Hôm nay,  

Hoa Sứ Trắng

08/05/202600:00:00(Xem: 1065)

thanh-mai-1

Vũ Thị Thanh Mai, ảnh Trần Vũ chụp 2015 

 
LTS: “Hoa Sứ Trắng” của Vũ Thị Thanh Mai mở ra từ một khu vườn nhỏ, dẫn người đọc đi qua những tầng ký ức, những vỡ lẽ âm thầm của một đời người. Ở đó có bóng gia đình, có khói hương, có những lần tin rồi nghi, mất rồi hiểu. Tản văn không tìm cách giải thích, chỉ đặt xuống những câu hỏi cũ: về vô thường, về niềm tin, về chỗ nương tựa sau cùng. Văn nhẹ, trong, buồn vừa đủ—như hương sứ thoảng qua, mong manh mà ở lại lâu.

***
  
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sàigòn. Mùa hạ là những chuyện tình không viết ra của hai vợ chồng trên những bãi biển cát nóng sóng gầm. Mùa thu, các anh chị em tôi gọi là mùa gặt hái vì chừng tháng mười một các cây nhãn hạt tiêu, hồng giòn và ổi xá lị chín nặng trĩu cành; và giữa phòng khách trưng một quả bí rợ khổng lồ từ Halloween chễm trệ đến hết Thanksgiving. Mùa đông Cali khi mưa khi lạnh, cây không cần tưới nhiều, biển âm u. Bù lại là liên tục lễ tiệc, từ Tạ Ơn sang Giáng Sinh, đến Tết Tây, rồi Tết Ta. Cứ như vậy bốn mùa xoay vần, với tốc độ tăng dần, mỗi năm mỗi nhanh hơn. Chúng tôi miệt mài chạy theo thời gian, khi cảm thấy đuối sức mới nhận thức tuổi trẻ đã qua tự bao giờ. Viễn tượng của hưu trí là một cuối đường sẽ hẹp dần, không gian sẽ thu nhỏ lại cho đến khi mọi vật vốn mang bản chất phù du trở thành cát bụi. Làm sao đối diện với sự hữu hạn của đời người để được bình yên trong tuổi già?  

Khi sợ hãi, người ta bắt đầu cầu nguyện.  

thanh-mai-2
Căn nhà thủa bé của tôi có một phòng thờ rất rộng, nơi đặt nhiều bàn thờ các vị Phật, đức Quan Công và tổ tiên, cũng là nơi chính cho các tiệc giỗ. Năm sáu tuổi, sáng sớm tôi theo bà nội hái những chiếc hoa sứ trắng đặt trên bàn thờ rồi thắp hương cúng Phật. Bà dạy tôi những lời khấn đầu tiên, xin cho bà cha mẹ anh chị em khỏe mạnh, xin cho con học giỏi.

Năm mười bảy tuổi trước khi vượt biên, mẹ dặn trên đường niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho con tai qua nạn khỏi. Ba mươi mấy tuổi, tôi đưa mẹ về Long Thành tu ở Thiền Viện Thường Chiếu. Mẹ nói để xin hòa thượng Thích Thanh Từ quy y cho con, mẹ gieo nhân duyên này để con tìm đến khi cần thiết. Thầy đặt cho pháp danh Thích Thanh Nhàn, chắc vì tôi mang số tử vi của một đời gian truân.  

Mẹ ở trong chiếc cốc nhỏ tu tập và làm việc thiện. Mỗi lần tôi và con gái về thăm, ba bà cháu đi dạo loanh quanh trong cảnh chùa thanh tịnh thênh thang, vào chánh điện lạy Phật, rồi ra tháp thắp hương tưởng nhớ bố và bà nội. Sự tín ngưỡng của tôi dừng lại ở đây; mẹ hiểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn dúi vào tay tôi một băng cassette hay một quyển kinh để mang về.  

Mấy mươi năm trôi qua, cảnh chùa ngày càng xanh tươi đông đúc. Nhưng cốc của mẹ không còn. Những chậu hoa mẹ trồng bây giờ đang vươn nở trong khu vườn khác. Tôi đã trải qua những đau khổ, mất mát, thất bại, thăng trầm mà gắn liền với đời sống của tất cả mỗi sinh vật. Cây cỏ hoa lá cũng hiển nhiên bệnh hoạn héo tàn và chưa hẳn sẽ trở lại sau mùa đông. Hữu sinh thì hữu diệt, có sinh thì có tử, đến rồi sẽ đi. Như vậy, mục đích của đời người là gì? Sống, đòi hỏi vật chất và tình người – hạnh phúc hoàn toàn phụ thuộc vào hai điều kiện này mà chúng khi ẩn khi hiện, thay đổi không ngừng khiến mình lao đao. Những người tin vào luật nhân quả cố gắng giữ gìn đạo đức nhưng vẫn không tránh khỏi tai ương, vì còn phụ thuộc vào những nghiệp đã gây ra trong kiếp trước (ai biết là gì!). Nói cách khác, không ai kiểm soát được số phận. Không ai nên mong chờ gì hơn số phận của một chiếc lá úa vàng trong mùa thu ảm đạm, rơi xuống mặt đường nằm chờ mục rữa.  

