Hôm nay,  

Ơn người, ơn đời

21/11/202308:30:00(Xem: 3481)
nguyencau

Một chữ ơn tưởng chừng đơn giản và nhỏ bé, ấy vậy mà cả đời không đáp được, có chăng cũng chỉ hời hợt chút chút gọi là. Chữ ơn hàm ý cao cả và thâm sâu, dù nói thế nào cũng không tả hết. Con người ở đời tương tác với nhau, ơn nghĩa với nhau là lẽ đương nhiên, tuy nhiên với những cái ơn hoàn toàn chỉ có thi ơn mà không hề mong báo đáp bao giờ, chẳng hạn như: Ơn Phật, ơn ông bà cha mẹ. Phật và ông bà cha mẹ có bao giờ đòi hỏi chúng ta phải báo đáp, phải nhớ ơn mình? nhớ hay không là tự thân mỗi người chúng ta, điều này cũng thể hiện được nhân cách, văn hóa và giáo dục mà chúng ta có.
    Con người cũng như vạn vật trong trời đất tương tác qua lại lẫn nhau. “Cái này có thì cái kia có, cái này diệt thì cái kia diệt”, không hề có một cái gì là thực thể độc lập, tồn tại một mình. Con người cũng thế, không thể tồn tại độc lập mà không cần có môi trường sống chung quanh, không có nguồn cội… Tất cả do nhiều cái duyên hợp lại mà thành, mà đã do duyên hợp thì cũng ắt do duyên mà tan. Ơn người cũng thế, cũng không thể ngoài nhân duyên. Cũng do duyên mà có cái ơn trở nên cao quý được ghi nhớ, được xưng tán; cũng có mối ơn do duyên mà trở nên quên lãng, mai một thậm chí bị bội ơn.
Nói về ơn thì trước hết phải nhớ ơn Phật. Ngài đã đến thế gian này, khai mở con đường sáng cho mọi người, chỉ ra những nỗi khổ, nguyên nhân khổ, cách thoát khổ… Phật dạy tu phước, tu huệ, sống an hòa từ ái, tăng trưởng từ bi, tôn trọng sự sống muôn loài. Phật dạy con đường giác ngộ, dạy cách ra khỏi biển khổ sinh tử luân hồi. Không có Phật thì loài người sẽ mãi mờ mịt trong màn đêm vô minh, mặc tình tạo tác ác nghiệp. Phật đại từ đại bi chỉ dạy vô điều kiện, yêu thương không cần báo đáp, chỉ có thể nói là “Vô duyên đại từ”. Ngài đem lòng từ và trí huệ ra tận lực chỉ giáo con người mà không cần một điều kiện gì cả. Mình nhớ ơn Phật thì làm theo những gì Phật dạy, tùy phận, tùy sức, tùy thời, tùy duyên; làm với sự cố gắng cao nhất mà mình có thể, ấy cũng tạm gọi là báo ân Phật. Báo ơn Phật không phải dâng một ít trái cây và hoa rồi dập đầu lễ bái, báo ân Phật thì phải:
 
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
(Kinh Pháp Cú)
 
