Hôm nay,  

Bọ Ngựa

17/01/202500:00:00(Xem: 5374)

bo ngua

Bọ ngựa giơ càng ra oai.



Lóng rày tôi hay tẩn mẩn viết về những hồi tưởng tuổi thơ, nhất là những côn trùng ngày xa xưa đó như chuồn chuồn, bươm bướm, ve sầu, dế mèn…Nhiều lúc ngồi nghĩ lẩn thẩn: tại sao vậy? Chắc đó là tâm trạng của người tuổi sắp hết đếm số, tiếc nuối những khi còn cắp sách tới trường. Cắp sách tới trường không phải là chuyện vui nhưng tuổi học trò thì vui thật. Lúc nào, khi nào, chỗ nào cũng toàn thấy chuyện vui chơi. Bạn chơi là người nhưng nhiều lúc là những côn trùng quanh quẩn bên người. Một ông bạn mới gặp nhướng mắt hỏi tôi viết về những bạn chơi nhiều hơn hai chân nhưng chưa thấy nhắc tới bạn của ông ấy. Đó là bọ ngựa. Ông này thuộc loại rắn mắt. Tôi không chung tuổi  thơ với ông nhưng chắc ông cũng thuộc loại phá làng phá xóm. Ông kể chuyện ăn me chua trước mấy ông lính thổi kèn trong hàng ngũ khiến mấy ông thợ kèn này chảy nước miếng thổi không được. Tôi thuộc loại hiền nên không có bạn không hiền như bọ ngựa. Ông ta thì khoái bọ ngựa.

Bọ ngựa lúc nào cũng giơ hai cái càng nặng hơn thân mình, có hai hàng răng cưa như muốn cưa địch thủ. Hồi nhỏ nghe nói bọ ngựa cái xơi tái bọ ngựa đực khi giao phối, tôi đã bán tín bán nghi, chỉ mong được một lần trông thấy nhãn tiền nhưng chẳng bao giờ được mục kích hành động sát nhân tàn bạo đó. Khoa học gọi hành động bạc tình bạc nghĩa này là sexual cannibalism. Thực ra chỉ có 38 trong số 2.400 loài bọ ngựa được ghi nhận có hành vi này. Khi giao phối và thụ tinh, bọ ngựa cái xơi tái bọ ngựa đực là chuyện đã được tạo hóa sắp đặt. Thịt bọ ngựa đực giúp bọ ngựa cái có nhiều protein hơn. Lượng protein này con cái không dùng riêng cho mình mà chuyển sang trứng mà con đực vừa cho thụ tinh. Anh đực tạo nghiệp phải hy sinh thân mình để gánh vác chuyện nuôi con.

Giáo sư Nathan Burke của Đại học Auckland ở New Zealand đã bỏ công ra nghiên cứu chuyện sinh tử này. Theo một nghiên cứu của ông vào năm 1994 thì chỉ có khoảng từ 13% đến 28% bọ ngựa đực bị xực phàn trong khi giao phối. Nhưng tỷ lệ này lên tới 60% trong loài bọ ngựa đốm. Giáo sư Burke cho biết bọ ngựa đực thường xuất hiện trước khi giao phối. Điều này cho thấy bọ ngựa đốm cái hoàn toàn không quan tâm đến việc giao phối mà chỉ quan tâm đến việc săn mồi. Ngoài ra trứng của bọ ngựa đốm cái có thể sinh sản ra con cái mà không cần thụ tinh. Chúng có thể sinh sản dị tính nên dưới mắt của bọ ngựa cái, bọ ngựa đực chỉ đơn thuần là thực phẩm. Biết vậy, bọ ngựa đực hình thành các kỹ năng tránh bị ăn thịt mà vẫn giao phối thành công.  Chúng sẽ bò tới con cái từ phía sau và dùng hai càng để quặp chặt con cái. Đòn tấn công và phòng thủ này thường để lại một vết thương dưới bụng bọ ngựa cái. Vết thương này làm con cái yếu đi khiến con đực có thể dễ dàng bỏ chạy sau khi phóng tinh. Bọ ngựa đực bảo toàn được sinh mạng nhưng hành động khôn ngoan này lại di hại tới trứng. Khi con cái thiếu protein thì trứng có thể không nở. Chuyện truyền giống bị dang dở. Thực ra sự hy sinh của bọ ngựa đực cũng chỉ để cân bằng với quá trình duy trì nòi giống của cả bọ ngựa đực với bọ ngựa cái. Bởi vì bọ ngựa cái cũng sẽ chết ngay sau khi sanh ra bọc trứng.

bo ngua 2

Bọ ngựa cái ăn đầu bọ ngựa đực khi giao phối.

