Hôm nay,  

Hải Phận Quốc Tế

24/04/202600:00:00(Xem: 1549)
 
Tranh-Ann-Phong
Tranh của Ann Phong
 
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt. Trong ý nghĩ của mọi người, thuộc về quốc tế tức là thuộc về những quy luật của loài người, khách quan, dễ hiểu. Thuộc về những đặc tính phổ biến của vũ trụ, lẽ công bằng của tự nhiên, tức là không bị ai đánh đập vô cớ, không bị ai tra hỏi bất ngờ, thích ăn thì ăn, thích mặc thì mặc, thích nói thì nói, không thích nói thì không nói. Ai cũng được tôn trọng, ai cũng được học hành, ai cũng được mưu cầu hạnh phúc và tình yêu. Tóm lại hải phận quốc tế là một lãnh thổ mới bên ngoài các lãnh thổ, một cõi giới mà con người muốn đạt tới, nhưng khác với thiên đường hay niết bàn, nó hoàn toàn có thật. Nhưng hải phận quốc tế nằm ở đâu, cách bờ biển bao xa thì không ai biết rõ, trừ bác tài công, nghe nói là một sĩ quan hải quân chế độ cũ, một người luôn tỏ ra bận rộn với cái tay lái của mình, với tấm la bàn mà chính tôi mua trước khi xuống tàu, lúc nào cũng ngước nhìn sao trời, chẳng rảnh hơi đâu mà giải thích những khái niệm sơ đẳng ấy cho bà con. Theo sách vở, từ đất liền có vùng nội thủy với lãnh hải 12 hải lý, kế đó là vùng tiếp giáp lãnh hải, thêm 12 hải lý, rồi thềm lục địa, tức vùng đặc quyền, 200 hải lý tính từ bờ, rồi thềm lục địa mở rộng. Như vậy hải phận quốc tế bắt đầu ngoài khơi cách bờ khoảng 200 hải lý. Tôi cứ tưởng rằng ở biên giới của hải phận quốc tế ấy tất phải có những cái mốc đánh dấu, sặc sỡ như những quả bong bóng lớn có màu xanh đỏ trắng vàng mà tôi thấy trong các cuộc đua ghe. Hay những cái cột có cắm cờ bay phấp phới hay một thứ gì tương tự. Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ: chúng ta tin rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, tin rằng đấng tạo hóa trao cho họ những quyền ấy, những quyền không thể bị từ chối, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền theo đuổi hạnh phúc. Biển xanh sóng vỗ dìu dặt. Văn minh của nhân loại cũng tựa như một lớp sương mỏng trên mặt nước, bên dưới là đáy biển sâu thăm thẳm của những tham vọng điên cuồng. Nhưng giờ đây nhịp điệu của cơ thể tôi hòa làm một với nhịp điệu của biển, nhịp điệu của cơ thể làm tôi hiểu biết. Tâm trí tôi sáng bừng. Tôi hồi sinh. Tôi nghẹt thở vì hạnh phúc. Hạnh phúc có màu gì? Trong lúc đăm đăm nhìn xuống mặt vịnh mơ màng, lam ngọc, tôi chẳng hề thấy một cột mốc nào trên mặt biển cả. Nhân loại không rảnh rang đến nỗi đi cắm cột mốc phân định biên cương dành cho người vượt biển, hễ ra thoát rồi thì tha hồ mà khoa chân múa tay. Không có một nhân loại nào đứng ở các biên cương cả. Không có một nhân loại nào chờ ta ở cuối con đường đau khổ. Thế mà trưa chiều hôm ấy, khi nghe người tài công tuyên bố thuyền của chúng tôi đã ra đến hải phận quốc tế, mọi người đều sung sướng hò reo, bọn thanh niên leo cả lên sàn thuyền, mắt mở to nhìn về phía trước như thể từ trên vùng biển quốc tế ấy đang có một cái gì to lớn chờ đợi họ, như một tòa lâu đài đầy ánh sáng hay một cái phòng họp vĩ đại hình cánh cung trong các cuộc họp của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trang nghiêm, mĩ lệ, thỉnh thoảng tôi vẫn thấy trên mặt báo. Tôi quay lại, nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi, một nhạc sĩ chơi vĩ cầm nói giọng Hà Nội, tóc bạc, râu bạc, đang lặng lẽ khóc. Đó là những giọt nước mắt vui sướng đầu tiên.
 
