Hôm nay,  

HUY

06/03/202600:00:00(Xem: 3727)

Huy
Minh họa Đinh Cường  
  
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng.

Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.

Tôi giữ tình cảm ấy cho riêng mình, như giữ một bí mật thiêng liêng. Không phải vì tôi sợ bị từ chối, mà vì tôi sợ làm xáo động thế giới yên bình của em và tôi. Tôi sợ rằng một lời thú nhận vụng về sẽ khiến nụ cười ấy vụt tắt, khiến ánh mắt trong veo kia trở nên xa lạ. Dù sao, tình yêu của tôi với Huy lúc nào cũng như dòng nước ngầm chảy sâu dưới lòng đất, âm thầm nhưng bền bỉ.

Tôi không muốn và không dám cho em biết những gì tôi giữ trong lòng, để tôi cứ giữ kín nỗi buồn một mình; chỉ cần được nhìn thấy em bình yên, được thấy em cười, được ở gần em trong thinh lặng: vậy là đủ cho một trái tim yêu trong lặng lẽ. Tôi sẽ tiếp tục yêu Huy theo cách của riêng mình: kín đáo, dịu dàng, và vĩnh viễn không thành lời.

Huy không đẹp lộng lẫy lôi cuốn bao cặp mắt nhìn, nàng đẹp theo một cách rất riêng, rất hiền dịu, thứ sắc đẹp thấm vào lòng người ta như giọt mưa thấm vào đất khô cằn. Mỗi lần nàng cười, hai má lúm đồng tiền nhỏ xíu, xinh xắn đến nao lòng. Nụ cười ấy không rực rỡ như nắng, mà mềm như ánh trăng non, chỉ lần đầu nhìn thấy, tim tôi đã lạc nhịp.

Tôi đứng bên cuộc đời nàng bao năm, lặng lẽ, tử tế, chăm chút nàng từng điều nhỏ nhặt nhất, chỉ cần nàng vui là tôi vui; nhưng số phận chỉ để nàng tình cờ đi ngang đời tôi thoảng như cơn gió nhẹ mà để lại cho tôi một nỗi buồn rất sâu. Trái tim nàng không có ngăn nào để dành cho tôi.

Tôi hiểu, tình yêu đơn phương cũng có vẻ đẹp riêng của nó, không cần được đáp lại để tồn tại, chỉ cần một trái tim đủ kiên nhẫn để giữ gìn, đủ can đảm để chấp nhận rằng đôi khi, yêu một người chính là đứng phía sau ánh sáng của họ, lặng lẽ và chân thành.
 
oOo
 
Tên tôi nghe giống như tên của một đứa con trai, nhưng tôi lại là một đứa con gái nhút nhát, hay mắc cỡ, có phần hơi khép kín và thích chơi một mình. Sau này ba má tôi hay nhắc lại, khi mới chào đời, tôi trông xấu lắm, đầu trọc lóc, không có nhiều tóc, không giống con gái tí nào. Vì thế ông bà đặt cho tôi cái tên nghe rất là con trai: Huy.

Nhưng càng lớn tôi càng xinh đẹp hơn. Tuổi trăng rằm, cái tuổi mà lòng tôi vẫn còn trong veo như giọt sương mai long lanh trên cành lá. Con đường hẻm nhỏ dẫn về nhà tôi, trong ánh nắng chiều oi ả tiếng ve sầu, dù không để ý, tôi vẫn biết có những bước chân im lặng, nhẹ nhàng của những đứa con trai lẽo đẽo theo sau, họ lặng lẽ như những cái bóng, chỉ sợ một tiếng động sẽ làm vỡ tan cái cảm giác mong manh được nhìn thấy tà áo dài trắng trong mơ; để rồi dừng lại, lén nhìn khi tôi đẩy cánh cổng nhỏ bước vào khoảng sân rực rỡ hoa Giấy trước sân nhà.

Trong lớp học, tôi thường thả hồn bay cao ra ngoài khung cửa sổ, ánh nắng buổi sớm đậu lại trên tóc tôi, khiến những sợi tơ mềm ánh lên mầu mật ong dịu nhẹ. Tôi vô tình không biết bao đứa bạn trai cùng lớp mãi ngắm nhìn quên cả nghe giảng bài; nhiều lần, tiếng phấn lách cách trên bảng đen cũng chợt ngừng lại, một ánh nhìn lỡ nhịp, một giây ngẩn ngơ rồi vội vàng quay đi của người thày giáo trẻ.

