Hôm nay,  

Lòng nhân ái

31/10/202500:00:00(Xem: 2853)
 
Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
 
Họ ngồi co ro, dúm dó vào nhau trên mái nhà, lạnh và đói và sợ! Cảnh tượng thê lương khó tả.
 
Nước ở các miền cao đang đổ về vùng thấp, nước trên sông Cầu, Bắc Ninh cuồn cuộn chẩy về và dâng cao. Nước trên sông Thương vẫn chẩy về và cao ở độ báo động 3. Các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn và ngoại thành Hà Nội được báo động như nước vẫn cao trong ba tới năm ngày tới… là thứ tư 6-10 cho tới qua ngày 11 tháng 10 mới có hy vọng lui xuống… là hy vọng thôi.
 
Hoa đào trồng đón tết gió đã lôi cuốn đi cả gốc… các khung cửa sắt thép cũng bị gió lốc giựt ngược cuốn bay vèo vèo.
 
Thiên nhiên ngày càng hung dữ khi nổi cơn thịnh nộ. Hàng ngàn ngàn căn nhà của người dân ngập chìm trong nước lũ. Việc tổ chức cứu trợ của chính quyền cộng sản chậm chạp và khó đáp ứng nổi nhu cầu cứu trợ.
 
Các đoàn thể thiện nguyện cứu trợ đa phần do nhân dân đồng bào tự phát, giúp đỡ nhau bằng bánh chưng, mì gói, nước uống, đồ ăn khô. Lá lành đùm lá rách!
 
Tiền thì có thầy Thích Minh Thiền, lại cùng các phật tử bổn đạo từ chùa Đức Hòa trong miền Nam, mau mắn ra Bắc cứu trợ.
 
Thầy Thích Minh Thiền lại sắn cao ống quần qua đầu gối, vạt hò, vạt dài áo tràng cuốn cao lên vai lên cổ, lội lõm bõm vào thôn Minh Côi xã Trường Văn, huyện Nông Cống, «dạ, dạ… mô phật… con chia xẻ mất mát đau buồn của quý đồng bào…» nước vẫn băng băng thầy cũng lội băng bằng… «mô phật, con đem tới tấm lòng đóng góp của phật tử miền Nam»… để ít nhiều quý vị khắc phục hậu quả, cứ mỗi gia đình thầy đặt vào tay họ một triệu, mô phật mô phật của ít lòng nhiều.
 
Thầy dám bước lên bè cây nổi, đẩy mái chèo qua khu nước lớn, bờ bên kia, có lũ trẻ nhỏ reo mừng: oh oh thầy Minh Thiền, thầy tới.
 
Thầy tới, thầy lại tới, thầy lội nước lõm bõm vào chỗ hẻo lánh nhưng thầy không quên một nhà nào… cho tới Hà Giang, nhiều nhà mất mạng, khuyết tật… thầy chia tặng từ 3 triệu tới 10 triệu, mỗi nhà, thầy chia xẻ nỗi buồn, an ủi với lời ân cần thấm thía nghĩa tình Việt Nam. «Mô phật, mô phật… tội quá, con mang tấm lòng và tình thương của đồng bào miền Nam ra bù đắp ít nhiều đau thương cho quý vị đồng bào… mô phật»… cầu chúc sức khỏe…
 
Ngày 8 tháng 10 thầy cùng đoàn đến Tuyên Quang, chia xẻ ít nhiều tinh tài và cầu siêu cho sáu gia đình có thân nhân mất vì bị nước lũ cuốn trôi, có những nhà sáu người mà tới bốn ngưới bị trôi đi, thầy luôn an ủi người sống và không quên cầu xin siêu thoát cho người đã vong mạng…
 
Hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần cao, cột áo tràng vạt hò, vạt ngắn, vạt dài lên vai lên cổ lội lõm bõm trong giòng nước lũ đục ngầu, kiên nhẫn và hăng hái cùng đoàn đi cứu trợ mỗi lúc nước lũ tràn về, (tác giả) tưởng không thể ngậm ngùi cảm phục thầy và đoàn và sót sa nhớ lại một câu chuyện chống lũ lụt năm xưa… xưa lắm rồi, xưa trước cả năm thìn bão lụt còn ghi dấu ấn trong lịch sử. Quả thật chống lũ gần như chống giặc ngoại xâm, có lúc còn bi thương hơn cả chiến trận.
 
