Hôm nay,  

Mùa Vu Lan tháng bảy : Cha mẹ và con cái

14/08/202600:00:00(Xem: 669)

iStock-2163490808_hoa sen_lotus
Ảnh : istockphoto.
Thưa, chuyện là sư cô Chân Hiếu xuất gia đã hơn 10 năm với sư bà Huệ Chơn, một ngày kia cô thấy xa gia đình đã lâu, cô có ý muốn xin phép sư thầy về thăm mẹ già đã cả năm cô chưa gặp lại.
 
Rồi được phép, cô về gặp mẹ, mẹ con mừng mừng tủi tủi hội ngộ, rồi cũng trong một buổi đó, hàn huyên vui vầy, nhân lúc vui vui câu chuyện mẹ mẹ con con. Bà mẹ già đã ngoài 80 tuổi, có lúc nhớ nhớ, có lúc đã quên quên ít nhiều. Tự nhiên vui miệng bà thân tình nói với sư cô:
 
Con ơi, mẹ thấy đạo phật mầu nhiệm, thiệt là mầu nhiệm mà không có giáo lý nào thuyết giảng nổi… con xuất gia là đúng…
 
Mẹ ơi, mẹ thấy mầu nhiệm ở điểm nào, hay nhứt đâu?... mẹ nói cho con nghe với, đặng con còn học hỏi thêm. Sư  bà nói bể học mênh mông mà mẹ!
 
Đây nè, hay ở chỗ điều gì trong một cuộc đời người hay hai, ba cuộc đời đều lập đi lập lại trùng khớp như y người ta xếp một bảng puzzle thiệt khít vậy con à.
 
Thí dụ là sao mẹ…?
 
Thí dụ dễ hiểu nhứt là:
 
Hồi xưa mẹ mang cháo cho con ăn, giờ này con mang cháo cho mẹ ăn.
 
Hồi xưa mẹ tắm gội cho con, giờ con tắm gội lại cho mẹ…
 
Sư cô chăm chú nghe, mẹ già chăm chú kể:
 
… Hồi xưa mẹ la con, giờ con la lại mẹ!
 
Sư cô vui vẻ:
 
… Đâu đâu… con đâu dám la lại mẹ hồi nào đâu?
… Ờ ờ… con la mẹ nhiều lần lắm mà con không biết, hay không nhớ… mà không có sao!
 
… Thưa mẹ, nếu có lần nào đó, con vô ý cãi lời mẹ thì nay con xin lỗi mẹ, mẹ tha thứ cho con…
 
Rồi cô vỗ vỗ, xoa xoa vai gầy của mẹ như an ủi, như dỗ dành… nhưng bà vẫn điềm nhiên kể tiếp:
 
… Rất may là lúc xưa đó mẹ chưa có một lần nào nóng giận mà đánh đòn con. Không thôi, giờ này con cũng đánh đòn mẹ rồi!!!
 
Rồi bỗng nhiên hai mẹ con ôm lấy nhau, cùng cười xòa… sư cô Chân Hiếu đưa tay chậm nước mắt: «sự đời vay trả, trả vay, thưa mẹ…»
 
Nhưng mẹ ơi, mẹ và con, con và mẹ thì có lắm nhân duyên ràng buộc… câu chuyện ngưng ở đó vì tới giờ dùng cơm trưa.
 
Thưa đúng như lời cô Chân Hiếu nói, về phía phật đạo, quan hệ mẹ con dựa trên nhiều duyên khởi, mọi hiện tượng ràng buộc không ra ngoài nhân duyên. Song dựa trên nhân quả, chúng ta sẽ cảm nhận được nhiều sự kiện đưa đẩy gặp nhau thành mẹ con… hay cả cha mẹ con cái cũng y vậy.
 
Nhớ ngày nào còn bé đi học, thầy cô cho chúng ta học một đoạn văn của nhà văn Khái Hưng, trong trang 37, đoạn tả lại cụ Tú Lãm lúc lâm chung dặn dò các con: «ở đời không có gì xấu xa hơn là sự quên ơn, cừu nhân ta không sợ bằng ân nhân…»
 
Sau này lớn lên, chúng ta đều nghiệm ra rằng điều đó rất đúng, đối với cừu nhân ta có thể quên như quên một điều gì đó xấu xa. Nhưng đối với ân nhân mà ta không báo đền được thì lương tâm nhắc nhở ray rứt hoài hoài. Chúng ta đang tồn tại trong cõi người ta, thì tất nhiên ta mang ơn người, về tất cả những gì mà ta đang thụ hưởng được để sống còn. Con người sống tốt đẹp, vui sướng là nếu luôn luôn nhớ rằng mình đang nhận nhiều ân huệ và nhớ trân trọng những ân huệ đó.
 
