Hôm nay,  

Viết Báo

18/07/202500:00:00(Xem: 3187)
Tôi là người viết báo nghiệp dư. Từ khi khởi viết vào năm 1959, tay cầm viết luôn là nghề tay trái. Tôi sống bằng nghề tay phải khác. Cho tới nay, nghề chính của tôi là…hưu trí, viết vẫn là nghề tay trái. Tôi phân biệt viết báo và làm báo. Làm báo là lăn lộn nơi tòa soạn toàn thời gian hoặc bán thời gian để góp công góp sức hoàn thành một tờ báo. Họ có thể là chủ nhiệm, chủ bút, tổng thư ký, thư ký tòa soạn hay chỉ là ký giả, phóng viên. Nhưng tôi nghĩ người quan trọng nhất trong tòa soạn một tờ báo là ông “thầy cò”. Thầy cò ở đây không có súng ống hay cò bóp chi mà là biến thể của danh từ tiếng Pháp corrector, người sửa morasse. Morasse là bản vỗ một bài báo cần sửa trước khi in.

in typo
Máy in typo

Đầu tiên bài báo được thảy cho thợ xếp chữ. Ngày tôi bắt đầu viết báo ở Sài Gòn tất cả các báo vẫn còn in theo  lối typo. Thợ sắp chữ lựa từng con chữ bằng hợp kim, dùng một chiếc kẹp xếp vào một cái khuôn đúng kích thước một cột báo. Cái khó là họ phải sắp ngược chữ. Muốn biết ngược ra sao, chúng ta có thể để một trang báo trước gương rồi nhìn vào gương. Không quen không đọc được. Có đọc được thì cái đầu sẽ nhức như búa bổ. Thợ sắp chữ phải học để có thể đọc ngược một cách thành thạo. Xếp xong phần bài báo được giao phó, giao cho ông sếp thợ chữ, gọi là sếp typo. Ông này dùng mực quét lên bề mặt và ịn vào một tờ giấy thấm mực. Bài báo trở lại chữ xuôi như thường. Bản in này được đưa lên ông thầy cò để sửa. Ông thầy cò nhìn vào bản viết tay của bài báo so với bản vỗ để sửa từng chữ từng câu, từng cái dấu chấm dấu phẩy. Cái khó của ông thầy cò là đọc cho ra bản viết của tác giả. Ngày đó người viết đa số viết bằng tay. Mỗi người một kiểu chữ, rồng bay phượng múa hay chân chỉ hạt bột, mỗi ông một trường phái, điểm chung là chữ viết thường rất khó đọc. Gặp bài của mấy ông bác sĩ chỉ có nước khóc ròng. Chẳng lẽ mang ra tiệm thuốc tây nhờ các ông dược sĩ đọc giùm! Đọc không thông thì đoán, may ra thì trúng, không may thì trật, trúng là hồng phúc, trật thì bị nghe cằn nhằn khi báo phát hành. Tôi khởi viết trên bán nguyệt san Thời Nay từ thời còn là sinh viên. Cuối tuần tôi hay la cà tới tòa báo để nhậu nhẹt. Chẳng có chầu nhậu nào mà không bị ông Hoài Thương, thầy cò ngày đó, nắm áo hỏi chữ này chữ kia. Lúc đó tôi cun cút đọc lại bản thảo của mình, chỉ chữ sửa đúng mà không dám cằn nhằn vì bị phá quấy trong lúc nhậu. Bởi vì ông Hoài Thương còn ấm ức hơn, chưa rảnh để cụng ly với anh em. Đụng vào ông ấy không đúng thời điểm dễ bị xỉ vả lắm.

bang chu cai

Bảng sắp chữ ngược.


Bản sửa của ông thầy cò được ông sếp typo mang xuống nhà chữ, giao cho thợ sửa lại. Xong ông sếp typo dùng máy ép, ép bát chữ vào một khuôn bằng giấy bồi, nổi lửa nấu chì thành chất lỏng, đổ vào khuôn để tạo ra một khuôn in bằng chì. Thợ in sẽ dùng đinh đóng bản chì này vào tấm gỗ của máy in. Thường thì tại bốn góc bản chì có bốn cái lỗ để khi đóng đinh, đầu đinh không bị lồi lên. Nhưng có nhiều ông thợ in làm ẩu, để đầu đinh thòi lên, khi báo in ra có bonus hình mấy cái đầu đinh lạc lõng này. Tùy theo loại máy lớn nhỏ, mỗi bản in sẽ có kích thước khác nhau. Máy in báo Thời Nay ngày đó thuộc loại in ra được 16 trang báo khổ Thời Nay. In một mặt, lật lại in mặt thứ hai. In xong, thợ gấp báo sẽ ngồi gấp lại theo thứ tự nhất định để khi in ra trang trước tiếp nối trang sau đúng số trang. Bản gấp sẽ được đưa vào máy đóng và cắt báo, vô bìa thành tờ báo tới tay độc giả. Sau này báo chí Sài Gòn có cải tiến bằng lối in offset.

in offset

Máy in offset.


