Hôm nay,  

Cookies

29/05/202600:00:00(Xem: 1022)

cookie
 
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
 
Tôi phải làm cho xong đêm nay một khay cookies mang đến nhà thờ cho đám tang ngày mai. Ba hôm trước có người trong họ đạo qua đời, bà trưởng nhóm của hội Tương Tế đã gọi các hội viên phân chia công tác. Tôi luôn luôn nhận phần làm cookies. Tôi đã quá quen với công việc này. Lượng đường, lượng sữa tôi thuộc lòng rồi.

Mỗi lần cân bột, đong đường, đập những trái trứng làm bánh, tôi hình dung ra diện mạo người vừa mới qua đời. Có người tôi biết rất rõ, có người thân hơn, có người chỉ mang máng nghe tên. Tất cả như xoay tròn trong cái tô bánh đang làm. Lòng đỏ của quả trứng như những khuôn mặt của trẻ sơ sinh mới vào đời, khi đánh ra trộn lẫn vào đường với sữa nó nhanh chóng tan đi, như con người tan chẩy vào dòng đời, rồi biến mất. Đôi khi tôi tự hỏi: “Ai sẽ làm cookies cho đám tang của mình?” Có lúc tôi lại nẩy ra ý nghĩ, hay là mình làm cookies cho chính mình đi.

Sáng sớm hôm nay, tôi mang bánh đến nhà thờ cho đám tang. Vừa đến, đã thấy các bà trong hội Tương Tế của nhà thờ đang cùng nhau sắp đặp bữa tiệc cho tang gia. Người trong bếp lo xếp thức ăn ra đĩa, người bên ngoài lo trải khăn bàn, kê ghế, lo nước ngọt, cà phê.

Tôi có tên ở hội Tương Tế của nhà thờ Công Giáo Mỹ này cả hơn hai mươi năm, nhưng mới đảm trách nhiệm vụ trưởng nhóm năm sáu năm nay. Khi có người qua đời trong họ đạo, người trưởng nhóm phải gọi hội viên chia nhau mang thực phẩm đến giúp tang gia vì trong lúc bối rối, không ai có thời giờ nấu ăn, lại thêm còn phải tiếp đón thân nhân, bạn hữu ở xa về dự đám tang. Chúng tôi mang thức ăn đến tang gia liên tiếp từ lúc nhận được tin buồn cho tới khi chôn cất xong. Bữa tiệc cuối cùng tiễn đưa thường được tổ chức tại khu nhà hội của họ đạo. Trong khi linh mục làm phép xác trong giáo đường thì chúng tôi lo sắp đặt dưới nhà hội. Sau tang lễ, mọi người sẽ tụ họp một bữa trưa nhẹ nhàng và cùng nhau nhắc đến người bạn trong giáo xứ vừa qua đời. Tang gia không phải lo một việc gì trong bữa tiệc tiễn chân này.

Tôi không nhớ mình đã mang cookies đến cho bao nhiêu đám tang. Người chết trẻ, người chết già, mỗi người chết một cách khác nhau. Có người tôi quen thân, có người tôi chỉ biết qua cái tên, nhưng ai chết cũng được hội Tương Tế hỗ trợ giống nhau, linh mục đọc những lời kinh và làm nghi thức tang lễ giống nhau. Họ chỉ khác nhau ở chỗ áo quan làm bằng loại gỗ nào và có bao nhiêu người tham dự, hoa phúng điếu đầy ắp nhà thờ hay có khi chỉ một vòng đơn sơ trên nắp áo quan, được chôn ở nghĩa trang xa hay gần, hỏa thiêu hay chôn khô trong những ngăn kéo bằng đá hoa cương. Tôi đã quen thuộc với công việc này lâu lắm rồi. Khi còn đi làm, tôi chỉ đóng góp thức ăn, từ ngày về hưu, tôi được cử thay thế bà trưởng nhóm đã qua đời ở tuổi già.