Ơn cha mẹ ai cũng biết, cũng hiểu nhưng vẫn cần phải nói, điều đáng nói ở đây là từ hiểu biết đến thực hành có một khoảng cách khá xa. Không có cha mẹ thì không có mình. Mẹ sanh cha dưỡng, cả đời chăm sóc nuôi nấng lo toan… Một khúc ruột của mẹ cắt ra để tượng thành hình người, từ khúc ruột ấy cha bỏ công sức cần lao nuôi nấng,dạy dỗ để rồi có ta hôm nay. Bởi thế mà thiên hạ vẫn ví cha mẹ như hai vị Phật đầu tiên trong đời của mỗi con người. Thiền tông Nhật Bản có câu chuyện anh thanh niên bôn ba khắp xứ để tìm Phật, tìm hoài không thấy, mãi cho đến khi có một vị thiền sư bảo: ”Anh hãy quay về nhà, người đầu tiên ra mở cửa cho anh đó chính là vị Phật”. Anh ta nghe lời, quay về nhà. Người mẹ già lập cập run run ra mở cửa. Anh ta chợt ngộ: ”Đây chính là một vị Phật”. Con người hiếu thảo, đền đáp công ơn cha mẹ là lẽ tự nhiên, là đạo lý và cũng là nhân cách của mỗi người.
    Trong nhà thì cha mẹ, anh em, vợ chồng, họ hàng tương tác qua lại với nhau. Ra ngoài thì ơn người, ơn đời đôi khi cũng rất diệu kỳ; đôi khi xa lạ nhau nhưng chỉ một lời nói, một cái nhìn, một hành động cũng có thể trở thành cái ơn nhớ mãi trong đời. Đừng nói là chỉ con người, con vật cũng biết ơn, có rất nhiều những câu chuyện thực tế cho thấy loài vật cũng biết ơn và nhớ ơn. Có những con chó nhớ ơn chủ cứ nằm bên mộ chủ nhân hoặc lẩn quẩn quanh nơi cũ của chủ mà chẳng chịu đi đâu. Có những con vật được cứu khỏi dòng nước hoặc đám cháy, nó cứ bám riết lấy người cứu nó. Mới đây nhất truyền thông và mạng xã hội đưa tin hình ảnh một con gấu Kaola ở xứ Úc cứ bám riết lấy người lính cứu hỏa vì anh ta đã cứu nó ra khỏi trận cháy rừng kinh hoàng. Trong sử sách thì có “Quỵ nhũ chi ân”kể chuyện con dê con cứ quỳ trước mẹ nó khi nó bú sữa, hoặc tích chim anh vũ ngày ngày đi tha thóc về nuôi cha mẹ bị mù lòa… Có rất nhiều chuyện vật thọ ơn và báo ơn, dẫu có viết bao nhiêu cũng không thể kể hết.
Ơn người kỳ diệu lắm, chữ ơn ảo diệu vô cùng, dù là vô tình hay hữu ý, chỉ một lời nói, một hành động nhỏ tạo ơn đã khiến cho người thọ ơn nhớ hoài, thậm chí dùng cả thân mạng để đền ơn. Trong sử cũ có vô số những câu chuyện thọ ơn và đền ơn như thế. Có rất nhiều những tấm gương anh hùng, nho sĩ, kỹ nữ… Chỉ vì một chút ơn mà sẵn sàng hy sinh thân mình để báo đáp ơn xưa, tỷ như: “kết cỏ ngậm vành”, “Bát cơn phiếu mẫu”…
    Người Việt chắc ai cũng ít nhiều biết truyện Tàu, sử Tàu, (những thế hệ 8x, 9x hoặc trẻ hơn nữa sanh ra và lớn lên ở hải ngoại chắc không biết). Hàn Tín thuở hàn vi vì quá đói khát mà xin bát cơm của người đàn bà giặt vải bên sông. Sau này khi công thành danh toại ông trở về bến sông xưa với cả ngàn vàng để báo ơn bà lão ấy. Bà lão giặt vải ấy cho Hàn Tín ăn vì thấy thương kẻ đói khát chứ bà nào có tâm tưởng được báo ơn, người ra ơn không mong cầu nhưng người thọ ơn thì nhớ mãi không quên. Có một câu chuyện ơn đời ơn người còn đẹp hơn nữa, hay hơn, ảo diệu hơn: Khi xưa Từ Hải đến lầu xanh chơi, gặp nàng Kiều. Nàng