Hôm nay,  

Phan Rang-một Ngày Lịch Sử

6/16/202415:28:00(View: 5586)

                                                                                                 

 

Khi tiếng ve sầu râm ran gọi vào Hè, khi những cành phượng vĩ trổ hoa nhuộm đỏ sân trường Tiểu học Phan Rang là lúc tâm hồn Trọng  bồn chồn nhớ về môt kỷ niệm khôn nguôi. Sau bao nhiêu năm trôi giạt qua nhiều thế hệ, qua nhiều đất nước, lãnh thổ, kỷ niêm ấy khômg bao giờ phai mờ trong ký ức của anh  

 

Sáng mai hôm ấy, một sáng mai của tháng 6 năm 1951, mùa thi bằng Tiểu Học-Primaire- được tổ chức hàng năm tại Trường Tiểu học Phan Rang-(École Primaire de PhanRang). Chương trình thi có tính cách giao thời, gồm có tiếng Việt lẫn tiếng Pháp - Thí sinh phải thi viết bài ám tả (chính tả) tiếng Việt và đồng thời phải thi viết bài bài ám tả bằng tiếng Pháp- Orthographe còn gọi là Dictée Francaise. Thí sinh năm ấy gần 100 người gồm có học sinh của các trường trong tỉnh và các thí sinh tự do. Sau khi thi 15 ngày, có buổi xướng danh như ngày xưa có buổi lễ xướng danh cho các tân khoa Tiến Sĩ... Năm đó thí sinh đậu 62 người, anh đậu hạng thứ 43.

 

Anh nhớ rõ buổi sáng hôm đó, anh đang chăm chú theo dõi viết bài bài thi Dictée Francaise do thầy Trương Thành Khuê đọc, bỗng nhiên ngửi thấy mùi cứt, cả lớp ngẩng đầu nhìn qua bệ cửa sổ thấy có 4 người tù đẩy một chiếc xe có hai thùng phân của nhà lao Phan Rang, theo sau là môt tên lính mang súng và tay cầm roi da.  Cả thầy Khuê và các bạn đều nhìn ra cha của anh, một trong 4 người tù ấy. Anh cúi xuống và tiếp tục viêt bài thi. Cuối giờ thi, nước mắt anh hoen ố bài Dictée. Thấy vậy thầy Khuê lấy tờ giấy chậm (buvard), chậm khô bài thi Dictée. Cha của anh cũng là giáo viên, có thời ông là bạn láng giềng thân thiết của thầy Khuê. Đến lúc ra về, các bạn Long Địch Trạnh, Trần Nhât Tân, Trần Văn Thì... đang đứng đợi anh bên ngoài véranda, các bạn đến an ủi và vổ về khích lệ khuyên anh cứ tiếp tục thi.

 

Những năm 45-50, những năm “tiêu thổ kháng chiến”, cha anh thoát ly gia đình theo kháng chiến vào năm 1949. Chưa đầy môt năm sau cha anh bị giặc Pháp bắt. Lúc ấy cha anh đã gần 50 tuổi, ông để râu dài.  Khi bắt được cha anh bọn giặc Pháp thoa xăng đốt râu cha anh ngay trước mặt các tù nhân.

 

Có điều lạ, ngày xướng danh Trọng đậu Primaire cũng là ngày cha anh được thả tù. Gặp lại cha, Trong ôm cha và khóc. Cha anh cảm động vỗ về: cha con mình gặp lại nhau trong ngày vui như thế này cũng tốt quá rồi. Có nhiều người còn khổ lắm con! Trọng sờ cằm cha, hỏi hàm râu của ba đẹp tại sao ba cạo nó? Cha anh thản nhiên trả lời: Không phải ba cạo mà chính tụi Tây nó thoa xăng đốt hàm râu của ba... Anh thật sư đau đớn đứng nhìn cha. Anh mường tượng lửa xăng bùng cháy thiêu đốt hàm râu và gương mặt của cha. Ông đau đớn biết là dường nào. Dường như đọc được ý nghĩ của anh, cha an ủi anh: Không đâu con, có nhiều người bạn của ba bất hạnh hơn ba nhiều! Họ bi tụi Tây Phòng Nhì (Deuxième Bureau) nó châm điện ngay trên đầu dương vật của họ khi bọn nó tra khảo họ. Họ đau đớn hơn ba biết là dường nào!  Khi được thả tù về họ hoàn toàn bị liệt dương!

 

Sau khi kể xong câu chuyện, cha anh cố giữ vẻ thản nhiên, nhưng, hình như ông đang rươm rướm nước mắt. Anh không hiểu có phải cha đau đớn khi nhớ lại bọn Tây thoa xăng đốt râu ông? Hay cha  anh đang chia sẻ nỗi đau của bạn bè ông khi họ bị bọn Tây Phòng Nhì châm điện trên đầu dương vật của họ?  