Báo Thời Nay hồi đó không có máy in offset nên tôi không rành lối in này. Đại khái đây là một kỹ thuật in trong đó hình ảnh dính mực in được ép lên các tấm cao su (còn gọi là các tấm offset) trước đó rồi mới ép từ miếng cao su này  lên giấy. Lối in này cho ra chất lượng hình ảnh rõ ràng hơn lối in typo. Mực in không dính đen tay khi đọc báo. Cách in offset không mới mẻ chi. Từ năm 1875 lối in này đã ra đời tại Anh nhưng kỹ thuật còn thô sơ nên không thực tế. Sau nhiều cải tiến, tới thập niên 1950, kỹ thuật in offset mới thông dụng. Ký giả Nguyễn Việt trong bài hồi ký “Nghề Làm Báo Trước Năm 1975”, cho biết chi tiết về việc báo chí Sài Gòn in offset: “Phải nói tờ Trắng Đen  trước 1975, là tờ báo được in offset đầu tiên tại miền Nam bấy giờ, vào năm 1971 (kể cả tuần báo, tuần san và tạp chí đang phải in typo với bản chì – mỗi bản chì nếu có nhiều antimoine cũng chỉ in khoảng 5.000 bản, là chữ đã mòn nhoè không đọc được nữa, còn mỗi bản kẽm in trên máy offset có số lượng không dưới 20.000 bản, hình ảnh chữ nghĩa rất rõ ràng dễ đọc…Thời gian này chưa ai nhập máy in offset rotative (máy in offset tự động), nên in một tờ báo có số lượng ấn hành hàng ngày trên 100.000 bản, phải sử dụng ít nhất là 10 máy in Offset bán tự động (bình quân mỗi giờ chỉ in được từ 4.000 đến 6.000 bản/mặt)…Khu nhà in ngày trước thường tập trung tại đường Phạm Ngũ Lão, Lê Lai và Võ Tánh, đa số là máy in typo hoặc được trang bị thêm máy offset đặt tay in bìa tập san, tuần san, (sau này ngành in offset chiếm hẳn thị phần, nên các khu vực trên chỉ cho thuê làm tòa soạn báo). Nhà in lớn và hiện đại lúc đó chỉ có Indeo và Nguyễn Bá Tòng còn lại chỉ thuộc loại vừa và nhỏ đều do tư nhân kinh doanh, còn khu vực in nhà nước không nhận in gia công cho tư nhân. Khi ngành in offset được tuyệt đại đa số báo chí ra ngày, tuần hay tháng đặt in, bấy giờ các chủ nhà in lại thi nhau nhập máy, như nhà in Nguyễn Tấn Đời (một nghiệp chủ ngân hàng trước khi ngồi tù vì vỡ nợ, cũng ra làm báo – tờ Việt Nam – và lập nhà in), mua về máy in offset rotative in 4 màu 8 trang đặt tại cao ốc Trần Hưng Đạo (gần khu Chợ Quán, Trần Bình Trọng), nhưng máy khai thác không hết công suất, vì tờ Việt Nam in ra không bán được. Đến một nghiệp chủ ngân hàng khác – ông Phạm Sanh – mua máy rotative về in báo mướn, đặt tại đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, sau này Phạm Sanh cũng đỗ nợ, vì buôn gạo cho Tổng Cục Tiếp Tế, nhà in bị trưng thu), nên khi nói về ngành in, thì từ năm 1972 trở đi miền Nam mới có những thiết bị tiên tiến hiện đại”.