Kiều nhìn cốt cách Từ Hải rồi bảo: “Tấn Dương được thấy mây rồng có phen”. Kiều không xem Từ Hải là lục lâm thảo khấu, không phải phường làm lọan như triều đình kết tội. Nàng xem Từ Hải ngang hàng với Lý Thế Dân, đến Tấn Dương gặp được rồng và mây ngũ sắc che đầu, điều này theo quan niệm xưa là điềm của anh hùng cái thế, là quân vương… Nàng đã xem trọng và đề cao Từ Hải như thế, cũng vì vậy mà gởi gắm tâm tình: “Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau”.
Nghe thế có lẽ Từ Hải sướng rên cả người, sướng mê tơi. Cả triều đình xem mình là giặc ấy vậy mà ở chốn lầu xanh có gái má hồng xem mình ngang hàng với Đường Cao tổ, anh hùng khai nghiệp Đường triều thì còn gì hơn nữa. Từ Hải xúc động mãnh liệt, những lời của Kiều khắc sâu vào tâm khảm của chàng. Chỉ một lời, một cử chỉ của Kiều đã khiến Từ Hải hứa: “ Một lời đã biết đến ta/ Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau”. Không chỉ hứa suông, Từ Hải đã làm như thế và còn hơn thế. Sau khi công thành danh toại “rạch đôi sơn hà”. Từ Hải lập tức rước nàng về dinh, đưa nàng từ phận gái lầu xanh lên làm đệ nhất phu nhân: “Hai bên mười vị tướng quân/  Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu/ Cung nga thể nữ nối sau/ Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy/ Sẵn sàng phượng liễn loan nghi/ Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng”.
    Cái vinh hiển, cái danh dự của Kiều cao ngất trời, thiên hạ được mấy người? Một lời nói ngày xưa ở chốn lầu xanh mà giờ thành phu nhân, lại được trọn quyền báo ân báo oán. Công hiệu của chữ ơn thật khó mà nghĩ tưởng nổi. Ngày ấy nàng nhìn Từ Hải khác với khách làng chơi, nói với Từ Hải những lời khác với khách làng chơi, để rồi ngày sau vinh hiển tột bậc. Ơn người ơn đời kỳ diệu làm sao, đẹp làm sao! Đọc xong những vần thơ của truyện Kiều, nhất là những lúc Kiều và Từ Hải gặp gỡ nhau, đối đáp nhau… Khiến không ít gã du tử mơ màng: ”Giá mình cũng có tài làm nên động địa kinh thiên, rạch đôi sơn hà, triều đình riêng một góc trời... như Từ Hải để mà có dịp tạ ơn người ơn đời”. Khổ một nỗi ở đời, gà vịt thì vô số chứ chim bằng, phượng hoàng có bao nhiêu. Cá chốt, lòng tong đầy đặc chứ cá côn , cá kình được mấy mống. Bởi thế những gã du tử vẫn ngẩn ngơ đời, ôm phận mơ chứ đâu đáp được ơn người ơn đời.
    Đời thường, trong sử sách, trong văn chương có biết bao nhiêu tích, chuyện ơn đời ơn người. Đôi khi chỉ một lời nói, một hành động chìa tay ra… mà khiến cho người ta nhớ suốt đời. Đời thường, có những trường hợp con người ta vì một vấn đề gì đó mà tuyệt vọng nhưng vô tình gặp được sự khích lệ hay một bàn tay ai đó xìa ra… và họ đã đứng dậy, để rồi sau đó thành công và họ nhớ mãi cái ơn khích lệ, cái bàn tay xìa ra lúc tuyệt vọng ấy. Mặc dù người nói lời khích lệ hay xìa bàn tay ra chẳng nghĩ mình đã làm ơn và cũng chẳng nhớ gì cái việc mình đã nói hay đã làm nhưng người thọ ơn thì không thể nào quên. Cái đẹp là ở chỗ này, tính nhân văn là đây, sự ảo diệu của chữ ơn là vậy!