Bọ ngựa thường chỉ sống được một năm. Cũng như các loại côn trùng khác, vòng đời của bọ ngựa cũng qua ba giai đoạn: trứng, ấu trùng và trưởng thành. Bọ ngựa cái thường sanh một bọc trứng có khoảng từ 100 đến 400 trứng. Bọc trứng khá cứng để bảo vệ trứng khỏi những biến đổi thời tiết có tên là ootheca. Trứng được đặt tại nơi an toàn, thường là trên lá cây hoặc gốc cây. Trứng nở vào mùa xuân tạo ra những ấu trùng. Tác giả Vũ Tú Nam đã may mắn mục kích cảnh trứng nở. “Cành chanh bên cửa sổ đung đưa, xanh mát sau cơn mưa. Mấy quả chanh non mới đậu nom đáng yêu lạ. Bỗng một sự việc xảy ra khiến tôi phải đặc biệt chú ý: trứng bọ ngựa nở. Tôi đến tận gốc chanh chăm chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, bảy tám con một lúc, những chú bọ ngựa bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lỗ lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình, rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng, treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ một lát, rồi ngọ ngoạy. Các chú càng cựa quậy thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng một quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đàn em mình đang “đổ bộ” xuống hết sức chính xác và mau lẹ. Đàn bọ ngựa mới nở chạy nhanh, mỗi con mỗi ngả bắt đầu một mình lắc lư theo kiểu tíu tít, lập tức dàn quân ra khắp cây chanh mỗi con mỗi ngả bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập”.

Cuộc sống này không phải không gian truân. Khi mới nở ra từ trứng, các ấu trùng chỉ dài khoảng 4 ly. Chúng ăn thịt lẫn nhau để sinh tồn. Sau đó chúng săn những con mồi nhỏ như ruồi giấm. Trong vòng đời ấu trùng, chúng phải lột xác khoảng 6 lần để phát triển. Thời gian này, chúng là mồi ngon cho các loại côn trùng khác. Một số không nhỏ ấu trùng đã không qua khỏi giai đoạn bị ăn hiếp này.

Những ấu trùng sống sót bước qua giai đoạn trưởng thành. Chúng lột da và trốn tránh vào những nơi an toàn cho tới khi kết thúc thời kỳ phát triển. Bọ ngựa trưởng thành có kích thước từ 2,5 tới 15 phân. Chúng săn mồi, giao phối và đẻ trứng. Ngay sau khi đẻ trứng, bọ ngựa cái giã từ cõi thế. Tổng cộng vòng đời chỉ được một năm.

Bọ ngựa ăn thịt các loại côn trùng nhỏ khác như  ruồi, bướm, ấu trùng, bọ cánh cứng, ong, gián. Thậm chí chúng còn chơi lớn bằng cách ăn cả những chú chim nhỏ, thằn lằn, rắn, chuột. Chúng săn mồi bằng cách treo mình lơ lửng trên thân cây hay cành lá, chờ con mồi đi ngang qua. Bọ ngựa có khấc cổ rất linh hoạt, có thể quay ngoắt 180 độ để quan sát con mồi. Với đôi mắt luôn rộng mở có thể nhìn xa tới khoảng một thước rưỡi để nhận diện con mồi. Một khi đã nhắm được mồi, chúng  dùng hai chân trước có gai nhọn, gập lại như một con dao gấp, bắt và nhanh như chớp kẹp con mồi lại. Con mồi sẽ không chết ngay nhưng bọ ngựa đã bắt đầu xực con mồi khi chúng vẫn còn sống. Bọ ngựa không bao giờ ăn những con mồi đã chết. Nhưng vào mùa hè và mùa đông, các loại côn trùng khan hiếm, bọ ngựa ăn lá cây non.

