Hôm nay,  

Phan Rang-một Ngày Lịch Sử

16/06/202415:28:00(Xem: 5753)

                                                                                                 

 

Khi tiếng ve sầu râm ran gọi vào Hè, khi những cành phượng vĩ trổ hoa nhuộm đỏ sân trường Tiểu học Phan Rang là lúc tâm hồn Trọng  bồn chồn nhớ về môt kỷ niệm khôn nguôi. Sau bao nhiêu năm trôi giạt qua nhiều thế hệ, qua nhiều đất nước, lãnh thổ, kỷ niêm ấy khômg bao giờ phai mờ trong ký ức của anh  

 

Sáng mai hôm ấy, một sáng mai của tháng 6 năm 1951, mùa thi bằng Tiểu Học-Primaire- được tổ chức hàng năm tại Trường Tiểu học Phan Rang-(École Primaire de PhanRang). Chương trình thi có tính cách giao thời, gồm có tiếng Việt lẫn tiếng Pháp - Thí sinh phải thi viết bài ám tả (chính tả) tiếng Việt và đồng thời phải thi viết bài bài ám tả bằng tiếng Pháp- Orthographe còn gọi là Dictée Francaise. Thí sinh năm ấy gần 100 người gồm có học sinh của các trường trong tỉnh và các thí sinh tự do. Sau khi thi 15 ngày, có buổi xướng danh như ngày xưa có buổi lễ xướng danh cho các tân khoa Tiến Sĩ... Năm đó thí sinh đậu 62 người, anh đậu hạng thứ 43.

 

Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da.  Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.

 

Những năm 45-50, những năm “tiêu thổ kháng chiến”, cha anh thoát ly gia đình theo kháng chiến vào năm 1949. Chưa đầy môt năm sau cha anh bị giặc Pháp bắt. Lúc ấy cha anh đã gần 50 tuổi, ông để râu dài.  Khi bắt được cha anh bọn giặc Pháp thoa xăng đốt râu cha anh ngay trước mặt các tù nhân.

 

Có điều lạ, ngày xướng danh Trọng đậu Primaire cũng là ngày cha anh được thả tù. Gặp lại cha, Trong ôm cha và khóc. Cha anh cảm động vỗ về: cha con mình gặp lại nhau trong ngày vui như thế này cũng tốt quá rồi. Có nhiều người còn khổ lắm con! Trọng sờ cằm cha, hỏi hàm râu của ba đẹp tại sao ba cạo nó? Cha anh thản nhiên trả lời: Không phải ba cạo mà chính tụi Tây nó thoa xăng đốt hàm râu của ba... Anh thật sư đau đớn đứng nhìn cha. Anh mường tượng lửa xăng bùng cháy thiêu đốt hàm râu và gương mặt của cha. Ông đau đớn biết là dường nào. Dường như đọc được ý nghĩ của anh, cha an ủi anh: Không đâu con, có nhiều người bạn của ba bất hạnh hơn ba nhiều! Họ bi tụi Tây Phòng Nhì (Deuxième Bureau) nó châm điện ngay trên đầu dương vật của họ khi bọn nó tra khảo họ. Họ đau đớn hơn ba biết là dường nào!  Khi được thả tù về họ hoàn toàn bị liệt dương!

 

Sau khi kể xong câu chuyện, cha anh cố giữ vẻ thản nhiên, nhưng, hình như ông đang rươm rướm nước mắt. Anh không hiểu có phải cha đau đớn khi nhớ lại bọn Tây thoa xăng đốt râu ông? Hay cha  anh đang chia sẻ nỗi đau của bạn bè ông khi họ bị bọn Tây Phòng Nhì châm điện trên đầu dương vật của họ?  

Bỗng nhiên cha anh bảo, trong chiến tranh loài người tàn ác với nhau - Nhưng chỉ có loài người mới biết tha thứ cho nhau. Đó cũng là lý do tại sao nhân loại vẫn tồn tại và phát triển đến tận hôm nay.../.

 