    Ơn người lớn lắm, đôi khi một bữa ăn cũng có thể làm ta nhớ hoài, một lần được nhìn nhận cũng khiến người nhớ không quên. Cải lương Việt Nam có tuồng: ”Dự Nhượng đả long bào”. Dự Nhượng là nhân vật thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu, vì thọ ơn chủ cũ mà hoại hình, hủy thân, nuốt than hồng… để tìm cách tiếp cận kẻ giết chủ mình. Mấy bận hành thích mà không xong, vua mới tuy tha nhưng sự việc quá tam ba bận nên mới giết, trước khi bị giết. Dự Nhượng xin một ân huệ cuối cùng là được đánh long bào vài roi để trả thù và cũng là báo ơn chủ cũ. Câu chuyện thật tuyệt vời về lòng trung, về sự hàm ơn và báo ơn…
    Ơn đời ơn người đôi khi chúng ta không thấy, nó ẩn trong sự tương tác cộng sinh. Ví như có người bảo:” Tôi ăn, tôi mặc nhưng chẳng thọ ơn ai, vì tôi bỏ tiền ra mua” nói thế là không phải, sai rồi! Để có được món ăn ấy phải có bao nhiêu người cộng tác làm ra, từ nuôi, trồng, sản xuất, chế biến, mang đi trao đổi, mua bán...và cái mặc cũng thế, bao nhiều người tương tác cùng nuôi tằm, dệt vải, cắt may, tẩy nhuộm. mua bán, vận chuyển. Mỗi miếng ăn món mặc đều có công sức tương tác của nhiều người. Bởi thế mà ca dao Việt Nam mới có câu: “ Ai ơi bưng bát cơm đầy/   Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”.
    Ơn người với người tương tác cộng sinh, ơn người với vật tương tác sinh tồn, ơn cỏ cây cho dưỡng khí, ơn trời đất cho ánh nắng và sự sống, ơn quốc gia bảo bọc, ơn dòng tộc duy trì… Thiền sư Nhất Hạnh viết: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy/ Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”.
    Sống không chỉ nhận mà phải biết cho đi, cái cho mới trân quý và cao đẹp biết bao. Đôi khi chỉ cho nhau một nụ cười, một cái ôm cũng đủ để thấy đời đẹp, đời đáng sống và đủ để ơn nhau.
    Những năm cuối thập niên bảy mươi đến thập niên tám mươi của thế kỷ trước, khi mà người Việt vượt biên lên đến đỉnh điểm. Hàng vạn người chết vì chìm tàu, đói khát, bão tố, hải tặc…Có một vị phóng viên người Đức là Rupert Neudeck đã vận động quyên góp và dùng con tàu Cap Anamur cứu vớt thuyền nhân trên biển đông. Họ đã cứu được 11.300 thuyền nhân. Ông Rupert Neudeck quả là có tấm lòng đại bi của bậc bồ tát, với năng lực của một phóng viên, trái tim nhân ái, một tinh thần qủa cảm của một chiến binh. Ông và con tàu ra khơi cứu hàng vạn người đang chơi vơi giữa biển. Ông không nao núng và không bỏ cuộc khi đối mặt với sự bài ngoại của xã hội lúc đó và sự đe dọa truy tố của chính quyền. Ông đã vượt qua tất cả, hàng chục ngàn thuyền nhân đã được cứu sống, đã đến được bến bờ tự do. Rupert Neudeck và đồng đội đã cứu thuyền nhân với tấm lòng nhân ái vô vị lợi và dĩ nhiên chẳng cần ai báo đáp, không mong gì báo đáp. Những người Việt ở hải ngoại hôm nay, nhất là những người và con cháu những người được cứu sống bởi con tàu Cap Anamur (hay những con tàu tương tự như thế) không biết bây giờ có còn ai biết ơn đời ơn người?

