Hôm nay,  

Nhớ Huế

14/03/202407:44:00(Xem: 3090)
Tùy bút

ao tim ben cua

Tôi thuộc lứa sinh viên “tú tài Mậu Thân, cử nhân Nhâm Tý”, nhưng chỉ được vế đầu, còn đỗ cử nhân thì phải đợi đến… Giáp Dần (1974)! Có lẽ số tôi lận đận trong học hành, thi cử! Đó là nói vui hoặc là an ủi, sự thực là đậu tú tài ban B hạng bình thứ, nhưng đậu không nổi vào Nông Lâm Súc Sài Gòn bèn phải ghi danh học MPC Đà Lạt. Học cả năm không đậu đành hát bài “quy cố hương”.
    Anh chị trong gia đình vẫn muốn tôi tiếp tục ghi danh vào Đại học Khoa học nhưng phần vì khiếp Toán Lý Hoá, phần vì hồi ở Đà Lạt thỉnh thoảng hay theo số sinh viên sử địa đi du khảo nơi này nơi khác nên thích học địa lý, phần khác là vì mê môn sử từ những thầy dạy hồi trung học, nên chàng ta bèn “dũng cảm” ghi danh học Sử Địa Đại học Văn khoa (Huế). Niên khóa 1968-69, Đại học Văn khoa bắt đầu theo chương trình “niên chế” và tôi vào năm thứ nhất chương trình này.
   Là dân Quảng, cha tôi và một anh, một chị đã từng học và làm việc ở Huế nhờ đó tôi cũng đã có vài lần đến Huế lúc còn nhỏ nên vẫn có cảm tưởng thân thiết, hơn nữa khi ra đó lại ở tại Cư xá sinh viên Huỳnh Thúc Kháng của hội Ái hữu đồng châu Quảng Nam, toà soạn cũ của báo Tiếng Dân.
    Nhờ những thuận lợi đầu tiên đó, cùng với việc ở cư xá chỉ biết lo học, tôi học hỏi được nhiều thứ, từ cách sống tập thể đến cách tìm tòi tra cứu, cách trình bày một bài làm ở những người anh em học năm cuối Việt Hán, Luật nên ngay năm đầu tiên, kết quả học tập tương đối khả quan.
    Hè năm ấy, học quân sự học đường ở Phú Bài một tháng, vì đã có 5 tuần học ở Trung tâm huấn luyện Lam Sơn Ninh Hoà do đại học Đà lạt gửi xuống, tôi học với những sinh viên năm 2 của tất cả các phân khoa.
    Với lý do tìm cách hoãn dịch sau khi ra trường, thay vì tiếp tục học năm 2, tôi nộp đơn thi vào Đại học sư phạm Huế. Ngày vào vấn đáp, một số người có trường hợp như tôi từ quân trường, mặc đồ lính, tóc húi cua về thi. Bây giờ, hơn bốn mươi năm đã qua, nhớ lại vẫn thấy buồn cười… Vậy là, nếu chỉ cần thêm một năm như thế nữa, tôi đã đậu bằng “cử nhân năm thứ nhất” (?)
    Năm đầu tiên ở Đại học sư phạm, lớp tôi có Hoàng Văn Tôn, dân Đà Nẵng ra học. Không lâu sau, hắn trở thành “dân chơi” ở lớp, ở khoa, ở cả ngoài đường vì đã có thành tích ăn chơi từ trung học. Tôi với Tôn nhanh chóng thân nhau, dù tôi chỉ thuộc hạng “ăn chơi nửa mùa” thỉnh thoảng cũng đi giang hồ vặt theo kiểu “nghe tiếng cơm sôi bỗng nhớ nhà”!
