Hôm nay,  

Anh tôi

19/08/202307:21:00(Xem: 5524)
Truyện

hai anh em

Tôi có một người anh cá tính hoang nghịch trổ trời mà lên. Từ nhỏ, thích trèo cây trong vườn. Có bữa leo phải cành ổi giòn bị gãy, thế là anh rớt xuống nghe uỵch một cái như trái mít rụng. Anh đau điếng cảm giác rêm ram cả mạnh sườn. Anh sợ quá nằm im một lúc, nghĩ bụng chắc mình chết rồi! Mở mắt ra, giơ chân tay thấy còn ngọ nguậy được. Vậy là chưa chết lại phủi đất lò mò ngồi dậy (như chưa hề có cuộc chia ly). Anh chạy vô nhà thấy tôi ngồi chơi đồ hàng bên cửa sổ hỏi:
    – Ê, lúc nãy mi thấy tau té không?
    – Anh có té à, nghe bịch một cái, em tưởng trái mít rụng chơ!
    – Mít mô mà rụng tau té đó, đừng méc mạ nghe!
    Con nít trong xóm có trò chi là anh tham gia trò nấy như thả diều, rượt nhau, bắn bi,…Nghe nói bắt chuồn chuồn cho cắn rốn để biết bơi. Vậy là lũ bạn bắt chuồn chuồn rồi vén bụng lên cho cắn xong rồi cùng cả nhóm bạn trong xóm ùa xuống bến nhưng chưa bơi được sải nào đã chìm nghỉm. Nhờ có anh bạn chụp tóc kéo vô, may không thôi chết. Sau về nhà ngồi ngẫm nghĩ chắc tại con chuồn chuồn kim cắn nên chưa hiệu nghiệm. Phải là con chuồn chuồn voi mới được. Vậy là trưa trời nắng gắt thế mà cũng lội từ vườn cây ra đến bến sông mà bắt cho được con chuồn chuồn voi. Cho cắn rốn sao mà nó ngoạm cho một miếng tươm máu rồi tự động viên không hề hấn chi miễn biết bơi là ok. Sau đó rủ tụi bạn xuống bến bơi nhưng vừa thả chân, thả tay ra khoát khoát vợi vợi vài cái cũng lại cũng chìm nghỉm. Nhưng lần này rút kinh nghiệm chỉ bơi chỗ nước ngang bụng nên không sao!
    Suốt ngày giỡn nhau, chạy đuổi khắp xóm, khắp làng. Đến giờ cơm, tôi có nhiệm vụ đi tìm anh về ăn mà kêu như kêu đò vậy. Đi coi đá banh thì về tận làng bên gặp trời mưa chạy về bao nhiêu lần ướt lóp ngóp như chuột lột. Mẹ tôi nói, anh mi trên đầu có cái xoáy trâu nên hoang nghịch rứa chơ tình cảm lắm. Quả có vậy. Ai mà chọc em là không được với anh mô nghe! Thương em lắm! Mà tui thì chúa nhõng nhẽo vì con út mà! Biết trong nhà ai cũng cưng. Suốt ngày đòi anh làm đồng hồ lá chuối, lá dừa... rồi bắt anh hái dâu, hái ổi hay thanh trà vào gọt ăn. Lúc thì bảo bắt cào cào, châu chấu, chán rồi thì bảo anh làm thuyền giấy, múc thau nước bỏ vô cho thuyền trôi. Nhiều lúc anh nổi cáu:
    – Tau phát mệt với mi rồi nghe con tê!
    – Mạ ơi chơi với hắn con mệt quá! Con chạy đi chơi đây!
    Nói rồi dông thẳng một mạch nhưng đi đâu, kiếm được cái gì hay, trái gì ngon cũng để dành cho em. Có bữa, anh tui bị mấy đứa xóm bên bao vây. Thằng mặc áo bun xanh nói:
    – Ê mi có đứa em mũm mĩm giống con búp bê, mai mốt lớn gả cho tau nghe! Hứa đi tau khỏi kêu tên ba mạ mi là K V, không tôi tau réo nì.
    Thế là anh giơ nắm đấm lao vào thằng mặc áo bun xanh bớp hắn mấy phát nhưng cũng bị nó quần lại tơi tả không kém. Khi tui chạy tới la lên méc mạ mới buông nhau ra mà chạy về. Đầu sưng cả cục u to như trái chanh. Về mẹ tôi lấy xác chè xanh, thêm ít muối bóp trán cho ấy. Vừa làm vừa giảng giải thế nọ thế kia được vài ngày cũng chứng nào tật nấy. Trời mưa thì chạy đi tắm mưa, đi giẫm nước mưa về nước ăn chân ngứa khóc ỏm tỏi, mẹ tôi phải nướng trái khế chua cho ấm rồi biểu anh đạp chân vào, vài ngày là khỏi.