Thưa đó là chuyện chống lũ, chống vỡ đê từ thời Pháp thuộc, chuyện xưa như cổ tích, mà vẫn in hằn dấu vết, từ khoảng năm 1945-1946. Miền lũ nước dâng cao là tỉnh Thái Bình, sát Nam định, Bắc phần.
 
Theo lời cha tôi kể lại, hồi đó, mỗi làng hay mỗi huyện phải có 50 người phụ dịch chia phiên thay nhau ra canh đê và lo đắp đất, đá, cát lên những chỗ lủng ngoài biển tràn vào ruộng lúa, làng mạc bên trong đất liền… nơi sinh sống của nông thôn đó là con đê Diêm Hộ, bao bọc cả vùng đồng bằng lúa tỉnh Thái Bình trù phú… nuôi sống người dân cả một vùng bao la bát ngát. Nhưng tháng 7, tháng 8, mùa nước lũ dâng, lại là nỗi lo sợ của đồng bào.
 
Họ thay phiên nhau đi canh sợ đê vỡ và sợ lụt… tiếng mõ cầm canh luôn báo động mực nước lên, xuống, mau, chậm để người dân đồng bằng cuốn áo quần chạy… họ chạy đỡ lên tá túc trên những gò đất cao, lên sân đình, sân chùa, tháp… chạy nước, họ cũng sợ… như là còn sợ hơn chạy giặc và chạy lửa… vì đại hồng thủy đến chỉ trong một sát na, một chớp mắt… trời ơi!
 
Nhà nhà thì chỉ đa phần còn lại là đàn bà, con nít và ông bà già. Đàn ông trai tráng đa phần đã chia phiên lên đê, canh giữ mực nước!
 
Nhưng nào họ có giữ được gì đâu, sức nước biển mạnh làm vỡ đê dễ như chơi, sóng ầm ầm ầm… tiếng ầm vĩ đại là chết, là một khúc đê bị vỡ bị cuốn phăng xuống phía dân làng phía đồng lúa, ruộng màu… có cả một số người bị cuốn theo. Trên là trời, dưới là nước, mênh mông bể sở… làng nào ở ven đê vỡ, bị xóa sổ. Làng nào ở xa hơn, thì mảng trôi đi, mảng còn trụ lại.
 
Làng nào ở xa hơn một khoảng nữa, thì cũng khá nguy nan, vì nước vẫn băng băng dâng lên, người lớn, người nhỏ, bồng bế lôi kéo nhau lên mái nhà ngồi tránh nước. Nếu có cơ may leo lên được góc đình, góc chùa, máng nhà thờ làng Ngoại Trình… thì tạm tạm yên, ngồi đó, co ro, chịu đói, chịu rét lạnh… hy vọng mỏng manh chờ nước rút…và chưa chết!
 
Leo lên chùa, đình hay nhà thờ còn đọng ở lại. Chớ ngồi lêu bên trên nóc nhà tranh, nguy hiểm lắm, rất nhiều mái nhà rời đòn dong, lêu bêu trôi theo giòng lênh đênh… y lục bình lang thang theo cam lộ! Người, phận người, mong manh chìm xuống không kịp còn sức đâu mà hoảng loạn.
 
Chuyện muốn kể thì đã xa lắm rồi, mà thưa bạn, nó vẫn trở về với ký ức khi mỗi mùa nước nổi, nước lũ, với hình ảnh thầy Minh Thiền săn quần săn áo bì bõm lội trong giòng nước lụt đục ngầu đó.
 