Ân huệ đầu tiên và sâu xa mà chúng ta nhận được ngay từ lúc sinh ra đời là công ơn cha mẹ vì không có cha mẹ thì ai sanh ra mình? Nên ca dao nói:
 
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.
 
Đạo phật ảnh hưởng sâu xa trong đạo lý xã hội Việt Nam!
 
Cha già là phật Thích Ca,
Mẹ già như thể phật bà Quan Âm.
Nhớ ngày xá tội vong nhân,
Lên chùa lễ phật, đền ơn sinh thành.
 
Thưa vâng, ơn sinh thành nuôi dưỡng của mẹ cha ta cao rộng như trời biển.
 
Cha mẹ khi có con thì luôn nghĩ tưởng đến con không gì so sánh được. Từ lúc mang thai con, mẹ đã luôn săn sóc, thai dưỡng, giáo dưỡng, luôn làm điều lành, ăn thức ăn trong sạch để nuôi nấng thai nhi. Đi đứng nhẹ nhàng, tránh va chạm cho tới ngày sanh nở, thì mẹ nằm chỗ ướt, con nằm chỗ khô nhiều năm bế ẵm, dưỡng nuôi êm đềm:
 
… Đêm đêm giấc điệp mơ màng,
Nào ai săn sóc bên giường canh nôi…
Yếu, đau, chợt tỉnh bồi hồi!
Kìa ai ẵm bế, kìa ai dỗ dành…?
Chính là mẹ
 
… Còn cha, cha làm việc kiếm tiền khổ nhọc… cha hy sinh lao lực quên thân mình, mong cho con khỏe mạnh, lớn lên học hành, có đức hạnh làm người công dân tốt trong xã hội.
 
Con trẻ luôn là niềm hy vọng và niềm hạnh phúc của các đấng sinh thành.
 
… Nhiều lúc bận công việc này nọ, tôi yên trí là bố mẹ tôi đã qua đời, đã đi xa, xa lắm… nhưng hôm nay, ngày rằm tháng bảy âm lịch, ngày Vu Lan, mùa báo hiếu…. tôi vẫn vội vã buổi sáng sửa soạn ra khỏi nhà. Lúc chợt vừa chạm vào cánh cửa, tôi chực nhớ quên chìa khóa trên bàn thờ, tôi quay lại, vừa chợt nhìn lên kệ thờ, vâng, thưa bạn, tôi đụng những khung hình mẹ cha tôi và mẹ cha chồng tôi vẫn bình thản ngay ngắn và bất động… không, không bất động đâu. Tôi lung linh thấy đôi mắt mẹ tôi nhìn tôi, đôi mắt đó sao y như là đôi mắt của tôi… thì ra mẹ tôi đã cho tôi hai tròng mắt giống người… mẹ chồng tôi ở ngay cạnh đó, tôi gọi bà khi xưa là mợ… bà vẫn cười, nụ cười trong ảnh thiệt là tươi… và tôi, dường như, còn nghe bà nói, mỗi khi trao bát cơm nóng vào tay tôi, bát cơm mềm dẻo có phủ những món thịt kho, vàng ươm, thơm mùi tiêu:
 
«Con ăn đi, ăn cho no bụng, còn có sức khỏe và có sữa cho cháu… cố lên con!»
 
… Còn, còn bà mẹ kế tôi nữa, cạnh đó.
 
Và hai ông bố, ông nội và ông ngoại… hình như là các cụ đang nhìn thấy tôi lúng túng. À, ra các cụ chưa đi xa tít mù khơi, mà các cụ vẫn còn ở đó, ở cạnh các con cháu… để ươm mầm cho sự thương yêu! Và để tôi nhớ nay là 15-7 âm lịch.
 