Tôi vẫn hồn nhiên như cánh hoa mới nở, trong tâm hồn trong trắng ấy, tình yêu vẫn là một điều gì đó mơ hồ như mây trời cuối hạ; mỗi buổi tan trường, con đường quen thuộc lại dài hơn với những bước chân lặng lẽ phía sau, và mỗi sáng đến lớp, những ánh mắt vụng về lại bối rối quay đi.

Trong sự bình yên, tràn đầy hạnh phúc tuổi hoa niên, tôi chưa bao giờ có một ước mơ bình thường như những đứa con gái cùng trang lứa; tôi vẫn tìm kiếm một điều gì đó có thể đánh thức trong tôi niềm say mê khó gọi thành tên. Tôi dịu dàng, nhưng lại không rung động trước những lời nói hoa mỹ, không thích những bài thơ tình kẹp trong trang giấy học trò thơm mùi lá Thuộc Bài, không hay nghe những tình khúc “Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ, chim non giấu mỏ, dưới cội hoa vàng.” của nhà thơ Phạm Thiên Thư, Phạm Duy phổ nhạc.

Trái tim tôi, tựa như cánh cửa khép hờ trước cơn gió nhẹ, chỉ thực sự mở ra khi một bình minh ngày mới, với tia nắng ấm áp cuộn trào sức sống mãnh liệt có thể tràn vào.

Tôi yêu một hình ảnh nam nhi lãng mạn, trong sáng, hào hùng pha chút mạo hiểm, và có thể chở che người con gái mình yêu. Tôi thích mẫu người đàn ông từng trải, gai góc, gương mặt phong sương, vết sẹo mờ nơi khóe mắt, có chút máu giang hồ, lãng tử; tôi tin đằng sau những vết hằn cuộc đời in trên gương mặt họ, là những ước mơ cháy bỏng mà tôi vẫn giữ kín cho riêng tôi, một khao khát phiêu lưu, tung cánh bay vào trời
 
oOo
 
Số phận đưa chúng tôi đi trên hai con đường song song với nhau, tưởng sẽ không chung một đích đến, nhưng đoạn cuối con đường, số phận nghiệt ngã đưa chúng tôi gặp lại nhau. Bao năm trôi qua, tôi đã tưởng trái tim mình đã ngủ yên, tình cảm tôi với nàng dù không thành nhưng vẫn theo tôi suốt một đời. Tôi trở về Việt Nam. Tôi kiếm về thăm Huy ở Thủ Đức. Tôi hẹn gặp Điệp, em gái của Huy ở một tiệm cà phê vắng khách trước khi tìm gặp nàng.

Ngày còn ở Mỹ, qua một người quen, tôi hay tin về Huy. Nàng hiện đang bệnh rất nặng và sống nghèo khổ ở Thủ Đức, nơi căn nhà cũ của cha mẹ mình, cùng đứa em gái và đứa con trai của Huy, đã trưởng thành. Cha mẹ nàng qua đời khá lâu, chỉ còn ba bóng hình âm thầm sống trong căn nhà cũ kỹ, bức tường rêu phong, loang lổ như chính thân phận của những con người trong căn nhà, trong thời cuộc này.

Tôi vẫn nhớ đôi má lúm đồng tiền ấy đến day dứt. Nhớ nụ cười khiến tôi vừa hạnh phúc, vừa đau đớn. Có lẽ, suốt đời tôi đã yêu trong thầm lặng như thế này. Nhưng dù không nói thành lời, tình cảm ấy vẫn sống trong từng nhịp thở của tôi, mãnh liệt, dai dẳng, và khắc khoải như chính cuộc đời sau năm 1975: nghèo khổ mà kiên cường, đau đớn mà vẫn khát khao yêu thương.