Chiếc áo quan đã đưa vào trong xe tang, những vòng hoa được chất lên những chiếc xe khác, nối đuôi nhau trong bãi đậu xe. Mọi người chưa ra nghĩa trang ngay, họ kéo vào nhà hội. Những giọt lệ đã được kín đáo lau khô; thân nhân đang sửa soạn chiếu những tấm hình của người mới được Thiên Chúa gọi về cho quan khách xem.

Làm xong bổn phận của mình, tôi đứng lùi lại một góc phòng, xem những tấm hình chiếu lên trên một khung vải khá rộng được đặt giữa phòng. Hình đầu tiên chiếu lên, đó một người phụ nữ Á Đông ở tuổi ngoài tám mươi, tên Mai Hoàng, bên dưới, thay vì năm sinh và năm tử lại có hàng chữ nhỏ “ Đến Mỹ tháng 4/1975”  Sau đó là nhiều, rất nhiều hình khác, có hình thời còn trẻ, ở tuổi ba mươi, hình chụp với chồng, với bốn con từ lúc còn ở quê nhà, rồi hình di tản sang Mỹ năm 1975, thêm hai cô con gái nữa trong những tấm hình kế tiếp, sau đó là cháu nội,cháu ngoại. Bà có tới sáu con, mười lăm cháu. Cháu ngoại lớn nhất của bà mới lấy chồng năm ngoái. Đúng là một gia đình Công Giáo Á Đông. Bà đã tị nạn trên ở Mỹ hơn năm mươi năm rồi. So với thời gian sống trên quê cha đất mẹ mình thì bà đã sống hơn hai phần ba đời người trên đất khách và dài nhất là ở thành phố này, nên bà có khá nhiều bạn bè bản xứ.
         
Mọi người thay nhau chia sẻ, kể lại những kỷ niệm với bà. Họ nói khi bà còn sống, bà chính là người đã tham gia rất đắc lực vào những công việc tang ma cho hội Tương Tế trong một thời gian rất dài. Cách đây mười năm, khi qua tuổi 80, hai chân bà bị yếu, lái xe khó khăn, bà mới  ngưng tới đây, chỉ lãnh việc ở nhà gọi điện thoại thông báo cho mọi hội viên biết có ai vừa qua đời, cần giúp đỡ. Bà biết rất rõ đám tang có bao nhiêu người tham dự thì cần bao nhiêu thức ăn. Ai sẽ mang xà lách, ai mang bánh lớn (cake), ai mang cookies, ai mang thịt nguội hay trái cây. Những việc này bà còn tinh tường lắm, mặc dù người trong hội đã nghĩ đến việc tìm một người trẻ hơn thay thế cho bà. Nhưng họ chưa tìm được ai thì bà đã mất.
 
Tôi đứng đó nhìn gia đình bà đông đủ con, cháu, chạy qua chạy lại chào hỏi cám ơn quan khách. Người chồng của bà cũng già lắm rồi, ngồi trong một chiếc Wheelchair, ông gầy quá, trông như được quấn trong bộ vest đen, hai mắt trũng sâu, nét mặt bơ phờ. Đứa cháu gái độ 15 tuổi đứng sau lưng ông, thỉnh thoảng lại đưa ly nước vào miệng ông. Tôi nhiều lần muốn bước đến bên ông, nói đôi lời an ủi, nhưng lại thôi. Hãy để cho ông tập quen dần với chia ly, tử biệt. Đàn con cháu thì bây giờ họ còn đang bối rối, bận bịu. Sau ngày hôm nay, khi chôn cất, tiễn đưa xong, ai về nhà đó, đời sống trở lại bình thường, lúc đó họ mới có thời gian thấm thía sự mất đi của một người thân như thế nào. Tôi thương họ quá, chỉ muốn ôm tất cả vào lòng vỗ về, an ủi.
 