    Anh học giỏi đều các môn. Mẹ tôi bảo anh kèm cặp em kẻo mạ bận việc quá không coi sóc được việc học của em. Lúc bắt đầu học chữ, anh viết mẫu rồi bảo tôi viết theo. Tôi lóng ngóng đưa nét bút cong quẹo không ra chữ. Anh tôi phải cầm tay tôi đưa từng nét. Sau thời gian hai tháng hè tôi biết đọc biết viết trước khi tới trường. Những lần anh dò bài, tôi đọc không thuộc là bị cốc một cú trên đầu kèm theo câu mắng:
    – Học ngu như mi mai mốt lớn không có thằng mô rước.
    Bị cốc một cú trên đầu, thực ra thì cũng không đau mấy. Nhưng tôi cố tình khóc ít mà ré thật to để cho mạ biết, thế nào anh cũng bị la.
    –  Dạy em mà cứ mắng hắn rứa con. Phải chỉ vẻ em từ từ, đừng để em khóc mà mạ xót.
    Rồi anh đổi giọng ngọt như đường:
    – Thôi, học đi chút nữa anh dò lại, nếu thuộc mai anh về ghé chợ Đông Ba mua cho em cái kẹp nơ hồng. Cài lên tóc e em tui xinh lắm!
    Khi anh vào học trường Hàm Nghi trong Thành Nội, ở nhà hoang nghịch là vậy chứ tới trường cũng được bầu làm lớp trưởng như ai. Anh học rất tốt các môn tự nhiên. Rồi anh thi đậu vào Quốc Học. Lúc anh mới nhập trường, nhận bảng tên về đeo đi lui đi tới mấy vòng trong sân rồi hỏi tôi:
    – Thấy bảng tên QH oai không? Mi lo học đi mai mốt phải thi đậu QH như anh rứa nghe không?
    Lên đệ nhị cấp rồi anh bớt hoang nghịch hơn, chú tâm vô bài vở của mình và kèm cặp em út học hành. Thế rồi anh được du học ở Hoa Kỳ theo chuyên ngành vận tải hoa tiêu. Hết thời gian học tập, anh về nước làm phi công thuộc bộ phận vận tải hàng không ở Tân Sơn Nhất, rồi anh cưới vợ, chị là người miền Tây.
    Ba năm sau, do những biến cố khách quan nên anh đưa vợ con qua định cư ở Tiểu bang Illinois, Hoa Kỳ. Số là trước khi đi du học anh được học tiếng Anh 1 năm tại Gò Vấp nên quen bạn gái người miền Tây. Anh nói với mẹ tôi là lấy vợ xa cho chắc, chứ ở nhà cứ đi ra ngõ là gặp bà con. Trong phường xóm dính vô ai nghe nói cũng họ hàng hết. Bởi vậy cứ ra đường gặp ai cũng phải chào: Thưa anh, thưa o, thưa chú…Mà không biết họ có nghe không. Cũng chẳng đợi họ trả lời. Nhưng nếu không chào là sẽ có có người nhắn về với mẹ tôi ngay.
    Thế rồi, khi tôi lập gia đình, anh tôi cũng đưa mẹ tôi qua ở với anh để phụ chăm cháu. Lúc này anh chị sinh bé Đan Thanh. Anh xin làm ở nhà máy sản xuất máy cày tại TP Chicago (thuộc tiểu bang Illinois). Nhà máy này mỗi ngày sản xuất 150 chiếc. Nhân viên khoảng 40 nghìn người, trong đó người Việt khoảng 100 người. Anh làm việc trách nhiệm và có nhiều sáng tạo nên được trả lương gấp rưỡi so với đồng nghiệp của anh. Ngoài ra còn thưởng và các phụ cấp khác. Cứ 2 tuần anh lãnh lương 1 lần, tiêu chuẩn 4 h bệnh, 1 tháng có 8 h bệnh và 1 năm có thêm kỳ nghỉ… Công việc đang trôi chảy, anh làm được 5 năm ở đây thì nghiệp đoàn cứ đòi tăng tương 3 tháng 1 lần. Nên nhà máy phải tăng lương cho họ. Vì nếu không tăng họ sẽ đình công. Lúc đầu sản xuất 150 chiếc/ngày. Sau hạ xuống 100 chiếc/ ngày… rồi chỉ còn 50 chiếc/ ngày nên sau này nhà máy tính toán thấy thua lỗ không đủ chi phí nên nhà máy đóng cửa. Anh tôi phải ăn lương thất nghiệp nhưng cũng đủ sống.