Thưa là, trên bản đồ, làng quê tôi, tựa vào vùng châu thổ sông Hồng, chỗ có con sông Diêm Hộ, cạnh sông Trà Lý, có cống Trà Ninh.
 
Gần cửa biển Diêm Hộ, Diêm Điền, khoảng cách 9, 10 cây số nên vỡ đê là chuyện hay xẩy ra mùa nước lớn.
 
Đê đắp cao và có cống thoát nước, nhưng khi sức nước mạnh, tức nước vỡ bờ là chuyện bình thường. Bờ đê có chỗ nứt nẻ, người bảo vệ đắp lại yếu ớt bằng bao cát và luôn luôn sống trong tình trạng báo động. Khi đê vỡ, người phu dịch chạy thoát là may mắn hiếm thấy, vì chẳng có ai có trời nào cứu họ lúc đó!
 
Ngày ấy, cha tôi còn mãi mê  đi kháng chiến còn lại chú Vô tôi ở nhà, lo việc đồng áng phụ ông bà nội tôi. Buổi tối, chú đi gác đê, canh sợ đê vỡ.
 
Bố mẹ chú mất cả rồi, từ cái năm đói Ất Dậu, ông tôi thương, mang về nuôi và cưới vợ cho chú, chú hiếu thảo tận tình với cha nuôi.
 
Chú Vô tôi rất hiền, có sức khỏe, và chú có ruộng vườn riêng, chú có tiền của riêng. Nhà chú ở sau đình làng, xung quanh nhà chú, chú trồng nhiều cây thầu dầu có hoa, lá màu tím tía rất vui đến lộng lẫy.
 
Chú có tiền và chú có thể thuê người trai tráng khác đi thay phần gác đê báo động, nếu muốn, nhưng lúc nào chú cũng tự đi gác để xem sự nguy hiểm khốn khó xẩy ra như thế nào… có lần chú nói giỡn là  chú là con bà Nữ Oa… bị ông nội la rầy.
 
Rồi không may là một lần ấy, chú tình nguyện sách đèn bão lên đê, thì nhà chú lại có sự cố bất ngờ xẩy ra, sự cố không thể đoán thấy trước được.
 
Đó là chiều hôm trươc, lúc ghi tên đi gác, chú đã tính bỏ cuộc, vì vợ chú là thím Vân, mang bầu hơn bẩy tháng, lại tự nhiên có dáng mệt mỏi, ì ạch của một người muốn khai hoa nở nhụy, cô đã tìm ra một bà mẹ đỡ. Và cô quả quyết bảo chú: «đi đi, đi gác đê với anh em đi!»
 
Chú ra đi mà lòng thấp thỏm. Suốt một buổi hôm, trên đê, gió lạnh thổi vù vù, những hàng cây chi chi, quả trái đỏ rơi rụng  rào rào… với trách nhiệm, chú luôn luôn phụ mọi người bê bao cát trấn chỗ đê bị nứt.
 
Rồi, ầm, đê vỡ toang, chú tung mình như mọi anh em khác, chạy về làng, vội vả như bị ma đuổi… ối trời ôi!
 
… Chẳng trời nào tới cứu kịp, họ phải chạy, mới có vài giây, nước ùn ùn tung tóe dồn tới theo sau, chú còn kịp nghe tiếng mõ khua vang vang đổ hồi từ một góc nào đó! Có nghĩa là mọi người phải chạy lên những ghồ, những ụ đất cao.
 