    Tôn trọ học ở nhà ngoại, đầu đường Huỳnh Thúc Kháng, gần cư xá tôi ở. Qua Tôn, tôi quen biết gia đình Đặng Ngọc, phòng vẽ Ngọc Duy, Thanh Nhã (Văn), Thanh Hải (Anh văn) cùng năm Lệ Hà (Văn ) khoá sau để rồi vòng giao tiếp mở rộng dần đến một số sinh viên âm nhạc, mỹ thuật, tạo tác… Nhóm chúng tôi chọn nhà Nhã làm “tụ điểm sinh hoạt”, uống café, nghe nhạc, trà đàm, nơi chờ đợi nhau để cùng đi ciné, coi triển lãm mỹ thuật, nghe các buổi hoà nhạc, diễn thuyết, các bài giảng môn “con người và môi trường sống”… thậm chí cùng nhau đi ngắm người trong các buổi xuống đường, tuyệt thực, tranh đấu.
    Chúng tôi vẫn luôn luôn tâm nguyện và nhắc nhau phải học để cuối năm có kết quả cao nhất! Lên năm ba, lại sinh hoạt với phong trào du ca Huế, đi hát “uỷ lạo chiến sĩ tiền đồn” nhân ngày Giáng Sinh ở các căn cứ Bastogne, Checkmate,  Birmingham… Đó là chưa kể những lần đi cứu trợ bão lụt, dọn nhà cháy cùng với sinh viên liên cư xá. Nhớ những ngày di tản về Đà Nẵng sau mùa hè đỏ lửa 1972, ưu tư về thời cuộc thì ít mà nỗi lo không biết ngày nào được ra lại Huế thì nhiều. Nên khi có ai đó, trong những ngày chiến sự ác liệt, ra được Huế rồi trở vào, mang theo một biđông nước, chúng tôi đi uống café chung và mỗi người uống một ngụm nước sông Hương mà cứ ngỡ như dân Hồi giáo uống nước thánh đem về từ thánh địa La Mecque!
    Dông dài như thế để các bạn hiểu rằng thằng “yêu đạo” này học thì xoàng mà sao “mâm nào cũng có” ? Cũng dễ hiểu thôi mà! Ở quân trường Đống Đa Phú Bài dứt khoát tôi ở đại đội đàn anh cùng với sinh viên khoá Nguyễn Đình Chiểu, ở  Văn khoa, tôi cùng học với những sinh viên từ sư phạm khoá Lương Văn Can gửi qua và chính thức là SV khoá Huỳnh Thúc Kháng. Sau này, vợ tôi lại là một đàn chị, ra trường từ khoá Nguyễn Đình Chiểu, nên khi ai hỏi vợ làm gì. ở đâu mà cần phải trả lời chi tiết tôi đem cái chiêu bài đã nói ở trên “Tú tài Mậu thân…” ra dùng để lấp cái đàn em thua thiệt về tuổi nghề của mình!
    Xa Huế đã nhiều năm nhưng tôi vẫn giữ thói quen mỗi năm phải về thăm một lần trong dịp hè. Thời bao cấp thăm gia đình vợ, những năm sau này thăm các em vợ còn ở lại Huế, nhưng tận cùng thâm tâm vẫn là thăm cái nôi kỷ niệm ngày đi học, nơi mình đã từng sống, có quá nhiều kỷ niệm khó quên. Và thế nào trong những lần về đó, phải đảo một vòng văn khoa, sư phạm cũ, vào Mai Thúc Loan nội thành để nhớ ngày xưa đi đếm từng cây phượng nở hoa. Thú vị nhất, khi có những buổi chiều cùng với thằng con trai nhỏ đi bộ suốt từ Phan Bội Châu lên Trần Hưng Đạo để tìm lại cái không khí “bát phố” đã trở thành thói quen cuối tuần suốt những năm đi học. Mua một vài cuốn sách, ngắm người đẹp trên phố hoặc tìm lại tâm trạng “Bên cầu đứng ngắm em qua phố.Bận áo vàng xưa bỗng giật mình” (thơ Nguyễn Phước ?). Nhưng sau này vật đổi sao dời nhiều quá nên chỉ còn đọng lại tâm trạng buồn và  nỗi nhớ về “những người muôn năm cũ”!!