Nhân duyên của mẹ gieo cuối cùng được quả. Tôi giờ chú tâm tìm hiểu Phật pháp. Và khám phá ra đạo Phật không có thần thánh mà là một triết lý uyên bác thâm sâu, dẫn dắt con người thoát khỏi khổ đau. Các hình ảnh tượng đài là phương tiện giúp người ta hướng về. Chùa chiềng là phương tiện giúp tín đồ tu tập. Tôi tiếc cho mình đã không bồi đắp đời sống tâm linh sớm hơn. Nghĩ lại, những lời khấn cầu bà và mẹ dạy chủ yếu là gieo trong tôi niềm tin.  
Niềm tin là cứu cánh duy nhất của con người.  

Trong những cơn lao đao trên bờ vực thẳm. Với cảm giác thất lạc tận cùng, sức ép đè nặng nề trên ngực, trước mắt tối tăm. Khi con người không thể cho mình hy vọng. Mình muốn tin vào một quyền năng thiên nhiên cho mình lối thoát.  

Các khoa học gia ước lượng có hai ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ; tỷ lệ đường kính một giải ngân hà to gấp bảy mươi bốn ngàn tỷ lần trái đất, tương tự như Bắc Mỹ và một hạt cát. Họ còn cho rằng vũ trụ vẫn không ngừng bành trướng. Chỉ một cơn bão trên mặt trời có thể bùng phát to hơn trái đất nhiều lần. Những con số này luôn khiến tôi choáng ngộp mỗi lần nghe đến. Tôi muốn tin cách nhìn của triết gia Alan Watts trong ảnh hưởng Phật giáo - con người sinh ra từ vũ trụ, mỗi con người là một chức năng của toàn bộ vũ trụ, giống như con sóng là chức năng của toàn bộ đại dương, con sóng và đại dương không tách biệt, chúng liên tục. Và tôi đặt niềm tin vào quyền năng của vũ trụ huyền bí, chấp nhận chức năng của riêng mình cho một mục đích cao hơn.  

Chấp nhận vì không có chọn lựa. Chấp nhận để biết xem nhẹ. Khi khổ đau, biết tỷ sinh vật đang đau khổ hơn mình; mình không duy nhất. Khi hạnh phúc, biết sẽ có ngày mất mát. Mất mát cũng chỉ là một cách gọi khi ngoài tầm tay tầm nhìn. Bà nội, bố mẹ mất đã nhiều năm nhưng họ vẫn sống trong lòng tôi, vẫn cho tôi hạnh phúc ấm áp khi nghĩ về họ. Từ góc nhìn này, tôi không hề mất họ. Hơn nữa, mất là đã có; tỷ sinh vật không có diễm phúc đánh mất những gì chưa bao giờ có.  

Tôi hái một ít hoa sứ trắng ngoài vườn đặt lên bàn thờ. Vài cánh hoa mong manh chóng tàn cho tôi niềm tin suốt một đời.  

Những ước mơ cho riêng mình mà vẫn chưa thực hiện, tôi hiểu, cần gói ghém lại cho kiếp sau. Kiếp còn lại để tìm an lạc – bình an trong tâm hồn và hạnh phúc. Không phải hạnh phúc tối thượng của Niết bàn – một trạng thái thoát khỏi tham, sân, si – mà con người sẽ không bao giờ đạt tới. Mà là hạnh phúc với gia đình và qua những ai có thiện duyên với mình. 

Qua Tết, đại gia đình chúng tôi sẽ chuẩn bị đám cưới cho cô con gái duy nhất của tôi. Đứa cháu duy nhất sinh ra khi bà ngoại sang Mỹ được ba ngày và được bà nuôi mấy năm trước khi bà về lại quê hương đi tu. Tôi hy vọng nó sẽ sớm ý thức sự quan trọng của đời sống tâm linh, sớm hơn tôi. 

Đám cưới sẽ diễn ra đầu mùa xuân. Thiên nhiên sẽ tưng bừng những mạch sống mới; con người cũng sẽ hớn hở qua khỏi một mùa đông âm u. Không gian sẽ toát ngời những năng lượng tích cực, chào mừng duyên lành của đôi vợ chồng trẻ. Tôi nhìn thấy một bắt đầu đẹp đẽ. 

 VTTM, áp Tết Bính Ngọ 2026
 

Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.