Hôm nay,  

Đại Bàng Gãy Cánh

31/08/202510:51:00(Xem: 4402)
blank 

ĐẠI BÀNG GÃY CÁNH
 
Truyện của Kim Vũ
 

Lộc đã chết!
  

Tích ngỡ ngàng khi nghe tin đó. Chàng không tin vào tai mình. Làm sao Lộc có thể chết được? Mình mới gặp anh ấy có tuần trước thôi mà! Trông anh còn khỏe mạnh, tự tin, tràn đầy sức sống. Vậy mà bây giờ anh đã không còn nữa. Cái chết của anh có cái gì đó không thật. Và có lẽ đó là lần đầu tiên Tích đứng trước nhận thức trực tiếp và thâm sâu về tính chất phi lý của một sự kiện quá bình thường trên đất nước chiến tranh này.
 

Lộc là thiếu tá phi công trực thăng. Tích đã quen anh rất tình cờ, qua một người bạn, và cũng chưa biết gì nhiều về anh. Chỉ biết rằng ngay từ lần đầu tiên, chàng đã có thiện cảm đặc biệt đối với anh. Lộc cùng tuổi với Tích, cao lớn, đẹp trai, đúng là một mẫu sĩ quan không quân lý tưởng. Và anh cũng rất hiền, sống một cuộc đời rất nguyên tắc. Anh lập gia đình mới khoảng ba năm nay, mới có đứa con trai đầu lòng chưa đầy một tuổi, và đang chờ đứa thứ hai. Anh không ham vui như những sĩ quan khác trong cái binh chủng nổi tiếng là hào hoa này. Anh rất biết lo cho gia đình, không nhảy đầm, không rượu chè cờ bạc. Không ai có thể nghĩ một con người có cái bề ngoài rất bảnh bao, bay bướm đó lại hiền hòa như vậy. Khi Tích gặp anh tại nhà người bạn, anh vừa thoát khỏi cái chết trong đường tơ kẽ tóc. Trong một phi vụ, kính trực thăng trước mặt anh đã trúng đạn vỡ toang, mảnh vỡ bắn vào mặt anh, gây ra một vết thương ngang trán. Cũng may mà nó không trúng vào mắt, và tuy vết sẹo vẫn còn chưa lành hẳn, trông anh hoàn toàn đầy đủ phong độ. Dường như tai nạn chỉ là một vết xước trên da. Tích đã nghĩ một con người như thế không dễ dàng gặp thêm tai nạn lần thứ hai. Vậy mà bây giờ anh đã ra đi vĩnh viễn. Tích thấy như có một khoảng trống trong tâm trí chàng, khoảng trống của sự sửng sốt, vô cảm xúc, tê dại trước một sự kiện quá đột ngột, khiến chàng chưa kịp phản ứng ra sao.
 

Dù không quen thân lắm vì chỉ mới biết Lộc gần đây, Tích vẫn đi dự đám tang anh. Trực thăng của anh đã rớt trong một vùng không an ninh, và phải ba bốn ngày sau khi anh mất tích, người ta mới đem được xác anh về để khâm liệm. Tích được biết lúc đó thi thể anh không còn nguyên vẹn như cũ mà đã bị trương lên rồi. Con người khi mất đi sự sống thì chỉ trong vài ngày là đã không thể nhận dạng được nữa. Và những tình cảm yêu thương của những người thân lúc đó có lẽ phải mất đi khi chứng kiến sự phân hóa của cơ thể, và thay vào đó là cái cảm xúc rùng rợn, ghê sợ thấy một cái gì thân thiết đã biến dạng hoàn toàn, đã mục nát băng hoại, đã mất hẳn chất người.
 

Dĩ nhiên là Tích không nhìn thấy Lộc trong cái hình thể xấu xí, ghê rợn đó. Vì vậy, trong tâm tưởng chàng, Lộc vẫn còn nguyên những nét đẹp cũ. Chàng chỉ thấy linh cữu anh với những ngọn nến cháy lung linh, và tấm di ảnh của một sĩ quan trong bộ quân phục đại lễ, nom oai nghiêm, hùng dũng, với cặp mắt tinh anh và gương mặt cương nghị.
 