    Ra trường, đi dạy, mãi mê lao vào dòng chảy của suối đời gian nan, thử thách, bất an và đầy nghiệt ngã tôi vẫn đầy nỗi nhớ Huế. Nhưng lạ thay, hình ảnh thầy cô nhiều lúc lờ mờ trong ký ức, nhưng kỷ niệm vui chơi với bạn bè thì vẫn hiện lên mồn một. Nhớ những ngày đi học trời lất phất mưa, thả bộ qua cầu với Thanh Nhã, mỗi đứa nói tên một bản nhạc mà tựa đề có chữ xuân, rồi cứ thế, hạ, thu, đông… cho đến khi vào lớp; nhớ những đêm cùng vài anh em cư xá qua tổng hội uống Café chị Giang khi về đã trễ, mỗi thằng xách dép cầm tay qua cầu để nghe mát lạnh dưới bàn chân; nhớ lần ủng hộ Thông, Tiếp, Hải, Ngọc… tranh cử ban đại diện sinh viên sư phạm; nhớ ngày cả nhóm chạy gạo cứu trợ đồng bào Quảng Trị vào ở bên trường tiểu học Lý Thường Kiệt mùa hè đỏ lửa 1972; nhớ những ngày tham dự trại Nối vòng tay lớn của sinh viên quốc nội cùng với một số sinh viên Việt kiều từ nhiều nước về sau hè 1972 rồi lan man nhớ đêm kết thúc đại hội Liên đoàn sinh viên công giáo, để có dịp được nghe Vũ Thành An hát  Anh đến thăm em đêm ba mươi và một ca khúc bản mới Một lần nào cho tôi gặp lại em tặng các chị cư xá Mai Trinh (?). Ơi nỗi nhớ miên man, nỗi nhớ thật khôn cùng nhưng cũng là nỗi nhớ….tuyệt vời!
    Trong  cuốn nhật ký “viết những khi thích” có từ đầu những năm 1980 phần nhớ về Huế tôi đã viết: “Cứ vào những ngày gần giữa tháng chạp, khi bên ngoài lành lạnh và màu nắng trở vàng, lòng tôi bỗng rộn lên những xôn xao khó tả. Nhớ phố, nhớ hành lang văn khoa, văn phòng ban đại diện sinh viên sư phạm ngập tràn tiếng hát “Ngày xuân nâng chén…” trong những buổi tập văn nghệ cho “Đêm Văn Khoa”, “Đêm Sư Phạm ” trước khi trường nghỉ Tết. Đã bao năm qua rồi mà tiếng hát ngày ấy vẫn cứ quyện mãi lòng tôi mặc cho sóng đời vùi dập, mặc cho trái tim thành chai sạn trước những thăng trầm của thực tế cuộc sống!”
    Tháng 10.1974, ra trường về dạy học ở Cam Ranh, tôi, Kim Ngân và Kim Quỳ sống với nhau vô cùng thân thiết. Tôi và Kim Ngân cưới nhau không lâu thì Kim Quỳ đi nước ngoài. Nhiều lúc vợ chồng vẫn cùng nhau nhắc nhớ về Huế, tôi vẫn nhủ lòng: rất may mà mình có một người vợ Huế để có những lúc cùng buồn cùng vui với Huế và cùng… nhớ Huế. Rồi lại có một thời gian hơn 10 năm, tôi chuyển sang làm việc khác ở Cam Ranh, xa nhà gần 50 km. Nhưng khi các cháu đi học rồi đi làm và ở hẳn Sài Gòn, Kim Ngân ở nhà một mình, tôi lại phải quay về và nghĩ rằng mình đã được đào tạo từ Đại học sư phạm Huế nên lại đem kiến thức học được ở trường để tiếp tục dạy một số tiết thỉnh giảng ở trường bán công như là một cách giữ mối dây thâm tình với Huế và mặt khác khỏi phụ lòng mong ước của gia đình.
 
– Nguyễn Hoàng Quý

Có thể nói không ngoa, rằng bầu cử Tổng Thống Mỹ được cả thế giới quan tâm, huống chi Canada là hàng xóm kế bên, hỏi sao không “hot”?
Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.