Hôm nay,  

Hải Phận Quốc Tế

24/04/202600:00:00(Xem: 1562)
 
Tranh-Ann-Phong
Tranh của Ann Phong
 
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt. Trong ý nghĩ của mọi người, thuộc về quốc tế tức là thuộc về những quy luật của loài người, khách quan, dễ hiểu. Thuộc về những đặc tính phổ biến của vũ trụ, lẽ công bằng của tự nhiên, tức là không bị ai đánh đập vô cớ, không bị ai tra hỏi bất ngờ, thích ăn thì ăn, thích mặc thì mặc, thích nói thì nói, không thích nói thì không nói. Ai cũng được tôn trọng, ai cũng được học hành, ai cũng được mưu cầu hạnh phúc và tình yêu. Tóm lại hải phận quốc tế là một lãnh thổ mới bên ngoài các lãnh thổ, một cõi giới mà con người muốn đạt tới, nhưng khác với thiên đường hay niết bàn, nó hoàn toàn có thật. Nhưng hải phận quốc tế nằm ở đâu, cách bờ biển bao xa thì không ai biết rõ, trừ bác tài công, nghe nói là một sĩ quan hải quân chế độ cũ, một người luôn tỏ ra bận rộn với cái tay lái của mình, với tấm la bàn mà chính tôi mua trước khi xuống tàu, lúc nào cũng ngước nhìn sao trời, chẳng rảnh hơi đâu mà giải thích những khái niệm sơ đẳng ấy cho bà con. Theo sách vở, từ đất liền có vùng nội thủy với lãnh hải 12 hải lý, kế đó là vùng tiếp giáp lãnh hải, thêm 12 hải lý, rồi thềm lục địa, tức vùng đặc quyền, 200 hải lý tính từ bờ, rồi thềm lục địa mở rộng. Như vậy hải phận quốc tế bắt đầu ngoài khơi cách bờ khoảng 200 hải lý. Tôi cứ tưởng rằng ở biên giới của hải phận quốc tế ấy tất phải có những cái mốc đánh dấu, sặc sỡ như những quả bong bóng lớn có màu xanh đỏ trắng vàng mà tôi thấy trong các cuộc đua ghe. Hay những cái cột có cắm cờ bay phấp phới hay một thứ gì tương tự. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ: chúng ta tin rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, tin rằng đấng tạo hóa trao cho họ những quyền ấy, những quyền không thể bị từ chối, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc. Biển xanh sóng vỗ dìu dặt. Văn minh của nhân loại cũng tựa như một lớp sương mỏng trên mặt nước, bên dưới là đáy biển sâu thăm thẳm của những tham vọng điên cuồng. Nhưng giờ đây nhịp điệu của cơ thể tôi hòa làm một với nhịp điệu của biển, nhịp điệu của cơ thể làm tôi hiểu biết. Tâm trí tôi sáng bừng. Tôi hồi sinh. Tôi nghẹt thở vì hạnh phúc. Hạnh phúc có màu gì? Trong lúc đăm đăm nhìn xuống mặt vịnh mơ màng, lam ngọc, tôi chẳng hề thấy một cột mốc nào trên mặt biển cả. Nhân loại không rảnh rang đến nỗi đi cắm cột mốc phân định biên cương dành cho người vượt biển, hễ ra thoát rồi thì tha hồ mà khoa chân múa tay. Không có một nhân loại nào đứng ở các biên cương cả. Không có một nhân loại nào chờ ta ở cuối con đường đau khổ. Thế mà trưa chiều hôm ấy, khi nghe người tài công tuyên bố thuyền của chúng tôi đã ra đến hải phận quốc tế, mọi người đều sung sướng hò reo, bọn thanh niên leo cả lên sàn thuyền, mắt mở to nhìn về phía trước như thể từ trên vùng biển quốc tế ấy đang có một cái gì to lớn chờ đợi họ, như một tòa lâu đài đầy ánh sáng hay một cái phòng họp vĩ đại hình cánh cung trong các cuộc họp của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trang nghiêm, mĩ lệ, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy trên mặt báo. Tôi quay lại, nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi, một nhạc sĩ chơi vĩ cầm nói giọng Hà Nội, tóc bạc, râu bạc, đang lặng lẽ khóc. Đó là những giọt nước mắt vui sướng đầu tiên.