Tôi không thể không nghĩ tới bà mẹ kế là dì tôi trong ngày lễ Vu Lan thiêng liêng này. Dì tôi về thế chỗ mẹ tôi hai năm sau khi mẹ tôi qua đời. Dì tôi đẹp trong mắt tôi và trong tâm trí tôi, bà nhà quê chính hiệu quê Thái Bình những năm 1950-1955 luôn luôn dì mặc váy xồi đen, áo cánh nâu , chít khăn mỏ quạ.
 
Mỗi khi dì đi tát nước ruộng, váy xồi của dì phất qua phất lại, theo nhịp gầu dai lên, xuống, ruộng trên ruộng dưới… dì tôi chăm sóc tắm giặt cho tôi y hệt mẹ chăm sóc cho con và trong bữa cơm chiều, dì nấu cơm trắng cho tôi và thằng cu em ăn. Thằng em này, dì tôi có nó sau hai năm lấy chồng. Tôi không quên những bữa cơm chiều lờ mờ, dì đẩy hai đĩa cơm, đầy cơm với cá lóc nướng về phía cái chõng cho chị em tôi ăn dì luôn dặn cu em:
 
«Bu cho con đầy cơm và cá, con ăn phần con và đừng chòi chòi sang phần cơm của chị, nó ăn chậm thì kệ nó…»
 
Tôi biết, sau này, bố tôi đi kháng chiến ở Đống Năm, rồi ông dinh tê về Hải Phòng, ông bỏ quên dì tôi ở quê nhà, ông quan hệ gia đình lần sau với người mới, tội nghiệp dì tôi, bà thương tiếc lắm, bà móc hầu bao lấy xu hào ra mua giấy bút, ngậm ngùi viết thơ cho chồng:
 
“Em mong anh đi chín về mười!” Những lời thơ đắm đuối đó chỉ có tôi đọc được, bố không thèm đọc, ông cho là cải lương, đàn ông tệ bạc quá, kể cả bố tôi!
 
Tôi thương cảm thân phận đàn bà bị bạc bẽo của dì tôi, người đàn bà chân phương quê mùa trải qua nhiều cơn gió bụi.
 
Ngày bố tôi từ Hải Phòng thuê người về trộm mang tôi đi theo bố, tôi khăng khăng đòi cho mang theo cu em nhưng bố tôi cũng khóc: “không thể được, mang em đi thì dì con thương nhớ nó mà chết mất”.
 
Ôi, đàn ông, họ chỉ giả vờ, thương vay khóc mướn, rồi nạt nộ liền ngay đó… tôi biết tôi đi rồi, dì tôi và em tôi cũng thương nhớ tôi lắm.
 
Sau này, sau 1955, di cư vào Nam, bố tôi làm việc cho hãng Tây rồi hãng Mỹ, ông nuôi tôi rất tốt, tôi được đi học hành tới nơi tới chốn, có công ăn việc làm chu đáo như ý nguyện của bố. Bố rất nghiêm với con cái, nhưng tôi khá cứng đầu, nhiều lần bố ra lệnh tôi cũng không làm… rồi cũng huề, ông không la rầy gì cả vì ông biết tôi là một phần cứng cỏi của ông.
 
Nhưng bố chồng tôi là một người khác, một người nhiều tình cảm và ôn tồn điềm đạm trong cách xử thế. Tôi nhớ không thể nào quên, những ngày đầu tiên tới định cư ở xứ sở Paris này, tôi khóc và nhớ thương Saïgon lắm, tôi nhớ đường đi lối về ở quê Việt Nam, nhớ đủ thứ, hàng quán, chợ búa, hàng xóm, anh chị em thân tộc… tôi khóc mùi mẫm và tôi không thích Paris… đó là dịp Noël, ở nhà thì vui hơn nhiều…
 
Tôi nhớ cả khu nhà thờ Thánh Tâm  vào dịp lễ rộn rang, đèn ông sao dăng mắc… và những bài thánh ca thổn thức… vinh danh chúa ở trên trời… bằng an dưới thế cho người thiện tâm!
 