bo ngua 3
Ngoại hình bọ ngựa nhìn không cân đối. Cái đầu to nối với thân hình bằng cái cổ nhỏ. Mọc ngay giữa cổ là đôi càng bự so với thân hình, giống như hai thanh kiếm, có những răng cưa để bắt mồi và tấn công địch thủ. Hai cánh trước và sau phát triển rộng. Hai cánh sau trông như hai tấm kính chỉ có viền trên đầu mút. Cánh có màu xanh lá cây nhạt hoặc nâu nhạt. Màu sắc có thể thay đổi theo màu của nơi tá túc, lúc thì xanh lá cây, lúc thì màu cỏ úa, lúc thì vàng hoặc nâu. Việc có thể thay đổi màu giúp cho bọ ngựa ngụy trang, tránh bị các đối thủ phát hiện. Nếu chẳng may chuyện ngụy trang không mà mắt được đối thủ, bọ ngựa sẽ dùng chước thứ ba mươi sáu: bỏ chạy. Không chạy được thì giả vờ chết. Toàn những thứ phòng thủ thụ động.

Nhưng một khi phải chiến đấu, chúng cũng ngang tàng chiến tới cùng. Tôi mới đọc được một bài viết không đề tên tác giả nói về một lần mục kích giờ phút chiến đấu kiên cường của bọ ngựa. “Năm tôi học lớp hai hay ba gì đó, ngày ấy cuộc sống chẳng thể gọi là khá giả. Tuy nhiên, trẻ con lại có nhiều trò chơi hơn bây giờ, niềm vui của chúng tôi hồi ấy là đi bắt những con kim kim, châu chấu, cánh cam, giun… về nghịch.  Một lần, tôi cùng bọn trẻ trong xóm bắt được một con bọ ngựa rất to màu xanh lá cây tuyệt đẹp, trông nó mạnh mẽ với đôi càng to và vẻ mặt lạnh lùng giống như một kiếm sĩ. Nhìn con bọ ngựa, cả bọn thống nhất sẽ không tra tấn và buộc nó lên như các con bọ khác mà chúng tôi hay bắt được. Tôi thả nó lên nóc bếp nhà tôi, nóc bếp được lợp bằng những chiếc lá cọ to, là nơi trú ẩn của rất nhiều côn trùng khác nhau. Chúng tôi đứng nhìn theo để xem nó sẽ đi đâu. Bất chợt xuất hiện một con thằn lằn rất to bò tới, nó đứng đối diện con bọ ngựa. Chúng tôi không ai bảo ai, nín thở theo dõi, trong thâm tâm biết chắc về một kết cục thảm thương cho bọ ngựa. Nhưng một hình ảnh mà mãi mãi không bao giờ tôi quên, nó tác động rất mạnh vào tâm trí tôi, nó là tất cả những gì bi hùng nhất đánh mạnh vào trái tim của một đứa trẻ tám tuổi. Trước vẻ lạnh lẽo nhưng tàn bạo của thằn lằn, bọ ngựa bình tĩnh giương cao đôi càng, nó sẵn sàng chiến đấu trước đối thủ mà có lẽ nó biết không thể chiến thắng. Thằn lằn lao đến thật nhanh, chỉ trong tích tắc bọ ngựa bị ngoặm chặt và bị nuốt dần vào bụng nó. Nghe bọn trẻ thở than vì đi thả con bọ ngựa để rồi làm hại nó, tôi không có cảm giác buồn hay ân hận. Tôi chỉ thấy một sự bất lực mơ hồ nào đó, sự bất lực mà đến tận bây giờ tôi vẫn hay cảm thấy. Tôi thường tưởng tượng những viễn cảnh của sự bất lực trước một kẻ mạnh đàn áp một kẻ yếu, trong mọi tình huống. Câu chuyện nhỏ ấu thơ ấy đã đi theo tôi suốt những năm tháng cuộc đời, có lẽ vì những tác động ấy mà tôi yêu văn học của Jack London. Yêu những nhân vật của ông, luôn chiến đấu trong sự tuyệt vọng trước những đối thủ không thể đánh bại mà vẫn đầy kiêu hãnh. Nghĩ về những kỷ niệm thời ấu thơ, thường hiện lên trong tôi là hình ảnh con bọ ngựa kiêu dũng. Trong ánh nắng của buổi trưa hè năm nào, trên nóc căn bếp cũ lợp đầy lá cọ, nó không chỉ còn là con bọ ngựa màu xanh mỏng manh nữa. Nó hoà lẫn vào màu nắng chói chang của buổi trưa hè tháng sáu, nó giương đôi càng với niềm kiêu hãnh trong khoảnh khắc cuối cùng của cuộc đời. Con bọ ngựa sinh ra để trở thành một dũng sĩ và nó đã chết theo cái cách ấy. Nó đã dạy cho tôi một bài học giản dị nhất về tình yêu cuộc sống, một bài học từ một cuộc chiến đấu nhỏ nhưng thật dữ dội và đầy đam mê trong khoảnh khắc cuối cùng”.