Chú xoay mình bẻ lái, rẽ nước, tiến, cố tiến tới phía đình là nơi đất cao hơn và có vợ chú ở đó. Chú hy vọng ra tới đó là gặp vợ, có thể có cả con chú, vừa sanh. Chú cứ quây trong nước như đi giựt lùi chú vùng vẫy, mãi sau chú cũng đến được sát đình làng. Hú hồn. Nước chạy lẹ hơn người rất nhiều…
 
Bao quanh đình, có nhiều cây nhãn, cây xoài cổ thụ, hàng bao năm, bao bọc sân gạch rộng, đã loang loáng ngập nước. Mấy hàng cây đó, giờ ngập lụt, chúng là phao cứu sinh. Người người đeo bám, ngồi, đứng, đu trên các cành rậm rịt…
 
Có người đang loi ngoi, trồi lên hụp xuống, có người này lôi kéo người kia. Khi nguy khốn, may thay có lòng trắc ẩn hiện ra.
 
Nửa ngày qua, gió đã êm, nước đã đứng, chú loay hoay kiếm vợ chú. Không thấy. Mà chú lại thấy ông Quản. Củng, bà Lý Căng và nhiều người quen, lối xóm, đang bấu víu trên góc nóc cổng Tam Quan.
 
Chú leo vào thềm cao, trên một bệ, đứng dòm, thì bất chợt, có một người, khoác áo mưa lá gồi, tiến tới, đưa vào tay chú một cái bọc vải, còn ươn ướt nước:
 
«… Này, vợ anh, cô Vân yếu đứng mãi, bám vào trạc cây, đã mỏi tay, rơi rồi, người ta vớt được đứa con anh đây, thôi, anh mang cháu về nuôi!» Còn người còn của!
 
… Chú Vô nuôi con một mình… trời thương, hoạn nạn qua đi, chú lại còn lại được đứa con gái, thật ngoan, thật xinh xắn.
 
Bấy giờ cháu đã lớn, đã 16 tuổi, chú đã nuôi dậy và yêu thương bù đắp cho con rất chu đáo, hẳn vợ chú rất vui lòng.
 
Rồi có một năm, thủy triều dâng cao đe dọa, nhưng sau này, việc bảo vệ đê điều kiên cố vững vàng hơn, nên nước có lên rồi có xuống, chú Vô và toán bảo vệ cũng già yếu theo tuổi, theo năm tháng.
 
Có một ngày, nước rút, còn khá trong, có rơi rớt vài giọt nắng vàng hiu hắt bên sườn đê. Chú Vô và con gái là bé Vi đi dạo ngắm cảnh xưa. Hôm ấy mà một ngày quan trọng, ngày giỗ vợ chú, một ngày tháng 7 mùa thu.
 
Cũng trong cái buổi hôm ấy, có một người đàn bà từ trên mặt đê cao, từ từ đi xuống, đi thoai thoải xuống, thấp hơn rồi tiến nhanh về phía chú Vô, bà ta chào và trao cho chú một tờ giấy cuộn tròn, bà bảo là đây là giấy khai sanh, làm lâu rồi, của con chú và con thím Vân, mà bẵng đi bao năm loạn lạc, mãi nay, may mà bà con tìm thấy. Trên khai sanh, con chú là con trai, tên cháu là Trần Văn Hùng.
 
Bà nói thêm bà là bà mụ, đêm ấy đỡ đẻ cho vợ chú, và theo lời nhờ cậy của mẹ đứa bé trai sơ sanh, ghi tên cháu là Trần Văn Hùng bà mụ nói mau, chào và vội vả đi thoăn thoắt lên cao, chú không kịp nói lời cảm tạ…
 
Tất cả là do sự linh ứng đưa đẩy, chú đã thầm hiểu, và rồi, chú đoán ra là mẹ chú nghiệm rất đúng: «con trai tay trái, con gái tay phải» hồi cô Vân mang thai, cô luôn nằm nghiêng ngủ nghiêng về bên trái!
 
Chú bàng hoàng, một chút sửng sốt, thì ra khi vợ chú ra đi, cô ấy đã bế theo thằng con trai mà hai vợ chồng đã nhiều lần bàn tính đặt tên cho con.
 