    Ở hiền gặp lành, có một chị người Việt có chồng là người Mỹ ở gần nhà anh không biết lái xe, có biết lái nhưng ra đường cứ quẹo trái, quẹo phải tùy thích nên anh chồng sợ quá liền nói anh rảnh thì nhờ anh qua kèm cho chị ấy. Sau 2 tuần, chị ấy lái xe được ngon lành. Chồng chị ấy mừng lắm! Anh chồng bảo anh viết đơn anh ấy sẽ tiến cử đi làm ở chỗ cơ quan anh ấy. Và may mắn thay, anh đã được vào làm việc ở một nhà máy của bộ quốc phòng đóng tại một hòn đảo thuộc bang này. Nhà máy có số lượng nhân viên là 20 nghìn người nhưng người Việt chỉ có duy nhất một mình anh tôi. Ở nhà máy này sản xuất xe tăng 113, súng M15 (súng trường), mặt nạ chống ngạt. Lương hướng ở đây và phụ cấp cũng khá, ngoài ra còn có phụ cấp thêm cho vợ anh $1000 / tháng. Chị xin đi làm thợ may ở hãng chỉ là đi làm cho vui, lương mỗi tháng chẳng là bao với khoảng $ 500 / tháng gọi là làm cho có. Đó cũng là lý do ra ngoài để giảm tiếp xúc với mẹ chồng. Mẹ tôi sinh trưởng trong gia đình nề nếp xưa, thấm nhuần tư tưởng nhân nghĩa, chuẩn mực từ lời ăn tiếng nói cho đến việc làm. Hai thế hệ sống cùng nhà, mẹ chồng nàng dâu là vấn đề muôn thuở khó dung hòa. Tuy nhiên ở đời vẫn có những cặp mẹ chồng, nàng dâu, quan hệ rất tốt, rất thuận hòa nhưng quả thật càng ngày càng thấy hiếm. Bên tình bên hiếu, anh đứng giữa thật khó xử. Anh hiếu thảo với mẹ và cũng rất yêu thương vợ con, chiều vợ hết mực. Tiền bạc làm ra anh cho vợ con xài thoải mái, không tiếc với vợ thứ gì, nhưng sự đời nhiều khi không như ý muốn.
    Năm 1989, chị dâu tôi bỏ nhà đi theo tiếng gọi tình mới. Anh lâm vào cảnh gà trống nuôi con. Anh đau khổ tột cùng, tưởng như sẽ gục ngã, nhưng anh hiểu là mình phải sống không phải cho mình mà sống vì con. Nên anh gắng gượng làm lụng và nuôi con. Lo cho con đầy đủ, một gánh hai vai thay thế cả mẹ nó. Làm sao cho con đỡ thiệt thòi nhất khi thiếu mẹ. Anh dành hết tình thương cho con. Thời gian trôi đi, bé Đan Thanh vào đại học, cháu đề nghị ba về Hawaii sống để tìm, thuyết phục mẹ về.
    Năm 1991, anh thương con, nghe lời con xin nghỉ việc ở nhà máy của bộ quốc phòng một công việc không dễ gì kiếm được ở Chicago. Anh về Hawaii xin vào làm ở một nhà hàng. Như vậy là bỏ một công việc ổn định ở Chicago mà về đây để lao động tự do là một việc mạo hiểm. Công việc vất vả nhưng anh hi vọng có cơ hội để gần chị, thuyết phục chị trở về. Lúc này, thì anh cũng hiểu tình cảm như ly nước đã đổ đi khó lòng hàn gắn nhưng vì con anh mà gắng gượng níu kéo. Lại nói về anh tình nhân của chị thì khi thấy anh tôi, anh ta rất ngạc nhiên và nói với anh tôi rằng:
    – Tôi hoàn toàn là không biết cô ấy đã có gia đình.
    – Vì cô ấy nói với tôi là độc thân nên mới ra cơ sự này.
    Nhưng chị vẫn không lay chuyển, không nhớ con, cũng không vì nghĩa tào khang vợ chồng dù “một ngày nên nghĩa” huống gì đã có với nhau một mặt con, lòng chị lạnh băng khi gặp anh. Thậm chí chị không thèm đến dự đám tang mẹ chồng (khi chưa ra tòa li hôn thì chị vẫn là dâu con nhưng chị đã không xem “nghĩa tử là nghĩa tận” để làm tròn phận sự lần cuối với mẹ chồng). Sau bốn năm vô vọng, năm 1993 anh làm giấy li hôn với chị. Lúc này anh nuôi cháu Đan Thanh đã học xong đại học tài chính kế toán và đã có việc làm nơi đây.