Tôi đứng đó, nghe tất cả những điều tốt đẹp về người phụ nữ mới qua đời. Những tấm hình đang chiếu trên cái khung vải đó cho mọi người thấy một đời sống  của một phụ nữ đã qua đi. Bà trẻ trung nhanh nhẹn như thế nào trong quá khứ, hình bà thời con gái, mặc áo dài trắng đứng trước cửa một trường trung học ở Việt Nam, hình bà cùng chồng con đến tỵ nạn tại đất nước này. Bà đã hội nhập nhanh chóng vào đời sống mới. Mọi người nhìn bà như một phụ nữ có đầy đủ hạnh phúc gia đình và bằng hữu. Tôi tự hỏi, họ nghe được rất nhiều tiếng cười của bà khi bà còn sống, nhưng có ai biết được những giọt lệ lẻ loi riêng mang của bà không nhỉ? Chắc bà có khóc chứ? Một người sống xa quê ngần ấy năm làm sao không có lúc nhớ cha mẹ, tổ tiên ở quê nhà? Một người có cả đàn con cháu đông đúc thế,làm sao không có những âu lo theo từng chặng đường chúng bước qua.

Tôi đứng đó, xem những tấm ảnh chiếu trên khung hình, nghe những lời trò chuyện trong đám quan khách, những người bạn cùng chủng tộc với bà, họ ngồi tụ lại hai ba bàn, nói với nhau bằng ngôn ngữ của họ. Họ luôn luôn lau nước mắt. Tôi biết người Á Đông phần đông không che giấu được nỗi buồn, và họ rất hay khóc. Dù là người mang quốc tịch nào, khi đến một đám tang, sau khi nói về người chết xong, người ta thường nói về người sống còn lại với nhau, về tuổi tác và bệnh tật, về những nấm mộ mua trước, về nên hay không nên hỏa táng, tro than sẽ rắc ở chân núi, hay thả ra biển…Có người nói với giọng ôn hòa, nét mặt bình thản, có người nói với giọng âu lo, nét mặt buồn bã. Những người trẻ hơn thì ngồi im, nghe ngóng, họ chưa nghĩ đến việc mua ngôi nhà cuối cùng vì ngôi nhà đang ở họ mới mua được vài năm hay mới mua tháng trước. Họ còn nhiều thứ phải mua sắm cho ngay ngày hôm nay, một vài đứa con nhỏ đang phải cần tiền ăn, học; họ chưa muốn nghĩ đến việc ba mươi, bốn mươi năm sau, mặc dù ai cũng biết, cái chết có thể đến thật “tình cờ”.

Tôi đứng nhìn những chiếc cookies trên bàn, nhìn bạn bè ăn những chiếc bánh nhỏ cuối cùng và nhắc đến tên người bạn vừa qua đời. Mai kia, mốt nọ, họ sẽ ăn những chiếc cookies của người khác làm, và nhắc đến tên người khác. Rồi bỗng một hôm nào đó tên của họ lại được nhắc đến lần cuối và những chiếc cookies của họ không bao giờ còn xếp trên bàn nữa.

Tôi nghe và nhìn thêm một chút nữa, thấy bữa tiệc tiễn đưa sắp tàn, có người đã bắt đầu thu dọn, tiếng ghế kéo đã vang lên. Nhìn lên tường, đồng hồ chỉ 12 giờ trưa, cái lịch bên cạnh có con số năm 2030
 
Tôi rời bỏ chỗ đứng, đi về phía nhà thờ. Vị linh mục đang đứng nói chuyện với nhân viên nhà quàn. Tôi đi qua mặt ngài, nhưng ngài không thấy tôi.
         
Tôi đứng ngắm chiếc xe tang, chiếc xe mầu đen, dài nhất trong những chiếc xe đang xếp hàng ở đó. Tôi đặt một bàn tay lên cánh cửa xe tang, trong bàn tay kia, tôi còn nắm chặt một chiếc cookie.