 
Khi một dân tộc sung sướng, người ta làm gì?
Ôm lấy nhau. Khóc.
Người ta làm gì nữa?
Tha thứ. Tha thứ hết.
 
Bầu trời mây trắng bay qua từng đám mỏng như tơ, thật nhanh, như dấu hiệu tốt lành, gây ra trong tâm trí tôi tiếng động vang vang trong trời đất, không phải mưa, không phải gió. Tiếng di động của những đám mây trên mặt nước. Người chủ thuyền cầm trong tay một nắm lá, sắc xanh biếc như trắc bách diệp, phát cho mỗi người một lá, bảo là lá may mắn. Mọi người cầu nguyện. Nhiều người leo lên sàn thuyền, tôi lắng nghe tiếng thì thào, tiếng nức nở, tiếng kêu, ngay cả những đứa trẻ cũng thôi khóc, con thuyền nhỏ bé nêm chặt một trăm mấy mươi người vang lừng một thứ âm nhạc không lời của nỗi hân hoan cùng cực. Vào lúc ấy tôi nhận ra rằng tiếng động tưởng tượng của đám mây thực ra là từ đàn chim thiên di bay qua thấp thoáng trong mây. Loài chim lớn, tiếng kêu khàn đục của bầy ngỗng trời phương Bắc bay qua mặt vịnh Thái Lan khi gió đổi mùa. Đường bay thay đổi đột ngột không ai biết trước. Lắng nghe tiếng kêu của chúng như an ủi như vỗ về, làm lòng tôi bình tĩnh lại. Tôi quỳ xuống trên sàn thuyền, hai chân bám chặt mặt gỗ nhám, để tránh rung lắc, điềm tĩnh, vững vàng, im lặng lắng nghe. Liên Hương quỳ xuống bên cạnh tôi. Chúng tôi tựa vào nhau. Đối với tôi, tiếng của bầy chim thiên di tựa như những huyền thoại được kể lại từ cõi nào xa vắng, như âm thanh mở cõi về phương Nam của các tiền nhân, như sự nén lại của thời gian, trước khi bùng vỡ, như sự mềm mại của nước trước khi cuồn cuộn chảy đi. Trước, tôi chưa bao giờ để ý tới điều ấy, thỉnh thoảng có nghe tiếng vạc ăn sương, nhìn thấy một bầy sếu bay qua sông, nhưng chưa bao giờ lắng nghe chúng một cách chăm chú và rõ ràng như vậy, một phần chúng bay vào đêm tối hoặc lẫn vào sương mù. Liên Hương đưa tay chỉ cho tôi thấy, trên mặt nước có sự thay đổi kỳ lạ, tựa như một lớp sương mỏng dâng lên tuy mờ mờ nhưng vẫn cho phép người ta nhìn thấy những vật ở xa, nhờ mặt trời chiếu sáng. Gió thổi mạnh làm cho lớp nước thỉnh thoảng trôi dạt đi, rẽ những đường trong suốt như đường kỷ hà học, đẹp lạ lùng.