Ngày đó tôi dùng bút bi viết trên giấy in báo. Mỗi khi tới tòa soạn, tôi thường lượm những giấy in lỗi, một mặt còn trắng, để viết. Không phải vì tiện tặn nhưng viết bằng bút “nguyên tử” trên giấy báo rất ăn mực. Ông Khánh Giang khi đó là Thư Ký Tòa Soạn, ngồi làm việc tại tòa báo, có sẵn chiếc máy chữ loại xách tay Olympia nên viết bằng máy chữ oai hơn. Chữ đánh máy rõ ràng hơn, rất vừa ý ông Hoài Thương, miễn là ông Khánh Giang không lười biếng thay băng mực. Có những khi băng mực gần cạn, chữ hiện lên khi trồi khi sụt, hai ông lại có dịp vặc nhau cho vui cửa vui nhà. Máy chữ hồi đó là máy chữ tây nên không thèm có dấu chữ Việt. Đánh máy xong phải ngồi dùng bút vẽ thêm dấu vào rất mất thời giờ. Thời giờ của ông Khánh Giang là…rượu nên nhiều khi, sẵn có tôi ngồi chờ nhậu, ông thảy cho tôi bỏ dấu. Một thằng viết, một thằng bỏ dấu, có khi bỏ dấu sai. Báo in ra hai ông cãi cọ, khi đó tôi không có mặt tại tòa soạn nên vô tội vì thủ phạm đang tại đào. Sau này tôi nghe nói có loại máy chữ có thể đánh dấu tiếng Việt được nhưng tôi chưa bao giờ có dịp sử dụng.

Ba thập niên sau, khi tôi viết trên đất người, có computer nên máy đánh chữ dù có thể đánh dấu hay không đều đi vào dĩ vãng. Tôi lên đời từ viết bằng bút “nguyên tử” (nghe hiện đại phát ớn!) qua thẳng computer, không thèm biết tới máy đánh chữ. Chuyện này khiến tôi loạng quạng. Năm 1990, sau thời gian 5 năm ổn định cuộc sống nơi đất mới, tôi cầm bút trở lại. Thoạt đầu, tôi viết truyện ngắn cho các báo Văn Học, Văn, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21 ở Califronia và tờ Làng Văn ở Toronto, Canada. Có computer nhưng sau bao nhiêu năm cầm bút đúng nghĩa, chỉ viết bằng bút, tôi không quen viết trên máy. Tôi gọi cái màn hình computer là “anh mặt vuông”. Nhìn cái mặt không giống ai này không ra chữ. Đành lại viết tay rồi đánh computer lại. Nhờ thế mà tới giờ tôi vẫn còn thủ bút các truyện ngắn của tôi. Nhưng từ năm 2004, khi bắt đầu viết phiếm, tôi viết thẳng vào cái anh mặt vuông. Chữ vẫn ra ào ào. Hóa ra chỉ là thói quen. Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi. Cứ bén hơi là mọi chuyện suông sẻ.

computer có nhiều cái tiện lợi so với máy đánh chữ. Thứ nhất là gõ thiếu, gõ sai, có thể xóa đi gõ lại một cách dễ dàng. Dùng máy đánh chữ, khi sai phải dùng dung dịch xóa đi vừa mất mỹ thuật vừa lích kích. Sai nhiều hoặc muốn bỏ một đoạn dài phải bỏ đi đánh lại vào một tờ giấy khác. Máy đánh chữ chỉ đánh được một bản, muốn có nhiều bản phải dùng giấy carbon và đánh mạnh tay. Cũng chỉ thêm được tối đa 5 hoặc 6 bản. Những bản sau mờ tịt không thấy rõ. Bản đánh bằng computer muốn in ra bao nhiêu bản cũng đặng. Tôi ở Montreal viết cho nhiều báo ở bên Cali. Đánh bài bằng computer, lưu lại, gửi e-mail bài đi. Báo bên Mỹ chỉ việc dàn trang in, không phải đánh máy lại lôi thôi chi.

Dùng computer có bộ gõ đánh tiếng Việt rất tiện lợi, dấu chi cũng đánh được. Các kỹ sư điện toán Việt Nam đã bỏ nhiều công sức sáng chế ra nhiều bộ gõ tiếng Việt. Bộ gõ WinVNKey, OpenKey, TocKyVNKey, GoTiengViet, VietKey, EVKey. Tôi chỉ dùng VNI trước đây và Unikey bây giờ nên chỉ biết hai bộ gõ này.