… Đúng là cả hai đã đồng ý đặt tên cho con là Trần Văn Hùng.
 
Chú yên lặng ngó sâu xuống đáy sông, lung linh đâu đó, chú lặng lẽ chào từ biệt bóng dáng thân yêu của hai người thân. Hôm nay là ngày giỗ của Vân và Hùng mới đó đã mười mấy năm qua đi qua đi…
 
Vân đã đi và Hùng cũng đã đi.
 
Ngay sau đó, giữa tan hoang đổ nát, thì bé Vi tới… cám ơn trời, lòng nhân ái khi nào cũng có mặt và không hề thiếu vắng trong mọi hoàn cảnh thương tâm…
 
Rồi bất chợt, con gái từ bờ bên kia đê, quay trở sang, gặp lại bố. Chú nhìn con, giọng đầy xúc động:
 
… Này, như là con càng lớn càng giống mẹ con… ngỡ gì, chớ điều đó, bố nói với con nhiều lần rồi… mà mình về nhà thôi, con đói bụng lắm!
 
Mùa Thu đầy lũ lụt 2025
Paris 12/10
Chúc Thanh
 

Mợ nằm im ắng, nét mặt bình thản. Làn da xanh tái và hai má lõm sâu, mợ không còn là mợ của hằng ngày. Mọi người chung quanh đi lại nói năng lao xao một cách nhẹ nhàng, và lũ trẻ trêu chọc nhau cách đó mươi thước cũng không làm dậy lên được khoảng trống âm thầm chung quanh mợ.
Tiếng kẻng ra chơi vừa vang lên, bọn học sinh ùa ra như ong vỡ tổ, chúng chạy nhảy chơi đùa la hét ầm ĩ quanh căn nhà. Bọn thằng Vinh, Trường, Cảnh… nổi tiếng nghịch ngợm như qủy sứ. Còn tụi con Lành, Lệ, Thúy…thì mê chơi banh đũa, ô làng, nhảy dây…Cả đám học sinh mệnh danh “ Nhất qủy nhì ma thứ ba học trò” nhưng nổi tiếng nhất vẫn là thằng Tèo.
Anh hớt ha hớt hải bước vội vào văn phòng tôi từ thang máy, vừa hào hển thở, anh vừa nói: - Bác sĩ làm ơn gọi giùm hãng của tôi là tôi cáo bệnh hôm nay. Gọi đi bác sĩ, kẻo trễ mất.
Chúng ta học được điều gì giữa khoảng cách đôi bờ sinh tử này. Vẫn có người đi theo con siêu vi chui vào giữa khoảng cách trống đó để kiếm thêm tiền (phần đông là những kẻ đã có sẵn tiền). Lừa đảo vẫn sẩy ra giữa đôi bờ sinh tử.
Cả tuần ở ẩn, sáng trưa chiều tối, anh và em, hai người không xa lạ 24 giờ trên 24 bốn mắt nhìn nhau quen quen mấy mươi năm nay, bỗng tự giam hãm ta với mình cận kề đến đuối sức. Ngày hai buổi cơm hai đứa coi TV quanh quẩn dịch bệnh Tàu cộng, thế sự đó đây toàn cầu mang màu tử khí từ vi khuẩn cô vy 19, Tàu tuyên bố hết bệnh, thế giới bước vào dịch bệnh dãy dụa tức tưởi.
Có một nhà khoa học từng phát biểu:” Cuộc đời này không có gì chắc chắn và tuyệt đối cả, duy chỉ có câu nói này là chắc chắn tuyệt đối”. Trong đạo các thiền sư cũng thường dạy: ”Thế gian này chẳng có gì chắc chắn cả, duy có cái chết là chắc nhất, thật nhất”.
Suốt thời gian qua, với những biến động đáng sợ trên thế giới về dịch Covid-19 – do người Trung Hoa tạp ăn gây ra – bà Trang cảm thấy uất hận nhà cầm quyền Trung cộng nhiều hơn chứ không thể nương vào lòng nhân đạo để bào chửa hoặc bênh vực cho Trung cộng trong sự kiện này.