 

Tiểu Lục Thần Phong

(Ất Lăng thành, 11/23)

 

 

Có nhiều người tự hỏi là tại sao sang đến xứ tự do tạm dung này lại có những chuyện buồn như thế xảy ra cho người đàn ông, thay vì chỉ thường thấy xảy ra cho người đàn bà khi chúng ta còn ở quê nhà. Chắc rất nhiều người trong chúng ta, nhất là phái nam, đều hiểu rõ có nhiều nguyên nhân rất sâu xa, tế nhị, phức tạp, không tiện nêu ra ở đây, nhưng câu chuyện tình buồn được kể lại sau đây là một trong những trường hợp điển hình
…Khi anh tới cổng viện dưỡng lão, trời đã chạng vạng tối, chỉ còn bà mẹ anh và bà thư ký ngồi co ro trên ghế đá… họ đợi anh, bà thư ký vội báo cho anh hay là anh hãy canh giữ, nuôi bà cụ khoảng một tháng, chờ tình hình dịch bệnh tăng giảm ra sao, rồi thành phố sẽ quyết định và nhà già sẽ liên lạc với anh ngay sau đó. Bà thư ký đi khỏi, anh quay lại ngó mẹ và đau lòng thấy bà cụ co dúm như một mớ giẻ rách khô… anh đỡ mẹ ra xe, và nhỏ nhẹ khuyên trấn an: - Mẹ cứ về ở với con ít lâu, coi tình hình ra sao?
Có nhiều người sợ hãi khi nghĩ đến cái chết, nhưng thật ra nếu nghĩ thường xuyên đến cái chết là một việc hết sức tích cực và giúp cho người già rất nhiều. Mỗi khi nghĩ đến cái chết giúp cho ta thức tỉnh và sống trở lại giây phút hiện tại và quán chiếu xem mình phải làm gì trước khi nhắm mắt lìa đời. Nghĩ đến cái chết giúp ta dừng lại, xem xét những việc mình đang làm, những gì mình ước mong thực hiện và những tham vọng về tiền tài, chức phận, vật chất để được hưởng thụ. Khi tuổi về già chúng ta không nên tránh né nghĩ đến cái chết, mà nên nghĩ đến nó thường xuyên và nhất là nên chuẩn bị cho cái chết. Khi chuẩn bị cho cái chết ta sẽ suy nghĩ chín chắn hơn những gì nên và không nên làm trước khi qua đời và mình sẽ tự giúp tránh những việc vô ích, không có ích cho ai và mất thì giờ, để dành cho những việc quan trọng hơn, có ích lợi
Xâu chuỗi ngọc. Những viên đá quý. Tôi lại mỉm cười. Quý hay không quý tôi cũng không biết. Tôi không biết gì về vàng bạc, nữ trang. Tôi chỉ biết là tôi thích những tia màu phản chiếu lấp lánh phát ra từ những hạt đá nhỏ trong xâu chuỗi. Những tia màu như những câu chào hỏi rộn ràng. Cũng có thể xâu chuỗi làm bằng những hạt đá giả bằng nhựa. Bởi chúng rất nhẹ. Người đàn bà làm tôi xiêu lòng. Tôi sẽ mua tặng người yêu như lời bà ta nhắc nhở, dù tôi không chắc là đến ngày tháng này tôi đã có người yêu hay chưa. Tiểu Quyên là người nữ duy nhất trong thế giới tôi. Nhưng Tiểu Quyên với tôi là hai người bạn, hay đúng hơn là hai chú cháu.
Chiếc xe đò rẽ vào ngả ba Lộ Tẻ, chạy chậm lại rồi ngừng hẳn. Trên xe một số người nhốn nháo, ló đầu ra cửa sổ xem có chuyện gì. Anh phụ xe nhảy xuống vội vàng chạy về phía trước. Đã hơn 2 giờ chiều, trong xe hầm nóng và trở nên ồn ào. Vài phút sau, anh phụ xe trở lại và báo tuyến đường về Rạch Giá đã đóng vì nước lũ về ngập một số đoạn đường dài phía trước. Tất cả bà con phải xuống xe, hoặc tìm nhà nghỉ tạm chờ nước rút, hoặc bao đò máy về Rạch Giá. Đó là một buổi chiều giữa mùa nước nổi, tôi theo dòng người bước xuống xe, trời hanh nắng và đứng gió. Đường xá, đò ghe tôi không biết rành, chắc là phải tìm nhà xin trọ, chờ nước rút.
