bầu  trời hanh nắng. Thầy Hiệu Trưởng dạy môn Vật Lý, hôm nay không có giờ nên đưa tôi đi một vòng quanh  trường, giới thiệu từng phòng. Nói là vòng quanh chứ ngôi trường chỉ có hai dãy nhà trệt  đơn sơ xây hình chữ L ngược. Dãy giữa gồm nhà ở của giáo viên (lưu xá dành cho giáo viên xa nhà), phòng để dụng cụ dạy học, thư viện, phòng Hiệu Trưởng, phòng họp. Góc  xa là nhà ăn tập thể nằm khiêm tốn dưới bóng mấy cây đu đủ, kề bên cái giếng nước.  Dãy ngang gồm những phòng học liền nhau, không nhiều phòng lắm nên giờ học chia ra hai buổi sáng, chiều. Ngoài sân trước có xây một tấm bảng lớn bằng xi-măng láng sơn màu xanh lá cây, dùng để ghi thông báo và tin tức. Bên cạnh là gốc mít to, có cái kẻng  đồng treo trên một cành cây để đánh báo hiệu giờ học, giờ chơi.
Chỉ vậy thôi! Tôi bâng khuâng tự hỏi, đây là ngôi trường mới của mình?
 
Nhà trọ
 
Rời trường, thầy Hiệu Trưởng dẫn tôi băng qua đường đến nhà của phụ huynh một em học sinh lớp 10, là nhà tôi sẽ ở trọ trong thời gian dạy nơi đây. Căn nhà đối diện hơi xéo với cổng trường, tuy rất gần nhưng khoảng cách chiều ngang xa lộ không có đèn giao thông rất nguy hiểm cho người đi bộ. Vậy mà về sau, quãng đường thênh thang đầy rủi  ro đó đã in không biết bao nhiêu dấu chân tôi qua lại.
    Nhờ thầy Hiệu Trưởng đã xin phép chủ nhà trước nên tôi sớm có được một chỗ ở trong căn nhà rộng rãi thoáng mát. Tôi ngó qua một vòng, ngoài phòng khách và hai phòng  ngủ bên trong, phía sau là nhà bếp. Chung quanh có trồng mấy bụi mía, chuồng nuôi heo, gà, một cái giếng cạn, nước cao gần đến miệng giếng, có thể vói tay xuống múc  nước. Nhưng một nơi rất quan trọng là nhà vệ sinh lại không thấy đâu, hỏi ra mới biết muốn đi tắm thì phải đợi trời tối, ra giếng! Tóm lại nhà trọ của cô giáo mới không điện, không nước máy, chỉ có phòng tắm lộ thiên, còn nhà vệ sinh công cộng thì sơ sài khá xa nơi ở. Hơi hoang mang, chút nản chí nhen nhúm trong lòng, tôi đã hiểu lý do mấy cô giáo trước đây, chưa dạy học ngày nào đã chuồn mất tiêu! Nhưng tôi thuộc tuýp người thích ứng nhanh kiểu “nhập gia tùy tục”; quan trọng nhất là có thể tự nuôi bản thân, không ăn bám mẹ sau bao năm đèn sách nên tôi mạnh dạn chấp nhận sự thật này.
    Hai bác chủ nhà thương tôi như con, quý trọng nghề giáo nên cuộc sống của tôi khá vui vẻ và đỡ nhớ nhà. Hai bác có rẫy mía, rẫy bắp, rẫy khoai mì trồng xen theo từng mùa. Đến mùa thu hoạch, bác trai đánh xe bò chở về chất đầy kho để dành cho gia đình dùng sau phần lớn nông sản đã bán. Hai bác thường để dành cho tôi khi chén cơm bắp, lúc chén khoai ngào đường, hoặc vài khúc mía. Những thức ăn "nhà quê" bình thường đó đối với tôi đúng là món cao lương mỹ vị trong thời gian khó khăn, ngày hai buổi chỉ biết cơm độn bo-bo với gạo xỉn màu.
Cứ thế, ngày ngày tôi đi bộ đến trường, dạy học, ăn cơm tập thể, tối cuối tuần tụ họp ở  nhà bạn đàn hát, không phàn nàn gì, cũng không gửi thư về nhà than thở, vậy nên năm học trôi qua rất nhanh. Không biết do tôi suy nghĩ lạc quan hay “rất ngầu” như lời bạn bè khi nghe kể chuyện “bụi đời” của tôi?
    Năm sau, hai bác ưu ái cho tôi độc quyền ở một căn nhà khác bên hông trường, là căn nhà thờ ba gian, có rẫy khoai mì bao quanh. Qua khỏi rẫy khoai là một hàng rào gỗ thấp, ranh giới với trường. Căn nhà này bác trai hoặc con trai thỉnh thoảng vào chăm sóc rẫy khoai, quét dọn, và nghỉ ngơi trên chiếc võng treo giữa nhà. Tôi có một không gian riêng tư, có bàn làm việc kê bên cửa sổ nhìn ra mảnh vườn cát trắng trồng xương rồng và hoa sứ. Trước nhà có giàn hoa giấy đỏ thơ mộng và cái giếng nước trong veo. Ở nơi nắng hanh hao đầy gió, có được một mảnh vườn với vài bông hoa như vậy, với tôi cũng đủ là niềm hạnh phúc.
    Cũng vì hạnh phúc nhỏ nhoi đó mà tôi đã bao lần suýt trễ giờ vào lớp.
    Ông Bùn, gác-dan kiêm đánh kẻng báo hiệu. Đặc biệt giờ vào lớp đánh hai hồi, sau hồi kẻng thứ hai mà chưa có mặt trong lớp xem như trễ giờ. Đôi khi kẻng vang lên lần đầu tôi mới sực nhớ có giờ dạy, vội lật đật thay y phục, rồi tay ôm sách, tay túm hai vạt áo dài, tôi chạy băng qua rẫy khoai mì, leo rào vô trường. Dù lối nhỏ phải đi ngang qua nhà vệ sinh, tôi cũng đành nhắm mắt đưa chân. Những lần như vậy, ông Bùn tốt bụng thấy tôi từ đằng xa là ông chưa bắt đầu hồi hai, đợi tôi đến trước cửa lớp ông mới đánh kẻng.  Ông Bùn chính là ông Bụt!
 