Bác sĩ gốc Việt Alyssa Nguyễn Phước làm việc trong Phòng Cấp Cứu – ER (Emergency Response) của một bệnh viện tại New York (bà không muốn nêu tên vì lý do tế nhị). Dưới đây là bài phỏng vấn của phóng viên TuAnh Dam, đăng trên tờ NY City Lens ngày 26/3/2020; ianbui dịch lại từ tiếng Anh. Q: Bác sĩ thấy sự khác biệt nào trong phòng cấp cứu trước và sau khi dịch COVID bùng phát? A: Thông thường người ta vô ER vì bất cứ lý do gì. Dập ngón chân, xét nghiệm mang thai, u đầu cách đây hai tuần nay bỗng thấy chóng mặt… Vô gia cư, tâm thần, những thứ mà trong ER chúng tôi thường gặp – tất cả đều biến mất từ ngày có các ca COVID-19 đầu tiên.
Nhà văn Thảo Trường tên thật là Trần Duy Hinh, sinh năm 1936 (giấy tờ ghi 1938) tại Nam Định, Bắc Việt. Ông di cư vào Nam năm 1954, tốt nghiệp trường Bộ binh Thủ Đức, rồi mới bắt đầu cuộc đời cầm bút. Thử Lửa là tác phẩm đầu tay của ông được xuất bản năm 1962. Sau đó ông được mọi người biết đến với các tác phẩm khác như Người Đàn Bà Mang Thai Trên Kinh Đồng Tháp (1966), Vuốt Mắt (1969), Cánh Đồng Đã Mất (1971), Người Khách Lạ Trên Quê Hương (1972), Cát (1974)…
Cả thế giới đang quay quắt trong mùa cúm Vũ Hán (Wuhan Virus). Tôi thích ông ngoại trưởng Mỹ gọi thẳng tên con cúm một cách rạch ròi, cái tên của thành phố từ một đất nước và con người đã và đang mang đại họa đến cho nhân loại. Không cô Vy cô Viếc gì cả. Cũng không mắc công quảng cáo cho bia Corona của Mễ. Loài người có óc kỳ thị. Cứ tai họa nào của thiên nhiên giáng xuống là gán cho giới phụ nữ trong khi ngày 8 tháng 3 mới cách đó vài ngày. Không ai gọi nó là “thằng cúm” mà gọi nó là “con cúm”. “Con cúm” độc địa đang tung hoành khiến loài người trên trái đất này sống trong tâm trạng đang an bình nay đã thành bất an, đang bình thường nay trở thành lo âu, sợ hãi. Nó càng lây lan thì mọi người càng hoảng loạn.
Ánh nắng ban mai xuyên qua khung cữa sổ lớn lấp loáng lung linh trong căn phòng trắng tinh khôi, cậu chủ vẫn còn vùi mình trong chăn ấm nệm êm. Hôm nay là chủ nhật, không phải đi làm nên ngủ nướng. Jack tự thưởng cho mình một ngày chủ nhật thoải mái nhất mà cậu ta có thể, cứ như những ngày chủ nhật khác. Jack sẽ ngủ đã đời rồi dậy vệ sinh, ngồi tịnh tâm trước tôn tượng bổn sư, ăn sáng và bước ra vườn.
Anh từng ghé lại Cau Lạc Bộ anh nói chuyện với anh em với tất cả hào khí của người lính. Anh khẳng định:”Sống là chiến đấu, là chấp nhận thử thách”. Đôi khi đời không hiểu ta, ta cũng phải ôm nó vào lòng, ôm chặt nó, há miệng cắn vào nó như xích của tank cạp lấy mặt đường, bùn lầy, tiến về phía trước, tiến về mục tiêu đã qui định.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.