Gần nửa ngày sau khi vượt qua ranh giới của hải phận quốc tế, một ranh giới tưởng tượng, khi mặt trời đỏ ối đã chìm xuống nước, mặt biển tối lại rất nhanh, gió trở lạnh, khi Liên Hương và mọi người đã chui trở lại lòng thuyền, khi chỉ còn tôi và vài người thanh niên khác ngồi lại trên sàn, một tiếng động lớn làm rung chuyển con thuyền. Tiếng động rất lớn, rất gần, phía đuôi, gần bánh lái và máy thuyền. Tiếng mìn nổ. Mùi khét rẹt trong không gian, bay khắp mặt nước. Mùi lưu huỳnh. Mùi thuốc nổ TNT, một người nói. Tất cả lao xuống sàn thuyền, không phải lao xuống mà bị một sức mạnh hất xuống, làm tê liệt. Chết máy. Bánh lái thuyền vỡ nát. Con thuyền dừng lại, xoay vòng vòng. Tôi bàng hoàng, sợ hãi, một nửa người cứng lại, tôi đưa tay sờ mặt, sờ ngực, cảm thấy ướt, đưa tay lên mũi ngửi, không phải mùi máu, chỉ là nước biển mặn hắt lên cao, tôi biết mình không bị thương, không chảy máu. Mùi thuốc nổ cháy khét bay đặc không gian, mùi kim loại làm tôi ngạt thở. Có tiếng la khóc từ dưới lòng ghe vọng lên, sau đó là im lặng. Tiếng máy của một chiếc thuyền khác, lớn, nổ ngay bên tai tôi, nó xình xịch chạy đi, mỗi lúc một xa. Người tài công lồm cồm bò dậy, báo tin thuyền không chạy được nữa. Người chủ thuyền, tài công, thợ máy xúm xít ở đuôi xem xét các mảnh vỡ, bánh lái thuyền đã bị gãy, máy hư hại vì một quả mìn có sức công phá lớn nổ ngay bánh lái, loại mìn tựa như thủy lôi được ném xuống từ một chiếc tàu khác. Nước tràn vào từ một lỗ thủng. Mọi người im lặng đưa mắt nhìn nhau, trong tâm trí vang lên hai chữ. Cướp biển. Hai chữ ấy vang rền trên mặt nước, như một loài thú dữ của biển, như nỗi sợ hãi truyền đời của người dân chài. Chúng đến, tiếp cận sát thuyền của chúng tôi, nhận ra cái máy thuyền có công sức mạnh đẩy thuyền đi nhanh, nên chúng quyết định đánh mìn làm hỏng máy, sau đó bỏ đi. Tôi nghe nói rằng ngày trước bọn cướp biển không cẩn thận thế, ngay khi vừa nhìn thấy thuyền tị nạn chúng liền xông lại, bất kể ngày đêm, ào ạt nhảy lên thuyền, nhưng sau này, do dư luận quốc tế và trong một số thuyền, người tị nạn phản ứng chống trả quyết liệt, chúng trở nên cẩn thận hơn, bao giờ cũng tìm cách phá máy thuyền trước khi cướp. Thời đó, sau những dư luận xúc động trên thế giới, nhờ những cố gắng không mệt mỏi của nhiều người, các tòa án xét xử bọn cướp biển bắt đầu được mở ra ở Bangkok và một số thành phố khác. Bọn cướp trở nên khôn ngoan hơn, chúng chỉ hành động vào đêm tối và hung dữ hơn, chúng giết người bịt miệng, bắt phụ nữ đem đi chứ không thả ra như trước đây.
Kẻ nọ chờ người kia, không ai lên tiếng trước. Tôi thấy trống rỗng, ngơ ngác, quên mất bầy ngỗng trời, quên mất thông điệp của chúng, khi mùi thuốc lưu huỳnh đã tan bớt, tôi cố hít lấy khí trời như thể chẳng bao lâu nữa sẽ không còn được hít thở nó. Tôi tìm Liên Hương. Nàng ôm lấy tôi trong bóng tối. Chẳng bao lâu nữa đời sống như chúng tôi được biết sẽ chấm dứt, làn nước trong xanh kia, đám sương mù lãng đãng mà gió thổi xẻ đôi chúng ra như dải lụa, tất cả những điều ấy sẽ không còn nữa và tôi không còn nữa. Và người thiếu nữ bên cạnh không còn nữa, và mùi hôi thối của thùng cầu tiêu đặt ở mũi tàu bên cạnh tôi không còn, và mùi hương dạ lý của mái tóc kia không còn. Cùng với chúng, sẽ không còn ngày về, sân trường đại học, cơn mưa ngắn trước nhà thờ Ba Chuông khi tôi đến đón nàng, ngõ hẻm, ngôi nhà cuối ngõ, hàng cây trứng cá rợp bóng mát chúng tôi đạp xe thong thả từ rạp chiếu bóng về. Tôi nghe thời gian đứng lại, trí óc bùng nhùng, mơ hồ tiếng nức nở của một người đàn bà, tiếng khóc của một đứa trẻ, trong khi người thợ máy và người