Khi một dân tộc sung sướng, người ta làm gì?
Ôm lấy nhau. Khóc.
Người ta làm gì nữa?
Tha thứ. Tha thứ hết.
 
Bầu trời mây trắng bay qua từng đám mỏng như tơ, thật nhanh, như dấu hiệu tốt lành, gây ra trong tâm trí tôi tiếng động vang vang trong trời đất, không phải mưa, không phải gió. Tiếng di động của những đám mây trên mặt nước. Người chủ thuyền cầm trong tay một nắm lá, sắc xanh biếc như trắc bách diệp, phát cho mỗi người một lá, bảo là lá may mắn. Mọi người cầu nguyện. Nhiều người leo lên sàn thuyền, tôi lắng nghe tiếng thì thào, tiếng nức nở, tiếng kêu, ngay cả những đứa trẻ cũng thôi khóc, con thuyền nhỏ bé nêm chặt một trăm mấy mươi người vang lừng một thứ âm nhạc không lời của nỗi hân hoan cùng cực. Vào lúc ấy tôi nhận ra rằng tiếng động tưởng tượng của đám mây thực ra là từ đàn chim thiên di bay qua thấp thoáng trong mây. Loài chim lớn, tiếng kêu khàn đục của bầy ngỗng trời phương Bắc bay qua mặt vịnh Thái Lan khi gió đổi mùa. Đường bay thay đổi đột ngột không ai biết trước. Lắng nghe tiếng kêu của chúng như an ủi như vỗ về, làm lòng tôi bình tĩnh lại. Tôi quỳ xuống trên sàn thuyền, hai chân bám chặt mặt gỗ nhám, để tránh rung lắc, điềm tĩnh, vững vàng, im lặng lắng nghe. Liên Hương quỳ xuống bên cạnh tôi. Chúng tôi tựa vào nhau. Đối với tôi, tiếng của bầy chim thiên di tựa như những huyền thoại được kể lại từ cõi nào xa vắng, như âm thanh mở cõi về phương Nam của các tiền nhân, như sự nén lại của thời gian, trước khi bùng vỡ, như sự mềm mại của nước trước khi cuồn cuộn chảy đi. Trước, tôi chưa bao giờ để ý tới điều ấy, thỉnh thoảng có nghe tiếng vạc ăn sương, nhìn thấy một bầy sếu bay qua sông, nhưng chưa bao giờ lắng nghe chúng một cách chăm chú và rõ ràng như vậy, một phần chúng bay vào đêm tối hoặc lẫn vào sương mù. Liên Hương đưa tay chỉ cho tôi thấy, trên mặt nước có sự thay đổi kỳ lạ, tựa như một lớp sương mỏng dâng lên tuy mờ mờ nhưng vẫn cho phép người ta nhìn thấy những vật ở xa, nhờ mặt trời chiếu sáng. Gió thổi mạnh làm cho lớp nước thỉnh thoảng trôi dạt đi, rẽ những đường trong suốt như đường kỷ hà học, đẹp lạ lùng.
Gần nửa ngày sau khi vượt qua ranh giới của hải phận quốc tế, một ranh giới tưởng tượng, khi mặt trời đỏ ối đã chìm xuống nước, mặt biển tối lại rất nhanh, gió trở lạnh, khi Liên Hương và mọi người đã chui trở lại lòng thuyền, khi chỉ còn tôi và vài người thanh niên khác ngồi lại trên sàn, một tiếng động lớn làm rung chuyển con thuyền. Tiếng động rất lớn, rất gần, phía đuôi, gần bánh lái và máy thuyền. Tiếng mìn nổ. Mùi khét rẹt trong không gian, bay khắp mặt nước. Mùi lưu huỳnh. Mùi thuốc nổ TNT, một người nói. Tất cả lao xuống sàn thuyền, không phải lao xuống mà bị một sức mạnh hất xuống, làm tê liệt. Chết máy. Bánh lái thuyền vỡ nát. Con thuyền dừng lại, xoay vòng vòng. Tôi bàng hoàng, sợ hãi, một nửa người cứng lại, tôi đưa tay sờ mặt, sờ ngực, cảm thấy ướt, đưa tay lên mũi ngửi, không phải mùi máu, chỉ là nước biển mặn hắt lên cao, tôi biết mình không bị thương, không chảy máu. Mùi thuốc nổ cháy khét bay đặc không gian, mùi kim loại làm tôi ngạt thở. Có tiếng la khóc từ dưới lòng ghe vọng lên, sau đó là im lặng. Tiếng máy của một chiếc thuyền khác, lớn, nổ ngay bên tai tôi, nó xình xịch chạy đi, mỗi lúc một xa. Người tài công lồm cồm bò dậy, báo tin thuyền không chạy được nữa. Người chủ thuyền, tài công, thợ máy xúm xít ở đuôi xem xét các mảnh vỡ, bánh lái thuyền đã bị gãy, máy hư hại vì một quả mìn có sức công phá lớn nổ ngay bánh lái, loại mìn tựa như thủy lôi được ném xuống từ một chiếc tàu khác. Nước tràn vào từ một lỗ thủng. Mọi người im lặng đưa mắt nhìn nhau, trong tâm trí vang lên hai