Đào Như

Ohio -May 23-2024

Mùa hè, trời cứ cao xanh, thăm thẳm, ong ong và chong chao cái nắng. Chỉ có mùa thu, bầu trời như xuống thấp hơn một cung bậc, và mây cứ từ đâu, đùn đẩy, xếp hàng, có khi chồng chất nhau thành những đụn mây với những màu sắc: trắng, xám, ánh vàng và có cả đen của màu... tóc làm nhung nhớ của một thời bịn rịn, với tóc mây (không phải tóc mai) thơm mùi bồ kết, hương nhu, thao thức hoài trong giấc ngủ...
Chúng ta “ăn để mà sống” hay “sống để mà ăn”? Tôi vẫn nghĩ rằng, mọi người đều phải trải qua cả hai giai đoạn kể trên, khi còn trẻ sung sức thì “sống để ăn”, và khi tuổi về xế chiều thì “ăn để sống”...
Ở nhà thường gọi là chị Xíu. Tên của chị là Lan Vy, chị họ của tôi. Chị em tôi chơi thân với nhau như chị em ruột. Tôi không có chị gái nên hình mẫu để tôi học hỏi chính là chị. Chị nổi tiếng xinh đẹp và hiền thục ngay từ lúc còn là nữ sinh đệ nhất...
Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng nhìn dáo dác chung quanh. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gió nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Tôi dụi mắt mấy lần cố tìm những gì thân quen của một quá khứ yêu dấu xa xưa...
Người Việt Nam chúng ta cũng có một bài thơ sống động mà có vẻ như ngôn ngữ của thi ca không thể nào diễn tả hết nét đẹp. Đó là những tứ thơ diễm lệ, đẫm đầy tình yêu và sự hào hùng của những người trẻ, những thủ lĩnh Việt Nam Quốc Dân Đảng, trong chuyến xe ra pháp trường Yên Bái ngày 17 tháng 6 năm 1930...
Tôi nhìn sững vào con bé đen (nên gọi là con bé hay là cô bé đây). Nó đang đứng nói chuyện với một người đàn ông Mỹ lớn tuổi, cũng đen như nó, ở trước cửa phòng ra vào khu tập thể dục. Con bé chừng mười bảy, mười tám tuổi là cùng, nước da đen cáy trông như một pho tượng đồng đen...
Tôi vốn mê đọc từ thuở còn rất nhỏ. Dĩ nhiên, mê bất cứ thứ gì cũng đều không tốt, vì nó sẽ hình thành một thứ nghiệp gì đó. Thêm nữa, chữ bao giờ cũng mơ hồ. Chữ là ký hiệu, là biểu tượng, là ngón tay chỉ trăng. Dù vậy, trong khi chữ là một hàng rào ngăn cách chúng ta với thực tại, chữ lại là một phương tiện để hiểu nhau, để cảm thông và để hoằng pháp.
Cách đường lớn có mấy mươi mét mà con hẻm 69/3/17 này là cả một thế giới khác. Chùa Ông Bổn nằm ngay ngã ba giao nhau của mấy con hẻm luôn, từ đây tỏa ra và chạy quanh quẹo sâu vô trong những xóm nhỏ khác nữa. Những con hẻm ở đây cả ngày chẳng có nắng giọi, chỉ trừ lúc giữa trưa, những ngôi nhà cao tầng bao quanh ở mặt tiền che chắn hết nắng trời. Cái không khí mát dịu hơn bên ngoài nhưng cũng rất ủm thủm ẩm thấp...
Chị Bông đi shopping về vội vàng lo sửa soạn bữa cơm chiều xong chợt nhớ ra hôm nay chồng sơn lại cái hàng rào patio nên ra vườn sau xem kết quả, chị tưởng tượng đến những hàng rào song sắt màu nâu mới mà lòng rộn ràng...
Tháng 10 năm 2019, tôi có tới bốn thân hữu của trên dưới sáu mươi năm quen biết, họ đã cùng nhau bỏ ra đi vào cõi vô cùng: Du Tử Lê, Nguyễn Tường Quý, Nguyễn Văn Trung và Trần Tuấn Kiệt. Thời gian ấy, tâm tư xáo trộn, thẫn thờ cả tháng. Chưa bao giờ tôi bị xúc động mạnh đến thế; và dĩ nhiên, chẳng có thể viết ra được một lời nào về họ!
Ở đâu không biết, chứ ở giáo xứ của tôi, thành phố của tôi, mùa hè là mùa nhộn nhịp đi vacation, hay nói đúng hơn là mùa hè thì đi nhiều hơn các mùa còn lại trong năm. Đám trẻ tuổi còn sức lao động hăng hái thì tôi không bàn tới, tôi muốn nói đến lứa tuổi sồn sồn, trung niên, ngấp nghé về hưu và bắt đầu về hưu...
Chồng tôi bị bạo bệnh qua đời được vài năm thì tôi quyết định bán căn nhà cũ và văn phòng địa ốc của anh ấy để dời đi nơi khác, cố quên đi môt dĩ vãng đau thương. Tôi đã quá mệt mỏi với công việc làm ăn mà xưa kia anh ấy luôn gánh vác những phần nặng nhọc nhất. Chồng tôi là một người hiền hòa, hoạt bát rất lo cho vợ con, cho nên sự ra đi của anh ấy đã mang theo không những một chỗ dựa vững chắc cho mẹ con tôi mà cả linh hồn và thể xác của tôi...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.