Tôi cứ buồn dằng dặc như thế, cho tới tết ta, tôi càng khóc ấm ức nhiều hơn. Tôi nhớ cả học trò, nhớ cả các bạn đồng nghiệp… họ đâu hết rồi, ở đây chán quá, toàn Tây và Tây…
 
Chồng, con tôi khuyên can chán, bỏ mặc tôi. Vì can không nổi. Thôi cứ khóc chán chê đi…
 
Rồi những lá thư từ Việt Nam gởi tới, ông bố chồng tôi luôn luôn nhắc nhở hàng tuần… “này con, con có cái đầu con phải biết suy nghĩ phải trái… con được sang xứ sở tự do, con có chồng có con bên cạnh, con không còn sống chung với cộng sản, con còn khóc mếu tiếc thương cái gì? Con muốn về lại Saïgon đi xếp hàng mua gạo tổ ư con? Con phải nhớ trong toàn gia đình, nội ngoại, các anh chị em đều mong muốn đi khỏi đây như con, mà không được đấy… cả nước họ đều muốn xa rời cộng sản như con, thôi con được voi, đòi tiên quá rồi đó! Con nên đứng dậy, đi học lại, kiếm lấy một nghề, độ thân, xây dựng lại cơ ngơi, nuôi các cháu, đó là con biết nghe lời và bố mẹ ở đây yên tâm!?
 
Cứ những lời nhỏ nhẹ đó của bố mà tôi vực lại sức, xây dựng lại gia đình cho con cái có một mái ấm, có tương lai sáng sủa. Rất tiếc, ngày tôi về lại Việt Nam thăm nhà, thăm quê. Ông đã khuất bóng… tôi mang tấm ảnh ông in thêm một tấm nữa, mang đi theo và ngày nay ông đó, ông vẫn ở gần chúng tôi, trên bàn thờ gia tiên… vẫn đôi mắt hiền từ.
 
Xin lỗi, tôi làm mất thì giờ của bạn, bạn phải quan tâm tới cuộc đời tôi nãy giờ, nhưng  thưa, một quãng đời của chúng ta, nó tựa tựa giống nhau mà thôi, có khúc sông trong trẻo êm ru chẩy, có khúc gieo neo kỳ bão tố chập chùng… nhất là lúc này vào dịp Vu Lan, ai ai cũng hồi tưởng nhớ lại ông bà, cha mẹ, tổ tiên chúng ta là cội nguồn bất diệt…
 
Mỗi năm, tháng 7 mùa Vu Lan, biết bao gia đình trên cõi tạm này như ấm lại bởi tấm lòng hiếu thảo của những người con hướng về các đấng sinh thành… nhứt là khi có sự trai lì vô cảm, hờ hững vô ơn đang làm sa mạc lan rộng. Mùa Vu Lan như những cơn mưa tưới tẩm những vùng đất sỏi đá… nhiều hy vọng ôm mầm cho sự yêu thương và lòng tri ân qua chữ hiếu.
 
Người Á Đông luôn cho rằng trong trăm ngàn nết tốt, thì hiếu là hàng đầu. Trong nho giáo, kinh hiếu đặt ngang hàng với kinh dịch, kinh lễ, kinh thi, kinh thư, đức Khổng Tử nghĩ rằng con người khó trực tiếp với lòng nhân từ, nên ngài chủ trương dậy cho con người hiếu đễ, từ đó làm nền tảng cho đạo nhân từ. Không có hiếu, không biết tri ơn, làm sao có lòng nhân từ? Không yêu thương cha mẹ, làm sao nói tới lý tưởng, tình yêu, hy sinh, nhân loại… viễn vông?
 
Chúng ta được mang hình hài con người là điều vô cùng may mắn vì thân người khó có được giữa dòng sinh tử luân hồi. Đạo lý Á Đông, phật giáo, khổng giáo không bao giờ cho phép một con người được lên án, kết tội, la rầy cha mẹ, đừng nói chi tới việc đối xử vô ơn, nhẫn tâm hay bỏ mặc.
 
Sách Mạnh Tử kể rằng ông Cổ Tẩu, cha vua Thuấn, phạm tội giết người phải chịu tội chết. Ông Cao Dao chấp pháp xử tử ông Cổ Tẩu.
 
Vua Thuấn phải xử lý thế nào?
 
Xét về tình, vua phải bảo vệ cha khỏi chết là đạo trời.
 
Xét về lý, vua phải cho xử tử cha để bảo vệ trật tự xã hội.
 