tài công loay hoay tìm cách sửa tàu, mỗi lúc một tỏ ra tuyệt vọng, sau khi sự im lặng đáng sợ phủ trùm lên mọi người, sự sợ hãi mới bắt đầu từ từ xâm chiếm tôi. Nước. Tôi và những thanh niên khác thay nhau bịt lỗ hổng nước tràn vào, cởi áo sơ mi ra làm giẻ nhét vào lỗ hổng, không còn nghĩ về mình nữa, không còn nghĩ đến sự sống chết của mình nữa, tôi cảm thấy căm ghét mặt biển, tôi sợ nước, như một người không biết bơi dù tôi bơi cũng khá. Tối tăm, hoảng loạn, đất trời mịt mù chao đảo. Tôi sợ hãi cho một người khác. Biển trở thành nỗi kinh hoàng. Biển há miệng khổng lồ nuốt tất cả vào như cơn sóng thần từ xa lừng lững tới. Hãm vào cảnh tối tăm, tiến không xong, lui không được, con thuyền chết máy xoay vòng như vận mệnh một toán quân thất trận. Khóc khóe mắt ra máu đầm đìa. Liên Hương cầm chặt tay tôi. Tay nàng run lên trong bóng tối. Điều mà tôi nghĩ đó là sự sợ hãi của nàng, bây giờ tôi biết rằng không phải. Bây giờ tôi biết rằng tình yêu lớn hơn, tình yêu lớn như một ảo tưởng, nhưng không phải ảo tưởng, nó có thật trên đời. Bây giờ thì mọi người biết chắc bọn cướp sẽ quay lại, bao giờ không ai biết, có thể ngay bây giờ, đêm nay, có thể ngày mai, hay tối mai. Không phải cái chết mà sự chờ đợi cái chết, làm mọi người run lên, bất lực, bất động, và sau một lúc hoàn toàn hoảng loạn, tan tác, mỗi người văng đi một mảnh, vào một góc, như một gia đình sau khi đứa con út tự vẫn. Sự chờ đợi là không giới hạn. Chúng kéo dài ra như một không gian được làm bằng vật liệu co giãn, khi nén lại, khi căng ra, sự tra tấn tinh thần của cánh cửa nước.
 
Nguyễn Đức Tùng
(trong Thuyền)
 

Từ những ngày đầu tiên khi bắt đầu có bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ, đầu tháng 3, Nic Brown, 38 tuổi, một chuyên viên IT ở vùng ngoại ô Tuscarawas County, tiểu bang Ohio, đang khỏe mạnh, bỗng dưng thấy khó thở, và sốt cao. Anh tự lái xe đến một urgent care clinic ở gần nhà. Tại đây, Nic được điều trị với phương pháp dành cho một bệnh nhân có tiền sử bệnh suyễn, và thỉnh thoảng tim "đập lỗi nhịp" không bình thường. Chỉ trong vài phút, tình trạng xấu đi, Nic bất tỉnh. Anh được xe cấp cứu đưa đến Cleveland Clinic Union Hospital ở Dover, Ohio. Ở bệnh viện, anh được xác định là đã bị nhiễm Coronavirus.
Sáng nay như những buổi sáng khác, cô gái theo thói quen đi dạo dọc bờ biển, vừa để hít thở không khí trong lành của buổi sớm mai, vừa để tập thể dục. Trên bãi biển lác đác vài người chạy bộ, hoặc đi xe đạp. Quang cảnh bình yên, gió thổi nhè nhẹ, từng con sóng bạc đầu xô vào bờ êm đềm như hát rồi nhẹ nhàng xoá đi những vết chân in hằn trên cát trả về cho cát sự phẳng lì và mịn màng vốn có. Nơi xa xa mặt trời đỏ rực đang nhô lên từ dưới biển, mặt biển và bầu trời được nhuộm một màu đỏ cam đẹp đẽ xen kẽ những đám mây và sắc xanh của nền trời buổi sớm mai tạo thành một bức tranh vô cùng hoàn mỹ. Cô gái bỗng dừng chân, tầm mắt nhìn về hướng cách cô không xa, một người đàn ông cao lớn đang nắm tay một bé gái nhỏ xinh đi ngược về phía cô, bé gái kéo cha đuổi theo con sóng rồi vội vã chạy lên bờ như sợ sóng đuổi kịp, cả hai đều cười đùa vui vẻ. Nhìn cảnh thân thương ấy tự nhiên con bất chợt muốn khóc, có thứ gì dâng nghẹn trong cổ. Có một nỗi nhớ như máu thịt trong con,
Hồi tôi đi lính, sau 9 tuần làm tân binh ở trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi được chuyển lên Đà Lạt. Đà Lạt với tôi chỉ là trong mơ, trong mộng, trong trí tưởng. Tôi không nhớ những năm tháng ấy (1968), tân nhạc Việt Nam đã có những bản nhạc ca tụng Đà Lạt chưa? Như "Ai Lên Xứ Hoa Đào, Đà Lạt Hoàng Hôn, Thương Về Miền Đất Lạnh?"
