Hôm nay,  

Sống ảo

07/11/202315:17:00(Xem: 3891)
Truyện

image

(Tặng TP)

 

Gần năm giờ chiều Nghi đã nghe nóng ruột. Thời gian ở đây chậm như con rùa bò, Nghi nhìn lên tường nơi có treo cái đồng hồ to tướng, những cây kim như đứng lại. Nghi nhớ lời hẹn hò với Hường trước khi anh đi làm, sáu giờ rưỡi gặp em nghe, sáu giờ rưỡi anh đi làm về là gặp em liền, đợi anh về ăn cơm với em. Nghi hạnh phúc với những lời hẹn hò kia. Buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, anh đều ở bên Hường, gần gũi, thân thương, trìu mến. Nhưng thật ra thì em ở xa anh đến ngút mắt.
    Cái gần gũi hay cái xa cách, anh không tưởng nổi. Nghi như mê vào một trận đồ bát quái của cái không gian lạnh lẽo, trống vắng đã bao nhiêu năm. Thời gian qua anh sống trong nỗi u hoài, cô đơn, lạnh lẽo. Cái cô đơn như ăn sâu vào tâm hồn Nghi. Nhưng bây giờ thì anh đã có Hường, em ở xa hay gần, em quanh quất bên anh hay mịt mù thăm thẳm. Nhưng anh vẫn như được gần kề bên em mỗi sáng, mỗi chiều, mỗi tối mình vẫn ở gần nhau, phải không em?
    Nghi lại mở điện thoại cầm tay để coi đồng hồ. Năm giờ mười lăm. Còn những mười lăm phút nữa mới hết giờ làm việc. Nghi loay hoay như con gà mắc đẻ.
    Năm giờ rưỡi, vội vã buông công việc,  anh chạy vào phòng vệ sinh rửa tay qua quít rồi anh vù ra xe, nổ máy, chạy thẳng về nhà. Trút bộ quần áo làm việc, vào phòng tắm, mở bông sen. Nước nóng phả vào mặt anh làm anh tỉnh người. Một ngày 8 tiếng, đứng bên máy, nhớt dầu lấm lem, chân tay trầy trợt. Những ngón tay đen ố vì dầu nhớt bám vào. Nghi đã trở thành người lao động chân tay thứ thiệt. Anh lúc nào cũng đứng trong thứ hạng chót bẹt của loài người, hưởng lương hạng bét và làm việc như con bò kéo xe. Chỉ còn có em, còn có em trong đời cho anh được thở, hít, ôm ấp một chút cái mà loài người gọi là hạnh phúc.
    Nước loang loáng phủ lên thân thể Nghi, vực dậy những tế bào đã rũ liệt, mệt mỏi vì một ngày làm việc cật lực. Anh nhìn thân thể mình trong gương, đã xa rồi phong độ của một người con trai hai mươi tuổi, rồi của người đàn ông bốn mươi tuổi. Bây giờ… thời gian  chồng chất oằn vai cộng với sự lạnh lẽo khôn cùng nơi xứ người. Tâm hồn anh như qụy xuống.
    Nhưng anh được vực dậy nhờ có em đến bên đời anh. Nghi nghĩ thế, anh vội vã lau khô thân thể rồi bước vào phòng. Căn phòng nhỏ. Quá nhỏ. Anh sống không hơn người trong nước bao nhiêu. Cái bàn viết, cái computer phủ hết mặt bàn. Những sách vở chất thành nhiều đống trên kệ hay sát bên tường. Đời sống anh gắn liền với những cuốn sách kia, loang loáng trong anh nỗi mơ ước đam mê không rời với một thời sách vở. Nhưng tất cả không cho thêm anh được gì, tâm hồn lúc nào cũng không yên ổn. Anh bận rộn với em, hằng ngày anh sống với em.
    Vào phòng. Căn phòng chật nên nóng nực. Nghi vói tay mở cánh cửa sổ. Chút gió lộng vào làm anh nghe mát lạnh. Bật computer. Vào messenger. Những con mắt xanh đỏ vàng chớp nháy. Nghi vội vã.
    – Em về chưa?
    Nghi gõ trên bàn phiếm.
    – Anh đợi em, em về ăn cơm với anh!
    Anh biết Hường rất đúng giờ. Có tiếng gõ cửa, cốc cốc, cốc. Nút vàng nổi lên.
    – Em về rồi đó hả?
    – Dạ.
    – Anh nhớ em quá, nhớ em suốt ngày.
    – Anh đi làm về mệt không, để em lấy khăn anh lau mặt.
    – Mệt chút xíu, anh vừa tắm xong. Gặp em là anh tỉnh người lại mà.
    Người đàn bà hiện hình lên ở Webcam, chớp nháy. Hường xõa tóc, gương mặt hiền, tươi vui. Mái tóc đó, khuôn mặt đó, đôi mắt đó là của anh mà. Anh thương quá những gì của em, cả cuộc sống anh, hiện tại, đã là của em. Em ngự trị, choáng một khoảng lớn nhất trong đời sống anh.
    – Anh thấy em rồi, em bận áo màu xanh. Áo nầy em đã mặc hồi Tết đi lễ chùa đó, phải không?
    – Đúng rồi, anh vẫn nói là “khi nào em đến với anh, xin… mặc “chiếc áo xanh” mà.
    – Thì màu xanh là màu của hy vọng, màu của tình yêu thương.
    – Em mới may bộ đồ màu hồng. Ngày mai em đến với anh em mặc cho anh nhìn, nhe.
    – Vậy nghe. Bây giờ mình ăn cơm, anh đói bụng quá rồi.
    – Mình ăn cơm đi anh.
    Nghi lấy xách cơm của người nấu cơm tháng để sẵn ngoài cửa, mỗi lần về là anh đem vô nhà. Ở hãng, buổi trưa anh vẫn thường ăn qua quít cái gì đó, khi thì gói mì nấu nước sôi, khi thì ổ bánh mì, nên buổi chiều về anh thường đói rã người ra. Anh mở bọc nhựa, dọn ra nào cơm, canh và thịt cá, bụng anh đói cồn cào.
    Bên kia, Hường cũng đã bới sẳn một chén cơm.
    – Mời anh ăn cơm.
    – Mời em ăn cơm.
    Nghi xúc cơm đưa lên miệng nhai ngoàm ngoàm, còn Hường ăn nhỏ nhẹ.
    – Hôm nay anh ăn gì đó?
    – Cá kho tộ, thịt kho với canh chua. Còn em?
    – Cơm với cá cơm kho tiêu.
    – Ngon hen.
    – Ngon mà.
    Hai người vừa ăn vừa nói chuyện. Đó là Ngưu Lang, Chức Nữ tân thời của thế kỷ 21, vượt qua đại dương, bay trên không trung theo đường chuyền vi tính, hay lặn xuống đại dương theo những đường dây cáp vượt trùng dương, mỗi ngày, đều đặn. 6:30 tối chàng và nàng gõ cửa nhau tại căn nhà vi tính, cùng ăn cơm rồi kể chuyện trên trời dưới đất cho nhau nghe trong suốt một ngày hai người không gặp mặt.
    Nghi hứa:
    – Sang năm anh về thăm em, anh sẽ mua cho em chiếc SH em chạy, chứ em chạy chiếc Nuvo anh sắm cho em năm ngoái, cực lắm. Chiếc SH ngon hơn.
    – Thôi anh đừng sắm cho em, xe em như vậy là được rồi. Em chỉ mong gần anh thôi.
    – Thì anh sẽ cưới em và bảo lãnh cho em qua với anh mà, nhưng trước tiên là sang năm anh về, anh phải sắm cho em chiếc SH, em bằng lòng nhận đi thì anh mới vui.
    – Anh cho thì em nhận.
    Hai nguời gởi cho nhau những hình ảnh có khuôn mặt cười rạng rỡ theo ánh chớp tắt của màn hình.  
    Sau 30 phút ngồi ăn cơm với nhau, Nghi muốn cho Hường đi nghỉ, nên nói:
    – Em mệt thì đi nghỉ đi, mai gặp. Nhé.
    Hường dạ nhỏ nhẹ. Rồi họ hôn nhau rất mùi trên mặt kính. Xong Hường chuyển qua đường links khác, messenger khác. Đúng 7:00 giờ. Có tiếng bên kia:
    – Con mèo con của anh đó phải không?
    Hường gõ trên bàn phím:
    – Dạ, em đây…