Lộc được chôn tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Đám tang tiến hành giản dị, chỉ có họ hàng thân thích và vài ba người bạn cố tri. Tích đến nơi khi linh cữu sắp được hạ huyệt. Đó là một buổi sáng âm u. Nghĩa trang hoang vắng, đìu hiu. Không một tiếng chim hót. Những tán cây ủ rũ, co ro trong cái rét của một ngày trở gió. Những tiếng cuốc đào huyệt vang lên đanh lạnh. Người vợ trẻ mang bầu đang ngồi bên bờ huyệt, khăn sô trắng che kín mặt, nhưng vẫn có thể nhìn thấy mắt nàng sưng húp. Có lẽ nàng đã kiệt sức vì lo buồn trong cả mấy ngày qua, những ngày chắc hẳn phải kinh khủng trong đời nàng. Đứa con trai đứng cạnh nàng, còn nhỏ chút xíu, hình như không hiểu gì cả. Nó mới chập chững biết đi, trông gầy gò, tội nghiệp chứ không đẹp trai như bố.
 

Khi huyệt được đào xong và linh cữu bắt đầu được hạ xuống, thì người góa phụ không còn ở trạng thái rũ liệt nữa. Hình như nàng cảm thấy rõ sự chia ly đang đến hồi chung quyết. Nàng vụt đứng dậy, khóc nức lên, rồi toan lao xuống huyệt. Mấy người thân phải cố gắng lắm mới giữ được nàng lại trên bờ hố sâu, và nàng đã lại xụm xuống như một khối thịt trong tay người chị gái. Cả người nàng chỉ còn là một chấn động thổn thức đớn đau. Đứa con vẫn đứng cạnh, nắm lấy tay mẹ, đôi mắt ngây thơ, ngơ ngác, tội nghiệp.
 

Và ngay vào giây phút đó, Tích cũng thấy hai tròng mắt mình mọng nước, sống mũi nồng cay. Chàng thương Lộc, thương người góa phụ trẻ, thương đứa con ngây thơ bây giờ đã trở nên côi cút mà vẫn chưa hiểu được chút gì về nỗi chia lìa, thương cái bào thai trong bụng mẹ chưa kịp nhìn thấy cha trước lúc chào đời. Cuộc chiến tranh này mỗi ngày đã lấy đi bao nhiêu người như thế? Đã có biết bao nhiêu cảnh vĩnh quyết như Tích đang chứng kiến hôm nay mà trước kia chàng chưa bao giờ chứng kiến và nhận thức đầy đủ? Tại sao đất nước này mà chàng vô cùng yêu mến lại phải khốn khó lâu dài đến thế? Người ta giết nhau vì cái gì? Vì tranh nhau hơn thua về một đường lối đưa con người đến hạnh phúc? Chua xót làm sao!


 

Linh cữu đã nằm yên dưới hố sâu, và bây giờ những nhát cuốc lại vang lên, những xẻng đất được quẳng xuống lấp mặt quan tài. Tích cầm một nắm đất quẳng xuống hố đang được lấp đầy, như gửi một lời chào từ biệt tiễn người ra đi. Rồi mặt đất bằng trở lại. Không còn nhìn thấy bóng hình anh đâu nữa. Anh đã nằm sâu trong lòng đất bao dung. Mọi người cúi đầu nghe vị cao tăng đọc bài chú. Tích cũng cúi đầu, và trong tiếng mõ vang lên đều đều và tiếng tụng kinh chậm rãi của vị hòa thượng, chàng thấy tâm trí xao động lên lời độc thoại của mình với người vừa nằm xuống.
 

