Hôm nay,  

Sầu Ly Hương Lẻ Bóng

08/11/202409:03:00(Xem: 16243)
blank 

SẦU LY HƯƠNG LẺ BÓNG
 
Phó Tế Nguyễn Mạnh San
 
Chúng tôi có một người bạn rất thân tuổi cao niên, góa vợ đã gần 3 năm nay rồi, sống một mình trong một căn nhà rất rộng lớn với đầy đủ tiện nghi vật chất sẵn có, do người vợ ông làm việc vất vả ngày đêm để tạo dưng ra căn nhà này đã qua đời để lại cho ông ở. Nay các con cái đã lập gia đình ở xa, lâu lâu mới có dịp về thăm Bố một lần và ông cho biết ông rất thông cảm tình trạng của các con ông vì chúng nó phải bận rộn công ăn việc mưu sinh hàng ngày, để mong có đủ khả năng tài chính chi phí nuôi dưỡng gia đình của chúng nó và để có nhiều thì giờ vào việc dạy dỗ, săn sóc các con còn nhỏ tuổi đi học, như ông đã phải từng trải qua nhiều năm trước đây cùng với bà xã khi vợ ông còn sống.

Mục đích duy nhất của chúng tôi muốn viết bài này, là chỉ để thuật lại và chia sẻ cho các độc giả đọc những lời tâm sự từ đáy lòng của ông bạn chí thân cao niên này của chúng tôi, về nỗi buồn đơn độc, đêm ngày ông ra vô căn nhà ở của ông, cũng chỉ thấy có một thân một mình ông thôi.

Ngoài ra nếu nói về công danh sự nghiệp trong xã hội, thì phải kể ông là một trong những người may mắn nhất thành công tại Hoa Kỳ do Thượng Đế (God) ban phước cho ông và cho các con cháu ông nữa. Vì như chúng ta biết ở đất nước tự do, dân chủ, bình đẳng, bình quyền trong xã hội Hoa Kỳ này, mà hàng năm biết bao nhiêu nhân tài tốt nghiệp tại các trường đại học nổi danh tại đây. Nhưng ông bạn chúng tôi đây vẫn được thượng cấp trong sở làm của chính phủ hay trong cơ quan tôn giáo đã ưu đãi và tín nhiệm, để giao phó cho ông những trách nhiệm nặng nề quan trọng hiếm quý trước khi ông được quyền hưu trí.

Thế rồi mọi cuộc vui chơi nào cũng tới lúc tàn và mọi thành công nào trên thế gian này của con người rồi trước hay sau gì cũng trở thành dĩ vãng thuộc bóng đêm. Tuy nhiên theo các bậc tiên nhân cho chúng ta biết sức khỏe và nhân cách con người là 2 điều vô giá và đáng quý nhất trên cõi đời này dù ở bất cứ tuổi nào. Vậy trong 2 điều này, điều thứ nhất ông đã được Thượng Đế đã ban ơn cho ông thân xác khỏe mạnh và lý trí minh mẫn.



Điều thứ nhì về nhân cách hay còn gọi là tư cách con người chúng ta mọi người đều hiểu rõ câu: Nhân vô thập toàn, không có một ai trên cõi đời này được coi là toàn thiện hết. Thế nhưng riêng ông vẫn được đa số người kính nể nhân cách của ông dù sau khi ông đã về hưu, không còn nắm tí quyền hành nào trong tay như trước kia nữa. Đấy là một điều rất đáng quý mà ít ai có được. Vì người ta có câu ví von rất ý nghĩa sâu sắc: Hết tiền là hết tình, hết quyền là hết đặc ân.

Tuy vậy, theo yếu tố tâm lý học, không ai có thể tránh khỏi được sự buồn rầu, cô đơn, thất vọng v.v... Nhưng hãy coi đó như là những cơn gió thoảng thổi tới thổi lui nếu chúng ta nhàn rỗi không có công việc gì để làm hoặc những đêm thanh vắng, ngồi lẻ loi một mình suy tư, thương nhớ những người mình yêu mến nhất mới qua đời, gây cho mình một nỗi buồn sâu thẳm trong tâm hồn trong những giây phút đó. Nhưng nên nhớ không phải nỗi buồn nào cũng giống như nỗi buồn nào; buồn vì mất người yêu, buồn vì bị lừa tiền lẫn tình v.v.

Nói tóm lại rất hiếm có nỗi buồn nào hay nỗi cô đơn nào kéo dài muôn thuở và hãy tin rằng thời gian là liều thuốc thần tiên sẽ chữa cho ta vượt khỏi được căn bệnh trầm luân này. Vậy để tạm kết thúc câu chuyện tình cảm cô đơn có tựa đề là "Sầu Ly Hương Lẻ Bóng" trên đây. Nội dung câu chuyện được miêu tả sự cô đơn thầm kín, thương nhớ người vợ chung thủy hết lòng trong suốt 54 năm liên tục sống với chồng, đã qua đời gần được 3 năm nay rồi, qua lời ca diễn tả của ca sĩ Ngọc Lan nói lên sự cô đơn thương nhớ vợ của người chồng tuổi cao niên trong câu chuyện này, do nhạc sĩ Phạm Đình Chương phổ nhạc..
 

Video: Nửa Hồn Thương Đau - Ngọc Lan


https://www.youtube.com/watch?v=coXsbKXfPAA 



Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.