 

– Trần Yên Hòa

Năm mươi năm nhìn lại, sau ngày 30 tháng 04, 1975, cái dấu mốc lịch sử đau thương của đất nước Việt Nam, nói chung, và người dân miền Nam nói riêng. Sự thật lịch sử về ngày này đã được phơi bày rõ ràng trên mọi phương tiện truyền thông, tin tức, và trong thế giới sử. Ai cũng đã rõ, phe thắng trận, sai, phe thua trận, đúng. Điều này không cần bàn cãi nữa; cho dù kẻ chiến thắng cố tình viết lại lịch sử Việt Nam theo ý mình khi sức mạnh của họ nằm trên nòng súng. Phe thua cuộc lại là phe thắng được nhân tâm.
Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn.
Hai tên đeo băng đỏ đưa tôi đến một căn nhà nằm trên đường Tôn Thất Thuyết. Nay mới biết là cơ sở kinh tài của Việt Cộng. Vào bên trong, tôi thấy có một số người bị bắt trước ngồi trên băng ghế đặt ở góc một phòng lớn rộng rãi. Họ ngước mắt nhìn tôi có vẻ ái ngại. Tôi biết những người ngồi đó là thành phần đặc biệt nằm trong danh sách tìm bắt của chúng. Nhìn họ, tôi thấy mấy người quen quen. Hình như họ là viên chức Chính Phủ trong tỉnh. Tôi được đưa đến ngồi cạnh họ. Tất cả đều im lặng, không ai nói với ai lời nào ngay cả khi bất chợt nhìn thấy tôi. Có lẽ im lặng để che đậy cái lý lịch của mình, làm như không quen biết nhau, nếu có khai láo cũng không liên lụy đến người khác.
Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.