Nói tới bọ ngựa, không thể không nhắc tới “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” và “Võ Sĩ Bọ Ngựa” của nhà văn Tô Hoài.  Tô Hoài đã kết truyện Võ Sĩ Bọ Ngựa bằng cuộc hàn huyên giữa hai mẹ con bọ ngựa.  Như đã viết ở trên, bọ ngựa cái chết ngay sau khi đẻ ra bọc trứng nhưng nhà văn đã nhân cách hóa bọ ngựa nên mới có chuyện mẹ con bọ ngựa sống với nhau. Chàng dũng sĩ đã tự hào khoe thành tích chiến đấu trong khi bọ ngựa mẹ vắng nhà. Nào là đánh châu chấu ma khiến nó phải nhận là thầy, nào là cho gián ông một trận. Bà mẹ ôn tồn nói với con là châu chấu ma vốn sợ mọi địch thủ, ông gián già yếu xìu đánh đấm chi. Bà nói với chàng võ sĩ: “Con đã làm một việc thừa và ác!”. Tác giả kết câu chuyện giữa hai mẹ con: “Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu hơn, và chú không khoe thêm gì nữa. Chú im lặng, nhìn ánh nắng rung rinh trong lá cây. Nhưng bà lão Bọ Ngựa đã nói tiếp:“Và con sang đánh nhau cả với Bọ Muỗm, con bắt mụ ấy gọi con là võ sĩ Đại Mã. Mụ ấy nện cho con một trận mê tơi. Con phải bỏ chạy về. Nhưng con cũng không chừa được cái thói khoác lác. Cho nên, khi con nghe tiếng đồn có ông Dế Mèn đi phiêu lưu thì con cũng tập tọng đi. Con đã quên cả lời mẹ dặn. Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một khó. Con chạy trở về. Phải kể đến đây mới là hết những chuyện mà con đã làm trong khi vắng mẹ. Có phải thế chăng? Con ơi! Bác Bọ Muỗm chỉ cho con một cái đá hậu, là con thủng bụng. Bác Cồ Cộ chỉ buông con từ ngọn cây cho rơi xuống, là con đủ tan xương. Các bác ấy đã thương con đấy. Trong khi bà lão Bọ Ngựa nói, chú Bọ Ngựa cứ ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. À, chú Bọ Ngựa  hợm mình đã biết hối rồi”.

Tôi không đọc truyện của Tô Hoài ngày còn nhỏ nên không biết tới những giọt nước mắt của chú Bọ Ngựa trong truyện có tính cách giáo dục này. Nếu được đọc truyện từ ngày đó không biết tôi có coi bọ ngựa là bạn không. Tôi chẳng có thể quay ngược về những ngày tháng non nớt đó để đo lòng mình. Ngày đó tôi vốn là một thằng bé nhiều tình cảm nên dễ mủi lòng, có thể cảm theo nhà văn Tô Hoài, không coi bọ ngựa như một loài hung hãn đáng xa lánh tới nỗi bây giờ tôi đã quên khuấy tới bọ ngựa mà tôi đã có lần bẻ đôi càng lúc nào cũng giơ lên đe dọa. Tôi đã quên hẳn thứ côn trùng võ sĩ khó ưa đó để tới nay anh bạn tôi phải nhắc nhở. Và bài bọ ngựa này đáng lẽ đã được viết từ trước, đồng thời với những châu chấu, bươm bướm, dế mèn, ve sầu. Những bạn côn trùng thời thơ ấu của tôi.
 
                                                                                                    12/2024
                                                                                 Website: www.songthao.com
 
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.