Hàng xe tang từ từ chuyển bánh ra nghĩa trang, một chiếc huyệt được đào sẵn ở đó, vị linh mục rẩy nước thánh xuống lòng huyệt, đọc lời nguyện và áo quan được từ từ hạ xuống trước sự chứng kiến của gia đình và bạn hữu. Những đóa hoa ném xuống theo, những giọt nước mắt cuối cho người vừa đặt lưng trong lòng đất cũng theo nhau nhỏ xuống. Sau cùng là những tiếng xẻng xúc đất.
Bạn hữu trước rồi tới gia đình, mọi người lần lượt ra về, chỉ có mình tôi ở lại.
 
Từ nay, hội Tương Tế sẽ có một bà khác trẻ hơn, thay cụ Mai Hoàng lo việc sinh hoạt cho hội. Tôi hình dung ra được những công việc bà hội trưởng mới: Bà sẽ gọi mọi người đóng góp công sức cho hội mỗi khi có ai qua đời, bà cũng tới với khay cookies, làm việc giúp mỗi đám tang như tôi đã làm cho đến khi bà chậm lại và yếu đi, rồi bà sẽ mỗi ngày một yếu thêm, nhắm mắt qua đời, nằm xuống mộ huyệt như cụ hội trưởng cũ ngày hôm nay. Những chiếc cookies sẽ được nướng bởi những bàn tay khác nhau đặt trên bàn tiệc tiễn đưa.
         
Người nướng cookies sẽ lần lượt theo nhau đi dự những bữa tiệc tiễn đưa khác,với những bàn tiệc chỉ có thảm cỏ là khăn trải bàn và những đóa bồ công anh tròn xoe thay cho những chiếc cookies.
 
Tôi là Mai Hoàng, tôi vừa đặt lưng xuống lòng đất mới. Tôi đã đi hết một chặng đường dài của cuộc sống. Tôi sẽ tan chẩy vào lòng đất như những lòng đỏ trứng tan trong sữa và đường.
 
Trong tay tôi còn nắm chặt một chiếc cookie.
 