Chiến tranh qua rồi, nạn phá rừng vẫn tồn tại. Một người bạn tôi được giao một đại đội đào binh làm nhiệm vụ vỡ hoang hai cánh rừng gỗ tếch để trồng sắn. Thu hoạch xong vụ đầu tiên, anh toát mồ hôi: công lao của bấy nhiêu con người cả năm trời chỉ đủ mua ba cây tếch, nhiều nhất là ba cây rưỡi. Tôi hỏi anh đã báo cáo lên cấp trên cách anh tính toán chưa, anh nói anh không dám. Người ta đã báo cáo thành tích khai hoang rồi, nói thế có mà chết. Những cái đầu đất phá rừng để lấy thành tích khai hoang chưa kịp chết thì lũ con buôn đã thế chỗ. Chúng nhân danh phát triển kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu gỗ, đốn bất cứ cây nào bán được.
Hồng Linh đã về tới quê hương trong chuyến đi hoàn toàn bất ngờ. Một chương trình trao đổi kỹ thuật đặc biệt về tin học với các nước Châu Á, khi cô đang ở trong lãnh vực này. Chặng đầu tiên sẽ dừng ở miền Bắc, Việt Nam trong hai tuần lễ. Hai tuần lễ ở Hà Nội, ngoài những buổi hội thảo, Linh lang thang tìm thăm những địa danh mà mẹ cô thường nhắc. Hà Nội là nơi mẹ cô chào đời, nhưng khi mẹ mới mười tuổi thì ông bà ngoại đã phải dắt mẹ, cùng các cậu, các dì của cô vào miền Nam để lánh nạn Cộng Sản. Mới mười tuổi thôi, nhưng mẹ cô đã nhớ nhung, đã ôm ấp, đã cưu mang gìn giữ biết bao nhiêu là hình ảnh, là kỷ niệm thân thương về quê ngoại, với làng Đồng Du thuộc tỉnh Hà Nam và quê nội, với thôn Phương Viên, huyện Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Đông.
Vừa ngồi được phút chốc thì thấy một thiếu phụ lên xe, nhìn cái bụng lum lum có bầu biết là chị ta khó nhọc lắm. Nó uể oải đứng dậy nhường chỗ cho chị ta, mặc dù nó đã đứng suốt ngày trong xưởng, hai chân mỏi muốn rũ ra. Xe buýt đầy nhóc, mọi người chen chân đứng như thế mà chị còn mang cái bầu nữa thì mệt phải biết. Nghĩ mình nhường ghế cho chị cũng là một hành vi đẹp nên dù có mệt nó vẫn thấy vui vui và thoải mái trong lòng.
Không ai (kể cả các nhà khoa học, các giáo sư Bác sĩ giỏi) có thể tiên đoán chính xác khi nào đại dịch chấm dứt? Bao giờ thì có thuốc chủng ngừa? Cũng chẳng dám kỳ vọng mọi thứ sẽ quay về như cũ, trước khi có đại dịch. Nhưng hy vọng những điều căn bản tồn tại nhiều trăm năm như bắt tay nhau, như vỗ vai nhau... sẽ trở lại sau đại dịch như "sau cơn mưa trời lại sáng". Hơn lúc nào hết, người ta cần có hy vọng để sống, để thêm nghị lực cùng nhau vượt qua đại dịch, và phân cách.