ho thanh viet
Ông Hồ Thanh Việt - cha đẻ của font chữ VNI

Kiểu gõ và bộ chữ VNI do kỹ sư Hồ Thành Việt sáng tạo vào năm 1987. Ông là người đầu tiên sáng tạo ra các font chữ quốc ngữ có dấu để dùng trên computer. Khi tôi bắt đầu đánh chữ Việt trên computer, giá của bộ VNI khá đắt. Tôi không nhớ rõ bao nhiêu nhưng tôi phải xin một anh bạn bên Mỹ về download xuống. Mỗi bộ VNI bán trên thị trường có thể download xuống dược một số lần nhất định. Anh bạn mới download một lần để dùng nên bằng lòng cho tôi download tiếp không tốn xu nào. Ngặt cái anh ở bên Mỹ, tôi ở Canada, anh phải gửi qua bưu điện cho tôi download xong phải gửi bưu diện trả lại anh. Lích kích nhưng không có cách nào khác. Có một chuyện vui vui khi gửi qua gửi lại như vậy. Gói hộp VNI anh bạn gửi qua phải khai nội dung có gì, giá bao nhiêu. Anh bạn tôi khai “VNI font”, ông quan thuế Canada không biết bữa đó có bị vợ la rầy hay không mà chữ tác nhìn ra chữ tộ, đọc ra là “vitamine”, thuốc bổ. Ông nã thuế mấy chục đồng tôi không nhớ rõ. Tôi phải nộp tiền khi nhận. Nhưng tôi khiếu nại đòi lại. Thư đi thư lại không biết bao nhiêu lần, quan thuế Canada đành trả lại tiền cho tôi.

Ông Hồ Thành Việt, một cựu sĩ quan của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã mất sớm. Ông qua đời vào năm 2003 vì ung thư phổi khi chỉ mới 49 tuổi.
Tới chừ tôi không dùng VNI nữa. Chắc nhiều người khác cũng vậy. Bởi vì Unikey ra đời, tiện lợi hơn, dễ dùng hơn. Hầu như bây giờ Unikey ăn trùm. Tác giả bộ gõ này là Phạm Kim Long, theo học trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội niên khóa 1991-1996, tốt nghiệp loại giỏi. Từ năm 1997 làm nghiên cứu sinh tại  Đại học Kỹ Thuật Praha, Cộng hòa Séc. Bộ gõ tiếng Việt Unikey được anh Long bắt đầu thực hiện từ khi còn ngồi ở ghế nhà trường vào năm 1994 dành cho hệ điều hành MS-DOS. Chuyện thực hiện Unikey có một chút vui vui. Khi đó đang học năm cuối trường Bách Khoa, anh Long cùng ba người bạn cùng lớp thách dố nhau xem ai tạo ra bộ gõ tiếng Việt nhỏ gọn nhất dành cho hệ điều hành DOS. Kết quả anh Long dành chiến thắng với bộ gõ chỉ 2Kb siêu nhỏ gọn, một sản phẩm có thể coi là phiên bản đầu tiên của Unikey sau này. Tới năm 1988, anh mới thực hiện phiên bản dành cho Windows với tên gọi LittleVnKey để dùng và tặng cho bạn bè. Mãi tới năm 2000, anh đang bí đề tài làm luận án tốt nghiệp, anh lân la trên một diễn đàn tin học nổi tiếng thì thấy nhiều người bàn luận chuyện gõ tiếng Việt trên máy tính Windows với tiêu chuẩn Unicode, anh mới hoàn thiện Unikey.

pham kim long

Cha đẻ bộ gõ Unikey Phạm Kim Long.


Máu sáng tạo nổi lên, anh quyết định tạo một bộ gõ miễn phí để giúp mọi người dùng computer đánh tiếng Việt. Anh bỏ ra một đêm để thiết kế, hai đêm mã hóa mới cho ra phiên bản hoàn chỉnh mang tên Unikey. Năm 2001, anh quyết định công bố mã nguồn mở Unikey để mọi người download thoải mái không mất xu teng nào. Hành động đáng quý của anh bị các người làm thương mại với các bộ gõ họ đang bán chỉ trích. Họ tung tin đồn Unikey của anh có virus kèm bên trong. Dân dùng computer để viết tiếng Việt không care. Sự đơn giản, tính tiện lợi và nhất là chuyện không phải móc tiền ra để có được Unikey khiến cho bộ gõ của anh Long phổ biến nhanh chóng. Năm 2006, Apple đã liên lạc với anh Phạm Kim Long để dùng Unikey trên các phôn, máy tính bảng hệ điều hành macOS và iOS của họ. Nếu muốn thu lợi, đây là cơ hội bằng vàng cho anh bỏ túi một núi tiền nhưng anh đã bất ngờ tặng luôn Unikey cho Apple hoàn toàn miễn phí. Anh giải tích hành động…quân tử Tầu của anh : "Việc Unikey trở thành phần mềm miễn phí là rất tự nhiên, vì nó ra đời từ chính nhu cầu của người dùng cần một chương trình bàn phím miễn phí. Hơn nữa, khi làm được gì hay thì lẽ rất tự nhiên là muốn chia sẻ với người khác. Mình không có ý đối lập với những người viết chương trình thương mại, họ làm ra chương trình để kiếm sống bằng lao động của họ là điều hoàn toàn chính đáng. Mình cũng sống bằng viết phần mềm nhưng Unikey thì không phải phần mềm kiếm sống. Unikey là một thú giải trí của mình, như vậy viết Unikey cũng chính là phục vụ cho mình vậy. Mình sẽ luôn duy trì Unikey là phần mềm miễn phí. Mà hơn nữa Unikey là open source (mã nguồn mở), ai cũng có thể lấy nó về phát triển thêm".