    Anh một mình khăn gói về Texas. Nơi này, thời trai trẻ, lúc đi du học đã có thời gian anh được học ở đây. Bước đầu chân ướt chân ráo, anh thuê một phòng trong khách sạn để sống một thời gian ngắn rồi tính tiếp. Tại đây có một chị phục vụ và đứa con trai của chị là người Việt. Hàng ngày qua câu chuyện, biết em ấy cần học tiếng Anh. Thế là anh dạy tiếng Anh cho em ấy. Mỗi ngày lúc rảnh em trai ấy chở anh đi chơi đây đó cho biết, tìm lại những người bạn. Anh cũng đã liên lạc lại được với một số bạn bè. Rồi anh ra ngoài thuê tạm một căn hộ để sống và bắt đầu cuộc sống mới ở đây. Làm lụng, tích cóp rồi anh cũng mua được nhà. Về Texas, anh thấy khí hậu ở đây ít lạnh hơn ở Chicago. Anh bảo bé Đan Thanh về sống dưới này nhưng cháu nói cháu quen ở Chicago rồi với lại công việc đã ổn. Nay cháu đã lập gia đình và đã có một cháu trai kháu khỉnh. Như vậy anh cũng đã yên tâm phần nào về con cái.
    Trong một lần anh dự đám cưới tại nhà người anh ở Oregon, cậu của người chị dâu thấy anh sống đơn chiếc nên đã giới thiệu cho anh một người bà con của ông ấy. Anh lập lại gia đình với chị (chồng chị đã mất, nay chị sống với đứa con trai). Anh rất chiều chuộng chị. Mọi việc trong nhà từ A đến Z một tay anh đảm nhận. Lúc chị ngủ, anh cũng buông mùng, đắp mền cho chị rồi anh mới đi lo việc của anh. Bà con của chị, ai cũng mừng cho chị là gặp anh nửa sau cuộc đời nhưng thật quý hóa. Anh xem con riêng của vợ như con mình, chăm chút, nuôi nấng cháu cho đến khi cháu vào đại học, lập gia đình và ra riêng.
    Lại nói về người vợ cũ của anh, mặc dù li dị rồi, nhà nước vẫn báo cho anh biết là vẫn phụ cấp cho vợ cũ ăn theo anh mỗi tháng $1000. Bây giờ về già, bà ấy cũng sống một mình vì anh nhân tình sau cũng đã bỏ đi vì ông ấy cho rằng người thiếu chung thủy đã từng bỏ chồng để sống với anh ta thì không chắc là sẽ lại không bỏ anh ta lần nữa.
    Hơn 30 năm, không hiểu do hối hận hay là so sánh lại thấy không có ai chiều chuộng như anh tôi, cũng là lúc về già rồi cần có người chăm sóc nên đã đánh tiếng nhờ bé Đan Thanh gọi điện với ba cho mẹ nó về lại sống cùng anh tôi. Bé nói:
    – Nếu mẹ về sống với ba thì sẽ tốt cho con hơn. Nhưng con cũng hiểu là không dễ gì nên tùy ba thôi!
    Nhưng anh không đồng ý. Muộn quá rồi! Tình xưa đã hết và lửa lòng đã nguội. Anh đã đi qua sóng gió cuộc đời, từng tan nát lòng và gặm nhấm nỗi buồn như thế. Bây giờ muốn bình yên. Anh nói với tôi là đời anh như bị sao quả tạ chiếu vào. Chuyện học hành, công việc thì hanh thông mà duyên tình lận đận, có lẽ là những gì thử thách cam go của một kiếp người. Giờ đây anh sống khép kín, ít giao du với ai. Hàng ngày lui cui với mảnh vườn và dăm ba người bạn trong xóm. Cảm thấy an bài với số phận vui ít buồn nhiều của anh. Anh em giờ ở cách xa nhau, ai có gia đình nấy và những bận bịu riêng. Không thể có những tháng ngày vui vẻ bên nhau như thời thơ ấu. Nghĩ về anh tôi xót xa lòng. Nước mắt lại tuôn trào. Thương anh, chỉ biết cầu mong anh luôn được an lành, sức khỏe với cuộc sống bình yên!

 

– Hoàng Thị Bích Hà

 

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.