Điệp kể tôi nghe về cuộc đời đầy nước mắt của chị mình, bắt đầu từ sau khi tôi đã vượt biển ra nước ngoài:

Ngày đó, mỗi lần buồn vui, Huy đều đến tìm tôi để thổ lộ tâm sự vì tôi biết lắng nghe nàng và đưa ra những lời khuyên rất chân tình.  Điệp biết tôi yêu Huy nhưng không dám nói, Điệp là chứng nhân duy nhất hiểu mối tình câm lặng tôi dành cho Huy dù nhiều lần Điệp đã khéo léo tỏ tình với tôi mà tôi vẫn không muốn biết vì tim tôi đã thuộc về Huy.

Chuyện là tôi và Ninh, thằng bạn thân, cả hai đều thích Huy và muốn tán tỉnh nàng. Tôi thầm lặng và không một xu dính túi, nên mặc cảm; Ninh lại gàn dở như một triết gia. Nó con nhà giàu ở thành phố về, thường dẫn tôi và Huy đi cà phê, và lúc nào nó cũng là người trả tiền. Tôi tin rằng nó là một đối tượng mà các cô gái đều yêu thích trong thời buổi khốn cùng sau năm 1975. Huy chắc cũng không ngoại lệ.

Nhưng trớ trêu thay, Huy không yêu đứa nào trong hai thằng tôi, Huy yêu Lâm, đứa em trai út của Ninh, thằng nhóc này có máu giang hồ, thua chúng tôi 6 tuổi và nhỏ hơn Huy 3 tuổi. Trong một dịp, Lâm từ thành phố, phải trốn về đây vì nó chơi dao và đâm một tay anh chị nào đó trọng thương. Công an đang truy nã gắt gao, nên nó phải lánh về nơi đây, chờ tình hình lắng dịu.

Chẳng hiểu bằng cách nào mà hai đứa nó vừa gặp nhau, đã yêu nhau. Trong thời gian đó, hai đứa biến đi đâu mất một thời gian ngắn khiến chúng tôi hoang mang. Tôi lo lắng cho em thật nhiều. Hỏi Điệp, Điệp lắc đầu không biết; đến nhà ba má nàng, họ cũng đang cuống cuồng đi kiếm. Rồi hai đứa lại trở về bình an như không có gì xảy ra. Tôi hỏi. Huy nói không có gì, chỉ đi là một chuyến đi xa ngẫu hứng.

Một hôm, Ninh cho tôi hay ba má nó đang lo đường vượt biển cho cả gia đình. Nó dặn dò tôi giữ kín vì nó cũng không rõ ngày nào sẽ khởi hành. Cho đến một ngày, nó không trở lại gặp tôi, tôi hiểu; lần lượt anh chị em nó đều biến mất, ba má nó đi chuyến sau cùng. Tôi ở lại, lòng trống rỗng, buồn ghê gớm, tủi phận nghèo. Huy lại càng buồn hơn. Mây đen như phủ kín đôi mắt trong veo ngày nào của em.

Rồi tôi cũng xoay sở tìm đường. Tôi rủ Huy theo, có một chỗ cho nàng, tôi hứa sẽ bảo bọc cho nàng khi qua đến bến bờ tự do. Sau nhiều ngày suy nghĩ đắn đo, Huy cho tôi hay nàng đã mang trong mình đứa con của Lâm, nàng cám ơn tình cảm đặc biệt tôi dành cho nàng, nhưng nàng không thể lợi dụng tôi để làm nhịp cầu qua bên kia. Nàng tâm sự, Lâm có hứa sẽ bảo lãnh nàng và con khi ổn định cuộc sống nơi xứ người.

Thời gian qua mau, tôi có cuộc sống riêng của mình bên kia bờ đại dương. Tôi quên dần những kỷ niệm, quên mối tình của tôi với nàng. Tôi không hề biết gì về cuộc đời của Huy. Tôi không hề hay nàng đang chật vật với đứa con bị bỏ rơi, lo vất vả mưu sinh hằng ngày, chỉ im lặng gánh lấy phận mình như bao phụ nữ khác trong thời buổi khốn cùng.

Bằng giọng nghẹn ngào, Điệp tiếp tục câu chuyện về Huy. Nàng đã đi qua nhiều cuộc tình. Không phải vì buông thả, mà vì nàng mệt mỏi, cô độc, và khao khát được nương tựa vào một bờ vai nào đó giữa cuộc đời bấp bênh. Nhưng số phận đã không thương nàng, con vi khuẩn thời đại tìm đến.