Năm 2025 này, Unikey tròn 31 tuổi, tuy già nhưng vẫn ăn trùm, được mọi người đánh tiếng Việt trên computer ưa dùng. Họ không trực tiếp được gặp con người có lòng này nhưng trong thâm tâm, mỗi khi ngồi vào bàn làm việc, họ vẫn thầm cám ơn người đã sáng tạo ra Unikey. Trong số đó, có tôi!
 
                                                                                            05/2025
                                                                          Website : www.songthao.com
 

Từ những ngày đầu tiên khi bắt đầu có bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ, đầu tháng 3, Nic Brown, 38 tuổi, một chuyên viên IT ở vùng ngoại ô Tuscarawas County, tiểu bang Ohio, đang khỏe mạnh, bỗng dưng thấy khó thở, và sốt cao. Anh tự lái xe đến một urgent care clinic ở gần nhà. Tại đây, Nic được điều trị với phương pháp dành cho một bệnh nhân có tiền sử bệnh suyễn, và thỉnh thoảng tim "đập lỗi nhịp" không bình thường. Chỉ trong vài phút, tình trạng xấu đi, Nic bất tỉnh. Anh được xe cấp cứu đưa đến Cleveland Clinic Union Hospital ở Dover, Ohio. Ở bệnh viện, anh được xác định là đã bị nhiễm Coronavirus.
Sáng nay như những buổi sáng khác, cô gái theo thói quen đi dạo dọc bờ biển, vừa để hít thở không khí trong lành của buổi sớm mai, vừa để tập thể dục. Trên bãi biển lác đác vài người chạy bộ, hoặc đi xe đạp. Quang cảnh bình yên, gió thổi nhè nhẹ, từng con sóng bạc đầu xô vào bờ êm đềm như hát rồi nhẹ nhàng xoá đi những vết chân in hằn trên cát trả về cho cát sự phẳng lì và mịn màng vốn có. Nơi xa xa mặt trời đỏ rực đang nhô lên từ dưới biển, mặt biển và bầu trời được nhuộm một màu đỏ cam đẹp đẽ xen kẽ những đám mây và sắc xanh của nền trời buổi sớm mai tạo thành một bức tranh vô cùng hoàn mỹ. Cô gái bỗng dừng chân, tầm mắt nhìn về hướng cách cô không xa, một người đàn ông cao lớn đang nắm tay một bé gái nhỏ xinh đi ngược về phía cô, bé gái kéo cha đuổi theo con sóng rồi vội vã chạy lên bờ như sợ sóng đuổi kịp, cả hai đều cười đùa vui vẻ. Nhìn cảnh thân thương ấy tự nhiên con bất chợt muốn khóc, có thứ gì dâng nghẹn trong cổ. Có một nỗi nhớ như máu thịt trong con,
Hồi tôi đi lính, sau 9 tuần làm tân binh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển lên Đà Lạt. Đà Lạt với tôi chỉ là trong mơ, trong mộng, trong trí tưởng. Tôi không nhớ những năm tháng ấy (1968), tân nhạc Việt Nam đã có những bản nhạc ca tụng Đà Lạt chưa? Như "Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đà Lạt Hoàng Hôn, Thương Về Miền Đất Lạnh?"
Chiến tranh qua rồi, nạn phá rừng vẫn tồn tại. Một người bạn tôi được giao một đại đội đào binh làm nhiệm vụ vỡ hoang hai cánh rừng gỗ tếch để trồng sắn. Thu hoạch xong vụ đầu tiên, anh toát mồ hôi: công lao của bấy nhiêu con người cả năm trời chỉ đủ mua ba cây tếch, nhiều nhất là ba cây rưỡi. Tôi hỏi anh đã báo cáo lên cấp trên cách anh tính toán chưa, anh nói anh không dám. Người ta đã báo cáo thành tích khai hoang rồi, nói thế có mà chết. Những cái đầu đất phá rừng để lấy thành tích khai hoang chưa kịp chết thì lũ con buôn đã thế chỗ. Chúng nhân danh phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, đốn bất cứ cây nào bán được.
Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ. Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản. Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.
Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.