Trần Mộng Tú
 

Trong cuộc đời, ắt hẳn bạn đã nhiều lần bước trên lối mòn giữa một cánh đồng cỏ hay trong một khu rừng? Thoạt đầu, lối mòn ấy cũng đầy hoa hoang cỏ dại như chung quanh, nhưng những bước chân người dẫm lên qua ngày tháng đã tạo thành một con đường bằng phẳng. Ký ức chúng ta cũng tương tự như lối mòn ấy. Những trải nghiệm với cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ được nhớ đi nhớ lại như những bước chân đi trên lối mòn góp phần hình thành ký ức, và cả con người chúng ta. Người Mỹ gọi loại ký ức này là “core memory” mà ta có thể dịch ra Việt ngữ là ký ức cốt lõi. Với tôi, ký ức cốt lõi ấy là những gì xẩy ra cho tôi và gia đình trong quãng thời gian kể từ khi thị xã Ban Mê Thuột thất thủ ngày 12 tháng Ba năm 1975, kéo theo sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam chưa đến bẩy tuần sau đó. Tôi vẫn nhớ, và nhớ rất rõ.
Vốn là một quân nhân, sau khi triệt thoái từ miền Trung về Saigon, tôi được bổ xung cho một đơn vị pháo binh đang hành quân ở vùng Củ Chi, Tỉnh Tây Ninh, yểm trợ sư đoàn 25 Bộ BinhB. Khoảng ba tuần trước khi mất nước tôi bị thương ở chân. Nằm trong quân y viện Tây Ninh vài ngày, bác sĩ cho về nhà dưỡng thương một tháng ở Saigon.
Ngày xưa, thông thường, chồng của cô giáo được gọi là thầy, cũng như vợ của thầy giáo được gọi là cô. Cho dù người chồng hoặc vợ không làm việc trong ngành giáo dục. Nhưng trường hợp cô giáo tôi, cô Đỗ Thị Nghiên, trường Nữ Tiểu Học Quảng Ngãi thì khác. Chồng của cô, thầy Nguyễn Cao Can, là giáo sư dạy trường Nữ Trung Học Quảng Ngãi. Cô Đỗ Thị Nghiên dạy lớp Bốn, trường Nữ Tiểu Học. Trong mắt nhìn của tôi, của con bé mười tuổi thuở ấy, cô Nghiên là một cô giáo rất đặc biệt. Cô nói giọng bắc, giọng nói trầm bổng, du dương. Tóc cô ngắn, ôm tròn khuôn mặt. Da cô trắng nõn nà. Có lần ngoài giờ học, trên đường phố của thị xã Quảng Ngãi, tôi thấy hai vợ chồng thầy Can, cô Nghiên đèo nhau trên xe gắn máy. Cô mặc jupe, mang kính mát, ngồi một bên, tréo chân, khép nép dựa vai thầy. Ấn tượng để lại trong trí của con bé tiểu học là hình ảnh của đôi vợ chồng sang trọng, thanh lịch, tân thời, cùng mang thiên chức cao cả: dạy dỗ lũ trẻ con nên người.
Tháng Tư này tròn 50 năm biến cố tang thương của miền Nam Việt Nam, những người Việt hải ngoại, đời họ và thế hệ con cháu đã trưởng thành và thành công trên xứ người về mọi mặt học vấn cũng như công ăn việc làm. Họ đang hưởng đời sống ấm no tự do hạnh phúc đúng nghĩa không cần ai phải tuyên truyền nhồi sọ. Nhưng trong lòng họ vẫn còn bao nhiêu kỷ niệm thân thương nơi chốn quê nhà.
Có một buổi trưa, hai đứa đang thưởng thức bò bía, đậu đỏ bánh lọt ở chùa Xá Lợi, góc Bà Huyện Thanh Quan và Ngô Thời Nhiệm (?), thì gặp một "cái bang". Đầu đội khăn rằn, đeo mắt kiếng cận nặng, cổ quấn vài ba chiếc khăn đủ màu và ông còn dẫn theo hai con chó, vừa đi vừa múa tay múa chân như người say rượu. Chừng như ông không cần thấy ai, chung quanh chỉ có ông và hai con chó. Người đàn ông "cái bang" đó là nhà thơ, nhà văn, nhà biên khảo nổi tiếng của Việt Nam: Bùi Giáng. Hai con chó vừa đi vừa sủa vang, khiến một số nữ sinh Gia Long đang đứng quanh xe bò bía, vội vã chạy né qua bên kia đường. T
Một ngày nọ, ngài gặp một bà mẹ, bà ôm một đứa con vừa mất vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, ai cũng mũi lòng thương, thông cảm vì mất con là nỗi đau khổ nhứt trong cuộc đời… người ta mách bảo là bà nên gặp Sa Môn Cồ Đàm, bà sung sướng bế con đã mất đi ngay và gặp phật, xin phật dùng phép thần thông cứu sống con bà. Xung quanh phật, các tì kheo đang ngồi cầu nguyện cho chúng sanh được giải thoát và cũng cầu nguyện cho các chúng sanh còn tại thế sẽ may mắn mà gặp được giáo pháp của Như Lai. Rồi người mẹ đau khổ cũng được gặp phật.