Rứa là tui được hưởng hai cái bánh nhỏ thanh tao dòn rụm, bột họ pha răng mà mê rứa không biết, kèm mấy lát vả, lát khế, rau sống chấm nước tương pha chế ngon ơi là ngon. Tỉnh táo bao tử rồi hắn chở tui đi vòng thành phố Huế, qua khu Thương Bạc, ủa bữa ni răng mà người đông rứa, bớt vẻ yên tĩnh như ngày xưa, tiệm quán cũng mọc lên khó còn đất trống. Vừa đi hắn vừa kể nỗi gian khổ lúc trẻ, nay thì hậu vận quá tốt, con có địa vị thành công, chồng cưng yêu nhiều hơn lúc tuổi xế chiều, mà nhìn kỹ hắn tươi đẹp mặn mà ghê, chắc hạnh phúc gia đình biến sắc thêm xinh hè. Đi nửa ngày hắn thả tui về nhà” tau bận chút chuyện, sẽ gặp mi sau nữa nghe. Tui cám ơn hắn, gần 50 năm tuy xa mà hắn vẫn nhớ, vẫn đầy tình bạn thân thiết như hồi mô.
Sàigòn cũng như Phan Rang không có 4 mùa, nhất là mùa Thu. Nhưng Sàigòn cũng như Phan Rang đều có những đêm trăng Thu mờ ảo đẹp và buồn giống như mắt của em.
Cuộc điện thoại đã dứt mà Tử Linh vẫn còn đứng tần ngần một lúc rồi mới quay trở ra hiên, ngồi xuống cái ghế gỗ mà khi nãy cô đang ngồi, vừa đọc sách, vừa nhâm nhi tách trà nóng và những chiếc bánh madeleine thơm mùi vanilla trước khi tiếng chuông điện thoại từ trong phòng khách buộc cô phải chạy vào...
Ba đứa chơi thân với nhau tự thuở nào, thiên hạ ai cũng bảo ba đứa ấy như hình với bóng, họ còn kháo nhau là mật thiết hơn cả tam tinh, tam điểm, tam tụ, tam anh… Chẳng cần kết nghĩa đào viên nhưng chúng sống chết có nhau, chưa bao giờ rời nhau một li hay một khoảnh khắc nào. Thỉnh thoảng cũng có xung đột giữa ba đứa nhưng rồi cũng trôi qua êm thấm. Cả ba nương tựa nhau, hỗ trợ nhau, sinh hoạt qua lại với nhau. Thật tình mà nói thì chỉ có hai mới đúng, vì thằng Tưởng vốn là đệ tử ruột của thằng Tâm mà ra, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt nào đó nên thiên hạ cho là ba, nói cho cùng thì là bộ bà cũng đúng hay khắt khe bảo bài trùng cũng không sai.
Lật bật đã tới tháng 9 mùa tựu trường. Lòng nao nao nhớ thời học sinh nhỏ nhít đất thần kinh xưa. Ở Huế, mùa tựu trường cũng tưng bừng rộn rịp như bất cứ nơi nào khác trên đất quê nhà. Cũng bâng khuâng luyến tiếc những ngày hè tươi đẹp chóng qua. Cũng nao nức trở lại trường lớp gặp bạn thầy cũ, mới. Có khác chăng mặt mũi mấy cô mấy cậu học trò đều phảng phất một vẻ nghiêm trọng. Làm như mình đã trưởng thành tới nơi!
Cách đây 5 năm ông bà này có cho một cậu sinh viên Việt nam trẻ tuổi, đáng tuổi con cháu xin mướn phòng ở trọ học tại nhà ông bà cho đến đầu năm tới 2025, cậu sinh viên này sẽ tốt nghiệp đại học 4 năm với văn bằng cử nhân
Cũng như các trại tỵ nạn khác, ở Thailand cũng có một khu “nhà tù” dành cho những người tỵ nạn không chấp hành quy định của Bộ Nội Vụ Thái hay của Cao Ủy tỵ nạn. Thời hạn ở tù tùy theo mức độ phạm quy, có khi từ một vài ngày cho tới một hai tuần. “Tù nhân” cũng đủ loại, nhẹ thì có những người mua lén đồ ngoài hàng rào, thức quá giờ giới nghiêm, quên làm vệ sinh khu nhà được phân công, nặng hơn là thành phần đánh lộn, gây mất trật tự trong trại, trộm cắp vặt, trốn ra ngoài trại đi chơi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.