chữ. Cướp biển. Hai chữ ấy vang rền trên mặt nước, như một loài thú dữ của biển, như nỗi sợ hãi truyền đời của người dân chài. Chúng đến, tiếp cận sát thuyền của chúng tôi, nhận ra cái máy thuyền có công sức mạnh đẩy thuyền đi nhanh, nên chúng quyết định đánh mìn làm hỏng máy, sau đó bỏ đi. Tôi nghe nói rằng ngày trước bọn cướp biển không cẩn thận thế, ngay khi vừa nhìn thấy thuyền tị nạn chúng liền xông lại, bất kể ngày đêm, ào ạt nhảy lên thuyền, nhưng sau này, do dư luận quốc tế và trong một số thuyền, người tị nạn phản ứng chống trả quyết liệt, chúng trở nên cẩn thận hơn, bao giờ cũng tìm cách phá máy thuyền trước khi cướp. Thời đó, sau những dư luận xúc động trên thế giới, nhờ những cố gắng không mệt mỏi của nhiều người, các tòa án xét xử bọn cướp biển bắt đầu được mở ra ở Bangkok và một số thành phố khác. Bọn cướp trở nên khôn ngoan hơn, chúng chỉ hành động vào đêm tối và hung dữ hơn, chúng giết người bịt miệng, bắt phụ nữ đem đi chứ không thả ra như trước đây.
Kẻ nọ chờ người kia, không ai lên tiếng trước. Tôi thấy trống rỗng, ngơ ngác, quên mất bầy ngỗng trời, quên mất thông điệp của chúng, khi mùi thuốc lưu huỳnh đã tan bớt, tôi cố hít lấy khí trời như thể chẳng bao lâu nữa sẽ không còn được hít thở nó. Tôi tìm Liên Hương. Nàng ôm lấy tôi trong bóng tối. Chẳng bao lâu nữa đời sống như chúng tôi được biết sẽ chấm dứt, làn nước trong xanh kia, đám sương mù lãng đãng mà gió thổi xẻ đôi chúng ra như dải lụa, tất cả những điều ấy sẽ không còn nữa và tôi không còn nữa. Và người thiếu nữ bên cạnh không còn nữa, và mùi hôi thối của thùng cầu tiêu đặt ở mũi tàu bên cạnh tôi không còn, và mùi hương dạ lý của mái tóc kia không còn. Cùng với chúng, sẽ không còn ngày về, sân trường đại học, cơn mưa ngắn trước nhà thờ Ba Chuông khi tôi đến đón nàng, ngõ hẻm, ngôi nhà cuối ngõ, hàng cây trứng cá rợp bóng mát chúng tôi đạp xe thong thả từ rạp chiếu bóng về. Tôi nghe thời gian đứng lại, trí óc bùng nhùng, mơ hồ tiếng nức nở của một người đàn bà, tiếng khóc của một đứa trẻ, trong khi người thợ máy và người tài công loay hoay tìm cách sửa tàu, mỗi lúc một tỏ ra tuyệt vọng, sau khi sự im lặng đáng sợ phủ trùm lên mọi người, sự sợ hãi mới bắt đầu từ từ xâm chiếm tôi. Nước. Tôi và những thanh niên khác thay nhau bịt lỗ hổng nước tràn vào, cởi áo sơ mi ra làm giẻ nhét vào lỗ hổng, không còn nghĩ về mình nữa, không còn nghĩ đến sự sống chết của mình nữa, tôi cảm thấy căm ghét mặt biển, tôi sợ nước, như một người không biết bơi dù tôi bơi cũng khá. Tối tăm, hoảng loạn, đất trời mịt mù chao đảo. Tôi sợ hãi cho một người khác. Biển trở thành nỗi kinh hoàng. Biển há miệng khổng lồ nuốt tất cả vào như cơn sóng thần từ xa lừng lững tới. Hãm vào cảnh tối tăm, tiến không xong, lui không được, con thuyền chết máy xoay vòng như vận mệnh một toán quân thất trận. Khóc khóe mắt ra máu đầm đìa. Liên Hương cầm chặt tay tôi. Tay nàng run lên trong bóng tối. Điều mà tôi nghĩ đó là sự sợ hãi của nàng, bây giờ tôi biết rằng không phải. Bây giờ tôi biết rằng tình yêu lớn hơn, tình yêu lớn như một ảo tưởng, nhưng không phải ảo tưởng, nó có thật trên đời. Bây giờ thì mọi người biết chắc bọn cướp sẽ quay lại, bao giờ không ai biết, có thể ngay bây giờ, đêm nay, có thể ngày mai, hay tối mai. Không phải cái chết mà sự chờ đợi cái chết, làm mọi người run lên, bất lực, bất động, và sau một lúc hoàn toàn hoảng loạn, tan tác, mỗi người văng đi một mảnh, vào một góc, như một gia đình sau khi đứa con út tự vẫn. Sự chờ đợi là không giới hạn. Chúng kéo dài ra như một không gian được làm bằng vật liệu co giãn, khi nén lại, khi căng ra, sự tra tấn tinh thần của cánh cửa nước.
 