Khi gặp lại Huy, tôi bàng hoàng, suýt nữa không nhận ra nàng. Dung nhan dịu dàng năm xưa vẫn còn đó, nhưng như một bông hoa đã bị gió mưa quật ngã tơi bời. Đôi má lúm đồng tiền không còn hiện rõ mỗi khi nàng cười; nụ cười giờ mỏng manh như khói. Làn da nàng nhợt nhạt, ánh mắt sâu hơn, buồn hơn, như chứa cả một biển ký ức lặng lẽ chìm sâu trong đáy mắt nàng. Vóc dáng nàng hao dần như ngọn đèn dầu cạn bấc.

Huy ngồi bên cửa sổ, nhìn ra khoảng trời xám, một tay đặt lên thành cửa, một tay hờ hững trên đùi. Tôi đứng ngoài hiên mà tim thắt lại. Tôi thấy rõ căn bệnh thế kỷ đang gặm nhấm nàng từng ngày, không ồn ào, dữ dội, chỉ âm thầm bào mòn sức sống như dòng nước lặng mài mòn tảng đá.

Mỗi lần ho nhẹ, nàng quay mặt đi, trán hơi nhăn lại vì đau, nhưng trong ánh mắt nàng, vẫn còn sự dịu dàng không mất đi, chỉ lắng sâu lại.

Tôi không dám đến gần hơn. Tôi sợ làm nàng buồn. Tôi sợ chính mình không chịu nổi khi nhìn người tôi từng yêu đang dần tàn úa như chiếc lá cuối thu. Nàng ngước lên nhìn tôi, má lúm đồng tiền vẫn còn đó, và nụ cười vẫn hiền dịu đến xót xa. Tôi đứng lặng rất lâu như tượng đá, thấy rõ thời gian đang âm thầm đem nàng ra đi khỏi thế giới này.

Đêm đó trở về, tôi không ngủ. Tôi nghĩ về Huy, về cô gái tôi từng yêu tha thiết với hai lúm đồng tiền ngày nào, về mối tình câm nín đã trôi xa, về người mẹ lặng lẽ ôm con trong căn nhà cũ, về số phận sao quá nghiệt ngã với nàng.

Tôi ước gì ngày xưa mình đủ can đảm để nói một lời, ước gì mình không nghèo, không yếu đuối, không im lặng, ước gì tôi có thể bảo bọc nàng khỏi tất cả những bão tố ấy. Nếu không có những khúc quanh trong cuộc đời và tôi đừng bỏ đi xa. Hằng ngàn câu hỏi mà không có câu trả lời khiến tôi trăn trở suốt đêm. Giờ chỉ còn niềm đau thương, khắc khoải về người con gái một thời tôi yêu mà cuộc đời đã quá đỗi bạc bẽo.

Tôi trở lại một lần nữa, không dám đối diện nàng, tôi gặp riêng Điệp, tận tay trao nàng một số tiền, dặn dò Điệp cố gắng săn sóc cho Huy trong những ngày còn lại, bắt Điệp phải hứa cho tôi hay về sức khỏe của Huy thường xuyên. Hai anh em ôm nhau, mắt rưng rưng lệ. Tôi về lại Mỹ, tiếp tục cuộc sống của mình, lòng dằn vặt, rối bời một cảm giác không yên.

Hơn một năm sau, tôi nhận thư của Điệp, vỏn vẹn vài giòng ngắn ngủi: “Huy bỏ nhà đi mất rồi. Không ai biết đi đâu. Đêm trước, chị ngồi ở cái bàn giữa nhà, ngọn đèn vàng hắt bóng chị lên tường. Chị ngồi đó bất động thật lâu, lâu hơn mọi ngày. Sáng ra, không thấy chị thức giấc như thường lệ, em vén màn, nhìn vào giường, chăn gối vẫn còn nguyên nếp gấp, không có dấu vết gì là chị đã nằm đây đêm qua”.
 
NGUYỄN VĂN TỚI. 2026
 
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.