Phụ Tá Giáo Viên Hướng Dẫn
 
Là chức vụ đầu tiên thầy Hiệu Trưởng giao cho tôi ngoài công việc dạy chuyên môn. Thầy giới thiệu trong một buổi họp giáo viên, “Cô T. từ hôm nay là phụ tá Giáo Viên Hướng Dẫn lớp 10D1 giúp cô Danh, có việc gì cần cô Danh hướng dẫn  thêm cho cô T.” Chị Danh dạy môn Vạn Vật, người Nha Trang, giọng nói nhỏ nhẹ. Chị nhờ tôi hướng dẫn  báo chí, văn nghệ cho lớp, những việc khác do chị lo. Thứ sáu mỗi tuần, sau giờ họp lớp là chị đón xe về nhà, sáng thứ hai trở lại trường. Tôi thì có được hai ngày cuối tuần rảnh rỗi, nên xem ra cô phụ tá thường bận rộn với  đám học trò nhiều hơn. Học trò thay nhau mời cô đến nhà chơi hoặc đi vô vườn ổi, mãng  cầu, xoài, v.v... Đôi khi phụ huynh mời tôi dùng cơm cùng gia đình, hỏi han chuyện học hành con em. Cứ vậy, mỗi tuần tôi đều có “báo cáo công tác” trong buổi họp giáo viên với thầy Hiệu Trưởng. Công việc này thật sự không quá khó, trái lại còn đem lại lợi ích  về mặt tinh thần và thể chất cho tôi. Thì đúng như vậy, mỗi dịp nghỉ Hè hoặc Tết về nhà, mẹ tôi hay nói tôi dạy học nơi khỉ ho cò gáy mà thấy mập ra. Còn khi hết phép trở lại trường, học trò nhìn tôi thương cảm, “Sao cô ốm dzậy cô?” “Ừ, tại thời tiết Sài Gòn nóng quá!” Tôi trả lời cho xong chứ Bãi Giếng nắng nóng đâu thua kém.
 
Giáo Viên Hướng Dẫn
 
Niên khóa sau, cũng trong buổi họp đầu năm, thầy Hiệu Trưởng quyết định, “Cô T. năm nay làm giáo viên hướng dẫn lớp 12A” trước sự ngạc nhiên của  toàn thể giáo viên. Tôi biết sự tin tưởng của Thầy Hiệu Trưởng dành cho mình hơi thiên vị. Nhưng không sao, năm thứ nhì dạy học tôi đã có thêm nhiều kinh nghiệm nên tôi đã không làm thầy thất vọng, cũng đã xóa đi suy nghĩ “non tay nghề” của bậc đàn anh.
 
***
 
Những kỷ niệm sâu đậm nơi đây là cuộc sống bình thường không tính toán so đo và những con người giản dị chân thật. Một nơi chỉ thấy bầu trời và cát trắng, ban ngày cát nóng rát chân, ban đêm cát sáng thay đèn. Một nơi cửa nhà không cần khóa, sân nhà không cần rào, cách nhau bởi bụi mía, hàng bắp. Nơi mà đi đâu đâu cũng thấy giếng nước trong vắt, như tuổi trẻ tươi đẹp của thầy trò chúng tôi.

 

– Hồ Thị Kim Trâm

 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.