Cuối tháng Ba, những cơn gió nóng tràn về thành phố. Một hai trận mưa lạc loài đến sớm rồi thôi. Không khí ngột ngạt. Mùi đất nồng khó chịu. Như một cô gái uể oải trong cơn bệnh, thành phố trông mệt mỏi, rạc rời. Đoan đi vào Câu lạc bộ của trường. Bình thường, cứ đến thứ Sáu là không khí chuẩn bị cho chiều văn nghệ thứ Bảy lại nhộn nhịp. Nhưng hôm nay, như có một cái gì kéo mọi thứ chùng xuống. Chị Thuận, người phụ trách Câu lạc bộ, mỉm cười khi thấy Đoan, nhưng là một nụ cười kém tươi. Chị vẫn câu chào hỏi thường lệ: “Em uống gì không?” “Dạ, chị cho em nước chanh.” Chị Thuận pha ly nước chanh đặc biệt, nóng, ít đường, mang đến để trước mặt Đoan, và kéo ghế ngồi xuống bên Đoan. Hình như không có gì để bắt chuyện, chị Thuận nhìn ra sân, nói nhỏ:
Tôi khép cánh cửa phòng ngủ, rón rén bước ra, sợ gây tiếng động làm thằng cháu nội lại giật mình thức giấc; thằng bé đã mười tháng tuổi, biết làm đủ thứ trò như con khỉ con, chiếc mũi bé xíu của nó chun lại, đôi môi dầy cong lên, mỗi khi bà nội bảo nó làm xấu, thật dễ thương, canh nó hơi mệt vì phải chơi cho nó đừng chán, lèo nhèo, nhưng chơi nhiều thì sức bà nội có hạn, làm sao chạy theo nó cả ngày được!
Những cái mặt hướng về phía trước. Những cái đầu hơi cúi, những cái lưng hơi còng có lẽ bởi sức nặng của chiếc ba lô đeo sau lưng, hay tại - nói một cách màu mè, văn vẻ, đầy giả dối là - gánh nặng của đời sống. Trước mặt tối đen. Bên phải là những cánh cửa cuộn bằng tôn đóng kín. Những cánh cửa lạnh lùng, vô cảm; lầm lì từ khước, âm thầm xua đuổi. Dưới chân là nền xi măng. Cứng và lạnh. Không thể là nơi tạm dừng chân, nghỉ mệt. Sâu vào phía sát vách là nền lót những viên gạch vuông. Không một cọng rác. Không một bóng chó hoang, mèo lạc. Không cả những hình hài vô gia cư bó gối vẩn vơ nhìn nhân gian qua lại.
Đức hạnh cao quý thể hiện thành tâm vô phân biệt. Tâm vô phân biệt tạo thành một sự bình đẳng tuyệt đối trong giáo pháp của đức phật. Giáo pháp thâm sâu vi diệu của Như Lai thì không phải ai cũng hiểu hết, cũng ngộ được điều đó đa phần các vị đại trí thấu đạt. Còn lòng từ bi của phật thì lan tỏa vô phân biệt như ánh sáng mặt trời soi sáng khắp nơi nơi, như mưa rơi tắm mát đại ngàn. Những lời giảng dậy trên đây được dẫn chứng nhiều và rõ nhứt là ở phật giáo Tây Tạng.
Anh Hai của tôi, sau chuyến vượt biên thất bại, bị giam ở nhà tù Bình Đại Bến Tre chín tháng, khi trở lại trường Phan Thanh Giản, Cần Thơ mới biết đã bị cắt hộ khẩu, mất việc làm, bèn quay về Sài Gòn sống tạm với gia đình, chờ cơ hội vượt biên tiếp theo. Một hôm, anh bị cơn sốt rét tái phát hành hạ, (hậu quả của những ngày trong trại giam), cần phải đến bệnh viện chữa trị, nhưng hộ khẩu không có, anh bèn mượn cái Sổ Sức Khỏe của thằng cháu (con bà chị họ ở kế bên nhà), để đi khám bệnh
Năm đó, tôi qua Arlington,Texas thăm gia đình, rồi ghé Dallas thăm người hàng xóm cũ thân thiết từ khi còn ở Việt Nam . Chú Thím ấy đónvợ chồng tôi nồng hậu như mọi khi, bữa ăn đặc sản món Huế như tôi yêu cầu, sau đó kéo nhau ra phòng khách ăn bánh uống trà . Rồi Thím gọi cháu ngoại: - Thiên Ân ơi, ra đây ca hát cho hai bác Canada nghe đi con.-Cô bé hai, ba tuổi tung tăng ngoan ngoãn khoanh tay chào chúng tôi, rồi bạo dạn chạy ra giữa phòng, tay giả bộ cầm micro phone, rồi nhún nhảy tự nhiên hát một bài hát Tiếng Việt thật rõ ràng .
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.