Nguyễn Đức Tùng
(trong Thuyền)
 

Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum . Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn. Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng… Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm: - Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…
Một y tá trong Phòng Chăm Sóc Đặt Biệt (ICU) làm việc tại Bệnh Viện của Đại Học Chicago nói với CNN rằng cô sợ hãi khi nghĩ đến một tuần nữa không biết ICU sẽ ra sao, khi nghe người đứng đầu Cơ Quan Phục Vụ Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ nói rằng Chicago là một trong những điểm nóng đại dịch corona đang bùng lên tại Hoa Kỳ. “Số bệnh nhân Covid mà chúng tôi nhận gia tăng nhanh mỗi ngày và tất cả chúng tôi đều lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi nó ngày càng tồi tệ hơn,” theo cô y tá không muốn nêu danh này cho biết. Và cô ấy không phải là người duy nhất lo sợ, theo cô. “Khi tôi làm việc trong đơn vị Covid, một số y tá đã không muốn ăn hay uống cả 12 giờ đồng hồ bởi vì họ sợ phải tháo ra và mặc vào dụng cụ bảo vệ cá nhân PPE,” cô đã kể lại như thế. Cô thuật lại rằng rất là khó chịu để nhìn thấy sự tổn thất mà vi khuẩn corona gây ra cho những gia đình không thể thăm người thân đang nằm trong bệnh viện. “Thật là đau lòng cho những gia đình của các bệnh nhân này phải nằm ở nhà trong lúc người thân của họ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.