“Anh Lộc, chắc anh không thể hiểu được rằng tôi quý mến anh và xúc động về cái chết của anh đến như thế nào. Chúng ta cùng chung một thế hệ, thế hệ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong chiến tranh. Thực tế chiến tranh đã là một phần của cuộc đời chúng ta, như cơm ăn áo mặc. Khi chúng ta đến tuổi ý thức, thì chiến tranh đã ngày càng mở rộng. Những người cùng chung một dòng máu đã lao vào cuộc chiến đấu mà không có thời giờ để suy nghĩ, nhận định. Tôi được may mắn hơn anh, vẫn còn ít nhiều đứng ngoài lề bom đạn. Còn anh thì sống với bom đạn hằng ngày, sống với những tàn bạo của lửa thù từng giây từng phút. Tôi chắc chắn một con người như anh không bao giờ có cái thú độc ác nhìn người khác khổ đau, chứ đừng nói đến tiêu diệt sự sống của họ. Vậy mà anh cũng chẳng làm gì khác được. Anh vẫn phải khoác vào người bộ quân phục, xông pha trong chốn lửa đạn, ở đó tàn sát đơn thuần là một bản năng tự vệ. Chắc chắn anh cũng đã có những giờ phút băn khoăn, thắc mắc về một thực tế tàn độc như thế. Chúng ta không hiểu tại sao cuộc chinh chiến này đã phải diễn ra trong cái tàn khốc như ở mức độ hiện nay. Chúng ta như người vào giữa bộ phim mà phần đầu không được coi nên không thể hiểu nguyên ủy câu chuyện. Điều độc địa là chúng ta không chỉ xem phim. Chúng ta đồng thời phải là những diễn viên bất đắc dĩ, nhưng vẫn phải gắng hết sức mình mà làm tròn nhiệm vụ để được tồn tại.
 

Hình như những người ở phía đối diện chúng ta không nghĩ như chúng ta. Họ suy nghĩ giản dị hơn nhiều, và có thể thấy họ tin tưởng tuyệt đối, gần như mù quáng, vào lý tưởng của họ. Họ đã có thể tiến hành và duy trì một cuộc chiến đấu dai dẳng và đầy gian khổ trong cả mấy chục năm trời, và tôi không nghi ngờ là họ còn có thể kéo dài thêm hai ba chục năm nữa, cho đến khi chúng ta phải chịu đầu hàng mới thôi. Với những con người như thế, và với những con người phía bên này như chúng ta, liệu chúng ta có thể kéo dài được trong bao lâu? Tôi có cảm tưởng chúng ta đang ở trong một cuộc đọ sức không cân xứng. Trong khi họ say sưa lý tưởng, thì chúng ta hoàn toàn bị động. Có lẽ chúng ta chiến đấu vì một ý thức mơ hồ nào đó về quyền tự do căn bản mà mỗi con người phải được hưởng để hoàn thành cuộc sống của mình cho có ý nghĩa. Nhưng đồng thời cái ý thức tự do đó của chúng ta đã bị trăm ngàn vạn triệu người lạm dụng, đã bị bao nhiêu nhà chính trị hoạt đầu mặc tình khuynh loát cho những mục tiêu vị kỷ của họ. Và rồi mặc ai nấy sống, con người cứ bị cuốn trôi theo dòng thác lũ, và hình như chúng ta mất đi phần nào tin tưởng vào cái mục đích cuối cùng mà chúng ta trân trọng. Chúng ta đành phó mặc cho những sự kiện của dòng đời mà chúng ta cảm thấy bất lực không kiểm soát nổi. Và chúng ta tạm quên đi những khắc khoải buồn phiền trong hạnh phúc nhỏ bé nơi tổ ấm gia đình. Rồi một ngày, cái chết ập đến với anh, và anh không hề được sửa soạn cho một sự thể như thế. Anh chết đi trong lúc lòng còn đầy ham muốn sống, trong khi người vợ trẻ với cái bào thai trong bụng và đứa con thơ còn cần anh như cần ánh sáng mặt trời.   
Như con đại bàng một sớm mai gãy cánh trên vùng trời mịt mù khói súng và ngùn ngụt hận thù của quê hương chúng ta, anh đã ngã xuống cho côn trùng rỉa rúc, và cái còn lại của anh là hình con đại bàng trên chóp mũ đại lễ và hai bên cầu vai của bức di ảnh. Và cái còn lại của anh trước mắt tôi ngay lúc này là dòng lệ chảy dài trên đôi má người góa phụ mang thai, là cái nhìn thất thần của đứa bé mới chập chững biết đi. Và cái còn lại vang vang bên tai tôi là khúc hát buồn não nuột mà tôi đã được nghe hoài hồi gần đây:
 

Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ… (*)
 

Xin chào anh, một người chiến sĩ. Và xin bày tỏ lòng ngưỡng mộ. Có lẽ đối với những người thân của anh, sự ra đi của anh là một sự mất mát phi lý và đau thương. Nhưng riêng đối với tôi, cái chết của anh mang đầy đủ ý nghĩa của một sự hy sinh cao đẹp cho những gì mà chúng ta hằng ấp ủ, nâng niu. Anh đã nằm xuống để những người còn sống sót như tôi có dịp suy ngẫm và chiêm nghiệm về cuộc sống, và nhắn nhủ chúng tôi về một sự tồn tại xứng đáng hơn trên cõi thế, về những nhiệm vụ phải cố gắng hoàn thành đối với những thế hệ đi sau chúng ta.”
 