Vua rất khó nghĩ. Rồi ngài Mạnh Tử đã kể lại sự tích một giải pháp mang tính điều hòa, sâu xa giữa tình và lý, đượm nhiều ý nghĩa nhân văn, là một bài học làm con, mà mãi mãi sâu xa trong hậu thế, đó vẫn còn là một bài học kinh điển  về đạo lý làm con hiếu thảo với cha mẹ. Đó là một bài học dung hòa giữa lý và tình, giữa hạnh phúc và trách nhiệm. Vua Thuấn làm vua nước Trung Hoa, thời thượng cổ, cách chúng ta nay khoảng 4300 năm (theo sử liệu văn học, trong nho giáo, quyển thượng, của cụ Trần Trọng Kim biên soạn).
 
Bài học đó được ngài Mạnh Tử tóm lược lại như sau: “vua Thuấn xem việc bỏ thiên hạ, bỏ ngai vàng như bỏ một đôi dép rách.
 
Vua lén đưa cha đi trốn, xa thiệt xa, đi lần theo bờ biển một xứ xa lạ mà cha con ở với nhau, lần hồi sinh sống suốt đời vui vẻ cha con mà quên đi những giăng mắc trong thiên hạ”.
 
Vua Thuấn đã tìm được sự dung hòa trong mâu thuẫn giữa lý và tình, giữa hạnh phúc và trách nhiệm. Ngài là vị vua vui lòng hy sinh địa vị để cứu vãn nền đạo lý làm người, cho muôn ngàn thế hệ mai sau… học hỏi!
 
Nhìn trở lại, cũng thế, tấm lòng cha mẹ đối với con cái vẫn là sự hy sinh vô bờ bến. Mời bạn xem bộ phim the edge of heaven của nhà văn Đức, gốc Thổ Nhĩ Kỳ, nhân vật chính là Nejat, một giáo sư văn học, do một ngộ nhận mà giận cha mình.
 
(Đó là ở tục lệ Abraham hiến tế con là Isaac trong kinh cựu ước).
 
Nejat nhớ lại thuở bé, khi một lần đó, anh đã hỏi cha anh: cha phải làm gì trong trường hợp phải hiến tế con cho thượng đế?
 
Và người cha đã mau mắn trả lời: “cha thà làm kẻ thù của thượng đế chớ không bao giờ để thương tổn đến con của cha!”
 
Từ hồi tưởng đó, Nejat tìm về hòa giải với cha ông.
 
Câu trả lời dứt khoát của người cha trong sự tích Abrahim đó đã nói lên được đầy đủ và tất cả tấm lòng những bậc làm cha làm mẹ trong thiên hạ. Không có một lý tưởng nào cao siêu vượt bực hơn lòng cha mẹ thương yêu con cái. Đó là môt thiên tánh bẩm sinh.
 
Đạo phật cũng y vậy, luôn luôn dậy phật tử:
 
Phụ mẫu hiện tiền là phật tại thế.
 
“Nam mô đại hiếu Mục Kiều Liên bồ tát!”
 
Báo hiếu mẹ cha là bài học đầu tiêncho mọi sự tri ơn trong cuộc đời mỗi con người.
 
Công cha như núi thái sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
 
Cha mẹ yêu thương ta là lẽ tự nhiên, là bẫm sinh (inné). Còn ta yêu thương cha mẹ ta, chỉ ít nhiều là tự nhiên, phần nhiều còn lại, phần nào do cuộc sống văn hóa dậy dỗ. Do đó văn hóa và giáo dục là cần thiết, đừng chối bỏ…
 
Thưa vậy hiếu đạo với mẹ cha, là bài học đầu tiên cho sự tri ơn… tri ơn mẹ cha, tri ơn người và tri ơn cuộc đời mình đang sống, đang ở trong.
 
Chung cuộc, có cha mẹ thì mới có con cái và con cái có yêu thương cha mẹ thì xã hội nhân loại mới vững vàng… đúng như nhận xét:
 
“Ngàn sau sỏi đá vẫn cần có nhau!"
 