Bỗng nhiên cha anh bảo, trong chiến tranh loài người tàn ác với nhau - Nhưng chỉ có loài người mới biết tha thứ cho nhau. Đó cũng là lý do tại sao nhân loại vẫn tồn tại và phát triển đến tận hôm nay.../.

 

Đào Như

Ohio -May 23-2024

Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
Hôm ấy đất trời quang đãng, bầu trời Colorado trong xanh như thể chưa từng xanh như thế, mây trắng lững lờ trôi trùng trùng vô tận, thảo nguyên mênh mông bát ngát.
Tôi rất thích bút danh "Hoàng Thị Cỏ May" mà chị Phi Loan dùng cho những bài thơ của chị, nhưng chưa có dịp hỏi chị tại sao chị lại chọn tên này. Hình ảnh "Cỏ May" gợi lên sự mộc mạc, bền bỉ, mang nét đẹp bình dị và phảng phất nỗi buồn quê hương và có lẽ đó là lý do chị thích cái tên này.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại. Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều.
Không có phương pháp tu hành nào giúp tìm ra câu trả lời, nỗi băn khoăn của thầy cứ kéo dài và tâm thầy hơi xao động. Không phải thầy nảy sinh ý nghĩ bất tịnh gì. Thầy chỉ tò mò thôi.
Chỉ có giữa nhà mình với nhà con hay mang thức ăn sang cho nhau mà tự dưng mất một cái nắp nồi. Tìm mãi cả hai bếp vẫn không ra. Chị của Nhàn bảo, cứ đo cái miệng nồi rồi ra tiệm Goodwill, cái gì cũng có hết. Nhàn nghe chị, đi Goodwill vào ngàyThứ Sáu, vì nghe nói Thứ Sáu lại được bớt 20% cho người trên 60 tuổi (Nhàn cười, nói khẽ một mình: 60 tuổi à? Dư sức qua cầu!)
Anh và tôi làm chung hãng với nhau khá lâu, rất thân, vừa là đồng nghiệp, vừa người Huế đồng hương. Một hôm anh mời đến nhà chơi. Nhân đang lúc rảnh rỗi bàn luận thế sự, tôi để ý trên bàn thờ nhà anh có treo bức tranh vẽ một ông quan đội mão rất uy nghi. Anh giới thiệu đó là ông Tổ nhà anh. Tôi tò mò hỏi cụ làm chức chi trong triều? Anh không trả lời, hỏi lại học sử có nhớ việc dưới triều nhà Nguyễn vua Thiệu Trị bỏ trưởng lập thứ là vua Tự Đức? Tôi nhớ có học điều đó, nhưng không biết gì thêm nữa. Anh trịnh trọng nói vị hoàng tử con trưởng vua Thiệu Trị đáng lẽ phải được chọn làm vua đó là: An Phong Công Nguyễn Phúc Hồng Bảo, là người trên bức chân dung đó. Và anh chính là hậu duệ của An Phong Công Hồng Bảo.
Chiến trận tuy ở xa nhưng đã như thật gần vì trong xóm có anh Đinh Văn Vũ mất xác trong một phi vụ tiếp vận miền Trung khi máy bay C-130 rớt xuống biển. Bạn thời tiểu học có Ngô Đắc Doanh tử trận, Nguyễn Văn Nam mất tích khi chưa tròn đôi mươi.
Sau một đêm lênh đênh trong vùng biển Aegean, thuộc lãnh hải của Athens, Greece, khi vầng đông vừa ló dạng, phía chân trời ửng một màu cam sáng rực rỡ, du thuyền MSC Lirica vừa cặp vào bến cảng Izmir, miền trung của Turkey. Trên tàu, hành khách ai nấy đều ăn sáng thật nhanh để chuẩn bị xuống tàu. Đây là điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến hải hành bảy ngày quanh vùng biển Aegean, Địa Trung Hải, bắt đầu bằng đất nước Hồi giáo từng một thời oanh liệt dưới bóng cờ Đế quốc Ottoman. Đúng 09 giờ sáng, cầu tàu được thả xuống, mọi người phấn chấn sau một đêm ngủ ngon, sẵn sàng đi bộ vào trung tâm thành phố cách đó khoảng 30 phút đi bộ. Thành phố này không có gì đặc biệt để tham quan, nên chúng tôi thả bộ men theo con đường lót đá dọc bờ biển, tha hồ hít thở khí trời trong lành sau 4 ngày ngột ngạt ở Athens đầy khói xe, khói thuốc lá.
Chúng tôi ngồi, không nói gì với nhau nữa, cả hai cùng đăm chiêu nhìn xuống dòng kênh Đôi chảy lờ lững với những đám bèo giạt bám vào bờ, vào chân cây cầu sơn màu đỏ phía xa xa. Nơi chúng tôi ngồi là một khu dân cư mới thành hình khoảng hai chục năm nay, một khu dân cư đẹp vì thiết kế mới, những con đường cắt nhau vuông vức, các mảng cây xanh bên cạnh những căn nhà cấu trúc mới và đẹp...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.