Hôm nay,  

Hoa Sứ Trắng

08/05/202600:00:00(Xem: 1073)

thanh-mai-1

Vũ Thị Thanh Mai, ảnh Trần Vũ chụp 2015 

 
LTS: “Hoa Sứ Trắng” của Vũ Thị Thanh Mai mở ra từ một khu vườn nhỏ, dẫn người đọc đi qua những tầng ký ức, những vỡ lẽ âm thầm của một đời người. Ở đó có bóng gia đình, có khói hương, có những lần tin rồi nghi, mất rồi hiểu. Tản văn không tìm cách giải thích, chỉ đặt xuống những câu hỏi cũ: về vô thường, về niềm tin, về chỗ nương tựa sau cùng. Văn nhẹ, trong, buồn vừa đủ—như hương sứ thoảng qua, mong manh mà ở lại lâu.

***
  
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sàigòn. Mùa hạ là những chuyện tình không viết ra của hai vợ chồng trên những bãi biển cát nóng sóng gầm. Mùa thu, các anh chị em tôi gọi là mùa gặt hái vì chừng tháng mười một các cây nhãn hạt tiêu, hồng giòn và ổi xá lị chín nặng trĩu cành; và giữa phòng khách trưng một quả bí rợ khổng lồ từ Halloween chễm trệ đến hết Thanksgiving. Mùa đông Cali khi mưa khi lạnh, cây không cần tưới nhiều, biển âm u. Bù lại là liên tục lễ tiệc, từ Tạ Ơn sang Giáng Sinh, đến Tết Tây, rồi Tết Ta. Cứ như vậy bốn mùa xoay vần, với tốc độ tăng dần, mỗi năm mỗi nhanh hơn. Chúng tôi miệt mài chạy theo thời gian, khi cảm thấy đuối sức mới nhận thức tuổi trẻ đã qua tự bao giờ. Viễn tượng của hưu trí là một cuối đường sẽ hẹp dần, không gian sẽ thu nhỏ lại cho đến khi mọi vật vốn mang bản chất phù du trở thành cát bụi. Làm sao đối diện với sự hữu hạn của đời người để được bình yên trong tuổi già?  

Khi sợ hãi, người ta bắt đầu cầu nguyện.  

thanh-mai-2
Căn nhà thủa bé của tôi có một phòng thờ rất rộng, nơi đặt nhiều bàn thờ các vị Phật, đức Quan Công và tổ tiên, cũng là nơi chính cho các tiệc giỗ. Năm sáu tuổi, sáng sớm tôi theo bà nội hái những chiếc hoa sứ trắng đặt trên bàn thờ rồi thắp hương cúng Phật. Bà dạy tôi những lời khấn đầu tiên, xin cho bà cha mẹ anh chị em khỏe mạnh, xin cho con học giỏi.

Năm mười bảy tuổi trước khi vượt biên, mẹ dặn trên đường niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát cho con tai qua nạn khỏi. Ba mươi mấy tuổi, tôi đưa mẹ về Long Thành tu ở Thiền Viện Thường Chiếu. Mẹ nói để xin hòa thượng Thích Thanh Từ quy y cho con, mẹ gieo nhân duyên này để con tìm đến khi cần thiết. Thầy đặt cho pháp danh Thích Thanh Nhàn, chắc vì tôi mang số tử vi của một đời gian truân.  

Mẹ ở trong chiếc cốc nhỏ tu tập và làm việc thiện. Mỗi lần tôi và con gái về thăm, ba bà cháu đi dạo loanh quanh trong cảnh chùa thanh tịnh thênh thang, vào chánh điện lạy Phật, rồi ra tháp thắp hương tưởng nhớ bố và bà nội. Sự tín ngưỡng của tôi dừng lại ở đây; mẹ hiểu, nhưng thỉnh thoảng vẫn dúi vào tay tôi một băng cassette hay một quyển kinh để mang về.  

Mấy mươi năm trôi qua, cảnh chùa ngày càng xanh tươi đông đúc. Nhưng cốc của mẹ không còn. Những chậu hoa mẹ trồng bây giờ đang vươn nở trong khu vườn khác. Tôi đã trải qua những đau khổ, mất mát, thất bại, thăng trầm mà gắn liền với đời sống của tất cả mỗi sinh vật. Cây cỏ hoa lá cũng hiển nhiên bệnh hoạn héo tàn và chưa hẳn sẽ trở lại sau mùa đông. Hữu sinh thì hữu diệt, có sinh thì có tử, đến rồi sẽ đi. Như vậy, mục đích của đời người là gì? Sống, đòi hỏi vật chất và tình người – hạnh phúc hoàn toàn phụ thuộc vào hai điều kiện này mà chúng khi ẩn khi hiện, thay đổi không ngừng khiến mình lao đao. Những người tin vào luật nhân quả cố gắng giữ gìn đạo đức nhưng vẫn không tránh khỏi tai ương, vì còn phụ thuộc vào những nghiệp đã gây ra trong kiếp trước (ai biết là gì!). Nói cách khác, không ai kiểm soát được số phận. Không ai nên mong chờ gì hơn số phận của một chiếc lá úa vàng trong mùa thu ảm đạm, rơi xuống mặt đường nằm chờ mục rữa.  