A Di Đà Phật
Paris 26/7 mùa Vu Lan 2026

Chúc Thanh

Lời Phi Lộ: Xin ai đó khi đọc tựa đề “Chết Tại Buôn Mê Thuộc” đừng có vội nghĩ ngay rằng tôi đang viết về” Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Không, đây là câu chuyện hoàn toàn khác hẳn và xảy ra tại Mỹ vào những tháng đẩu năm 1997 đến năm 2000 và câu chuyện được bắt đầu như sau:
Trời tối đen như mực, tiếng mang tác, tiếng hổ gầm từ đại ngàn vọng về xen vào bản hợp tấu bất tận của lũ ếch nhái côn trùng quanh con suối Hầm Hô.
Vừa vói tay muốn lấy cuốn sách đọc dỡ dang tối hôm qua để đọc tiếp, nhưng Phượng-Quỳnh vội dừng tay; vì nghe điện thoại reng. Phượng-Quỳnh vội chụp ống nghe, bước nhanh sang chiếc xa-lông nhỏ; vì ngại tiếng nói chuyện sẽ làm mất giấc ngủ của đứa cháu cưng.
Bây giờ là mùa xuân, chỉ sau Tết mới tròm trèm mươi ngày, nghĩa là khí dương đang mạnh và mọi thứ đang sinh sôi nảy nở. Nàng nhớ da diết vườn cải hoa vàng nơi góc quê. Cái màu vàng miên man như một dòng ánh sáng dắt con người lùi dần vào một nơi chốn nào đó khuất lấp và sáng dịu, một thứ ánh sáng đã bị bọc kín bởi hoài niệm, xa xôi sương mù.
Nằm trong lòng Nhân, Ngân cuộn tròn như chú mèo con, mặt dụi vào ngực để tìm hơi ấm và ngửi mùi thân thể người yêu. Mặt trời lên cao, ánh sáng xuyên qua khung cữa kiếng lớn của căn phòng, không còn ngủ nữa nhưng cả hai luyến tiếc mộng đẹp nên chưa muốn dậy.
Người thì bảo “Chiến Tranh Việt Nam” là cuộc nội chiến Bắc Nam, kẻ thì bảo đó là cuộc chiến chống xâm lăng, chống lại các đế quốc Cộng sản và Tư bản. Riêng tôi, là một bác sĩ phẫu thuật, tôi biết Chiến Tranh Việt Nam” đã là thảm họa của quê hương tôi, của dân tộc tôi..
Con Mén đi ngang, mùi hương bông bưởi từ mái tóc tỏa ra thoang thoảng. Thằng Mễn hít lấy hít để, laị lấy tay quạt quạt như muốn gom hương vào mũi, tụi thằng Chí, thằng Ròm… cười ngặt nghẽo làm con Mén thẹn thùng. Con Mén liếc một cái sắc lẻm.
Mau quá anh nhỉ, mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm.
Tôi không có thói quen viết về những nhân vật nổi tiếng đã qua đời; dù để “dựa hơi” hay là trút tất cả bất bình/phẫn nộ cho những người không thể nào tự biện minh được! Do đó khi hay tin nhà văn Mai Thảo qua đời, tôi chỉ biết âm thầm niệm kinh/cầu nguyện cho linh hồn anh Mai Thảo được về cõi Vĩnh Hằng!
Y Uyên tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1940 tại làng Dục Nội (nay thuộc xã Việt Hùng), huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Việt. Là con cả trong gia đình có 9 người em, năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp. Học trung học tại các trường Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn). Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964, dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964 - 1968.
Yasunari Kawabata sinh năm 1899 và mất năm 1972. Gia đình ông sung túc có truyền thống văn hóa cao. Cuộc đời ông nhiều tang tóc. Ông sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Lên bảy, ông mất bà nội. Người chị độc nhất cũng qua đời khi ông mới lên chín. Tang tóc làm tuổi thơ ông không bình thường, và phải chăng đã tạo ra nét mất mát bơ vơ trong văn chương ông.
Đây là tựa đề một tác phẩm văn học rất dễ thương của nhà văn Vũ Bằng. Ông bắt đầu viết từ tháng Giêng 1960, tiếp tục viết 1965, và hoàn thành vào khoảng 1970 – 1971. Hơn mười năm cho một quyển sách, có thể là dòng suy tưởng của tác giả bị gián đoạn do công việc mưu sinh, có thể tác giả chưa nắm bắt được sự rung cảm của riêng mình.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.