Rừng núi xanh mướt, không khí trong lành và hơi se se lạnh thấm vào từng chân lông kẽ tóc, len lỏi vào từng tế bào. Cái cảm giác khoan khoái thật dễ chịu, làm cho hai huynh đệ thọ nhận được sự bình an trong phút giây hiện tại. Cây cỏ xung quanh như tỏa ra một năng lượng tươi mát tràn đầy sức sống. Bất chợt sư huynh hỏi khẽ: - Dường như có đôi mắt nào đó đang theo dõi chúng ta? Cả hai dừng bước, nhìn quanh một tí thì phát hiện ra đằng sau bụi rậm có mẹ con nhà nai đang tròn xoe mắt nhìn, tai vểnh bắt sóng động của âm thanh, chúng có thể nghe được những âm thanh nhỏ nhất mà tai người không nghe được. Mẹ con nhà nai đang cảnh giác cao độ, toàn thân mượt mà vàng sậm điểm xuyết những đốm hoa màu trắng.
Chiều nay khi những giọt nắng đang lao xao ngoài song cửa, những tán cây thầm thì trong gió chuyện nhân gian, anh bỗng nhẹ nhàng nhớ đến em, người con gái "vội cất bước quên dấu yêu ngọt ngào" ngày ấy. Anh trầm mình trong ký ức về “từng góc phố bâng khuâng dịu êm”. Anh tình cờ biết được một bản tình ca mà tác giả của nó cảm giác rằng nó bị thất lạc khá lâu rồi như chuyện chúng mình vậy đó em: "Lời hát ấy hôm nao miên man, ru em một thời Từng ánh mắt bao dung đam mê, cho em ngọt bùi"
Sau công phu sáng, bước ra nhà bếp xé tờ lịch thì hiện ra hôm nay là ngày 6 tháng 6 năm 2020. Ngày 6 tháng 6, bỗng như que diêm nào bất ngờ bật lên trong ký ức tôi đã từ lâu lắng xuống. Tại sao hôm nay lại bật lên? Biết rằng băn khoăn cũng chẳng có câu trả lời, như mưa mới rạt rào đây mà giờ nắng đã lên rực rỡ. Muôn sự còn muôn thẳm sâu mà sự phán đoán ước lệ của suy tưởng vật lý chưa chạm tới được sự mầu nhiệm của tâm linh. Đủ duyên thì lộ, chưa đủ duyên thì ẩn. Chấp nhận vậy thôi. Ngày 6 tháng 6 năm 1944. Ngày có tên lịch sử là D-Day.
Sau hơn một tháng, các chuyên viên Public Health làm việc không ngưng nghỉ, CDC công bố 60 trang guidelines hướng dẫn chi tiết cho "đời sống cùng với COVID-19" ở các trường học, các trung tâm giữ trẻ, các nhà hàng, và các cơ sở thương mại từ lớn đến nhỏ.... Mới nhìn thoáng qua thì dễ bị...."ngộp" vì quá nhiều yêu cầu, nhưng chi tiết không có nghĩa là không thể thực hiện. Cho đến lúc nào có vaccine chủng ngừa, không còn lựa chọn nào khác. Lâu dần đời cũng quen. Một cách lạc quan, khả năng thích ứng với lối sống mới của mỗi người, thêm một lần nữa, được thử thách.
Một buổi chiều im vắng bên dòng sông Cái Lớn. Theo hướng gió mơn man trên rừng dừa nước, Tím đẩy mái chèo một cách khoan thai, nhẹ nhàng. Chiếc xuồng nhỏ rẻ nước, lặng lờ trôi ngang đồn Nghĩa Quân. Tiếng đàn và tiếng hát nghe văng vẳng xa xa. Khi xuồng đến gần, Tím thấy một người lính đang ôm “cây đàn số 8” – do trẻ em trong làng đặt tên; vì không đứa nào biết cây đàn này tên là Guitar mà chỉ thấy thùng đàn giống như số 8 – ngồi trên hầm chống pháo kích.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.