Nhân duyên của mẹ gieo cuối cùng được quả. Tôi giờ chú tâm tìm hiểu Phật pháp. Và khám phá ra đạo Phật không có thần thánh mà là một triết lý uyên bác thâm sâu, dẫn dắt con người thoát khỏi khổ đau. Các hình ảnh tượng đài là phương tiện giúp người ta hướng về. Chùa chiềng là phương tiện giúp tín đồ tu tập. Tôi tiếc cho mình đã không bồi đắp đời sống tâm linh sớm hơn. Nghĩ lại, những lời khấn cầu bà và mẹ dạy chủ yếu là gieo trong tôi niềm tin.  
Niềm tin là cứu cánh duy nhất của con người.  

Trong những cơn lao đao trên bờ vực thẳm. Với cảm giác thất lạc tận cùng, sức ép đè nặng nề trên ngực, trước mắt tối tăm. Khi con người không thể cho mình hy vọng. Mình muốn tin vào một quyền năng thiên nhiên cho mình lối thoát.  

Các khoa học gia ước lượng có hai ngàn tỷ thiên hà trong vũ trụ; tỷ lệ đường kính một giải ngân hà to gấp bảy mươi bốn ngàn tỷ lần trái đất, tương tự như Bắc Mỹ và một hạt cát. Họ còn cho rằng vũ trụ vẫn không ngừng bành trướng. Chỉ một cơn bão trên mặt trời có thể bùng phát to hơn trái đất nhiều lần. Những con số này luôn khiến tôi choáng ngộp mỗi lần nghe đến. Tôi muốn tin cách nhìn của triết gia Alan Watts trong ảnh hưởng Phật giáo - con người sinh ra từ vũ trụ, mỗi con người là một chức năng của toàn bộ vũ trụ, giống như con sóng là chức năng của toàn bộ đại dương, con sóng và đại dương không tách biệt, chúng liên tục. Và tôi đặt niềm tin vào quyền năng của vũ trụ huyền bí, chấp nhận chức năng của riêng mình cho một mục đích cao hơn.  

Chấp nhận vì không có chọn lựa. Chấp nhận để biết xem nhẹ. Khi khổ đau, biết tỷ sinh vật đang đau khổ hơn mình; mình không duy nhất. Khi hạnh phúc, biết sẽ có ngày mất mát. Mất mát cũng chỉ là một cách gọi khi ngoài tầm tay tầm nhìn. Bà nội, bố mẹ mất đã nhiều năm nhưng họ vẫn sống trong lòng tôi, vẫn cho tôi hạnh phúc ấm áp khi nghĩ về họ. Từ góc nhìn này, tôi không hề mất họ. Hơn nữa, mất là đã có; tỷ sinh vật không có diễm phúc đánh mất những gì chưa bao giờ có.  

Tôi hái một ít hoa sứ trắng ngoài vườn đặt lên bàn thờ. Vài cánh hoa mong manh chóng tàn cho tôi niềm tin suốt một đời.  

Những ước mơ cho riêng mình mà vẫn chưa thực hiện, tôi hiểu, cần gói ghém lại cho kiếp sau. Kiếp còn lại để tìm an lạc – bình an trong tâm hồn và hạnh phúc. Không phải hạnh phúc tối thượng của Niết bàn – một trạng thái thoát khỏi tham, sân, si – mà con người sẽ không bao giờ đạt tới. Mà là hạnh phúc với gia đình và qua những ai có thiện duyên với mình. 

Qua Tết, đại gia đình chúng tôi sẽ chuẩn bị đám cưới cho cô con gái duy nhất của tôi. Đứa cháu duy nhất sinh ra khi bà ngoại sang Mỹ được ba ngày và được bà nuôi mấy năm trước khi bà về lại quê hương đi tu. Tôi hy vọng nó sẽ sớm ý thức sự quan trọng của đời sống tâm linh, sớm hơn tôi. 

Đám cưới sẽ diễn ra đầu mùa xuân. Thiên nhiên sẽ tưng bừng những mạch sống mới; con người cũng sẽ hớn hở qua khỏi một mùa đông âm u. Không gian sẽ toát ngời những năng lượng tích cực, chào mừng duyên lành của đôi vợ chồng trẻ. Tôi nhìn thấy một bắt đầu đẹp đẽ. 

 VTTM, áp Tết Bính Ngọ 2026
 

Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.