(*) thơ Lê Thị Ý, nhạc Phạm Duy




Lời Phi Lộ: Xin ai đó khi đọc tựa đề “Chết Tại Buôn Mê Thuộc” đừng có vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đẩu năm 1997 đến năm 2000 và câu chuyện được bắt đầu như sau:
Trời tối đen như mực, tiếng mang tác, tiếng hổ gầm từ đại ngàn vọng về xen vào bản hợp tấu bất tận của lũ ếch nhái côn trùng quanh con suối Hầm Hô.
Vừa vói tay muốn lấy cuốn sách đọc dỡ dang tối hôm qua để đọc tiếp, nhưng Phượng-Quỳnh vội dừng tay; vì nghe điện thoại reng. Phượng-Quỳnh vội chụp ống nghe, bước nhanh sang chiếc xa-lông nhỏ; vì ngại tiếng nói chuyện sẽ làm mất giấc ngủ của đứa cháu cưng.
Bây giờ là mùa xuân, chỉ sau Tết mới tròm trèm mươi ngày, nghĩa là khí dương đang mạnh và mọi thứ đang sinh sôi nảy nở. Nàng nhớ da diết vườn cải hoa vàng nơi góc quê. Cái màu vàng miên man như một dòng ánh sáng dắt con người lùi dần vào một nơi chốn nào đó khuất lấp và sáng dịu, một thứ ánh sáng đã bị bọc kín bởi hoài niệm, xa xôi sương mù.
Nằm trong lòng Nhân, Ngân cuộn tròn như chú mèo con, mặt dụi vào ngực để tìm hơi ấm và ngửi mùi thân thể người yêu. Mặt trời lên cao, ánh sáng xuyên qua khung cữa kiếng lớn của căn phòng, không còn ngủ nữa nhưng cả hai luyến tiếc mộng đẹp nên chưa muốn dậy.
Người thì bảo “Chiến Tranh Việt Nam” là cuộc nội chiến Bắc Nam, kẻ thì bảo đó là cuộc chiến chống xâm lăng, chống lại các đế quốc Cộng sản và Tư bản. Riêng tôi, là một bác sĩ phẫu thuật, tôi biết Chiến Tranh Việt Nam” đã là thảm họa của quê hương tôi, của dân tộc tôi..
Con Mén đi ngang, mùi hương bông bưởi từ mái tóc tỏa ra thoang thoảng. Thằng Mễn hít lấy hít để, laị lấy tay quạt quạt như muốn gom hương vào mũi, tụi thằng Chí, thằng Ròm… cười ngặt nghẽo làm con Mén thẹn thùng. Con Mén liếc một cái sắc lẻm.
Mau quá anh nhỉ, mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm.
Tôi không có thói quen viết về những nhân vật nổi tiếng đã qua đời; dù để “dựa hơi” hay là trút tất cả bất bình/phẫn nộ cho những người không thể nào tự biện minh được! Do đó khi hay tin nhà văn Mai Thảo qua đời, tôi chỉ biết âm thầm niệm kinh/cầu nguyện cho linh hồn anh Mai Thảo được về cõi Vĩnh Hằng!
Y Uyên tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1940 tại làng Dục Nội (nay thuộc xã Việt Hùng), huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Việt. Là con cả trong gia đình có 9 người em, năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Học trung học tại các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn). Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964, dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964 - 1968.
Yasunari Kawabata sinh năm 1899 và mất năm 1972. Gia đình ông sung túc có truyền thống văn hóa cao. Cuộc đời ông nhiều tang tóc. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Lên bảy, ông mất bà nội. Người chị độc nhất cũng qua đời khi ông mới lên chín. Tang tóc làm tuổi thơ ông không bình thường, và phải chăng đã tạo ra nét mất mát bơ vơ trong văn chương ông.
Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.