Hôm nay,  

Hồn Đã Đi Về Đâu?

04/09/202600:00:00(Xem: 214)

Minh họa Duy Thanh
Minh họa: Duy Thanh
 
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó.

Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau:

“Ông đã đi đâu rồi?”

Và ngẩn người. Ông đã vào nằm trong một chiếc “hòm” và như đã biến mất. Mi, đứa bé lên năm, nhìn vào chiếc đèn nến mới hình thành, lẩm bẩm:

“Có phải Ông đã đi vào cây đèn này không?”

Nhà nội có một căn gác rất rộng, được gọi là gác thờ, nhưng thật ra không chỉ dùng để thờ. Có một góc lưu giữ toàn những vật cũ kỹ, không mấy khi dùng, như cái mâm đồng nặng trịch, chiếc bàn ủi than có cái chốt hình con gà trống, hay cây đèn “măng-sông” khi đốt phải bơm hì hục… Đặc biệt nhất là chiếc máy hát đĩa. Cái máy hát đĩa này không biết có từ bao giờ, dễ chừng còn hơn tuổi của Ba. Phải “lên dây thiều” cho nó hát. Khi đặt cái đĩa hát to tướng vào xong, phải cầm cái cần đã gắn kim đặt lên đĩa. Khi đĩa quay, tiếng nhạc cất lên. Nhiều chỗ đĩa bị hư, máy cứ lặp đi lặp lại một câu, nghe buồn cười lắm. Vào trong một chút là khu vực thờ. Nhà nội thờ các vị Phật, và thờ ông bà tổ tiên. Có đến sáu, bảy bàn thờ, đối với Mi là nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ thường kéo nhau lên gác, rồi cùng rủ nhau xuống. Chẳng đứa nào dám ở lại một mình. Không khí trên gác thờ là lạ. Có thể là vì ánh sáng tù mù, vì những ngọn đèn dầu thắp cả ngày đêm, hay vì mùi khói hương thoang thoảng chăng? Lũ nhóc thường nhìn thật nhanh lên những gương mặt trong các khung hình, đầu óc non thơ lóe lên những điều chưa hiểu.

Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.

Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nãy:

“Ông nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”

 ***

Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường: một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục. Vậy thì… họ đi đâu?

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.

Mi lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.

Cô bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay “cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành, không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ nhớ những câu rời rạc như:

Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở khắp mọi nơi,

Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian...
…Hoặc hồn ở đầu sông đầu suối
Hoặc hồn nơi bụi chuối, cành đa
Hoặc hồn nơi bóng xế chiều tà
Hoặc hồn lãng đãng là đà mây xanh



Rồi có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp, qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.

Những buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”

**

Khi Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?

Má và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?

Nhưng có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!

Nỗi đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng” để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.

Mỗi dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy, ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.

Các nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết. Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã “đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa. Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được, phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ, cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.
Và nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác khá sát ý của bài thơ:
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
 
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.
 
Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.
 
Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo…
Nghe giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở lại.

Mùa Vu Lan 2026
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(1) Phim “Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker
(2) Bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

Chiếc đồng hồ treo trên vách gõ nhịp nhàng hai tiếng thảnh thót giữa đêm khuya tĩnh mịch. Từ đàng xa, vài con chó trong xóm vắng gầm gừ sủa ma nghe thấy lành lạnh người. Tiếng gió đưa xào xạc mấy hàng dừa bụi chuối bên hè cộng thêm giọng ểnh ương oàng oạc tạo thành khúc nhạc êm ái đặc biệt hắt hiu của đồng quê miền Nam. Mùi hương hoa bưởi hoa cau cũng nương theo làn gió đêm len lén vào nhà nghe thoang thoảng nhẹ nhàng. Cho tới giờ này mà Phi vẫn chưa ngủ được, nó cứ nằm lăn qua trở lại với nỗi buồn nhức thịt nhức da, đau buốt tâm can vì sáng mai này nó phải chia tay với con Hồng Thắm, người chị láng giềng lớn hơn nó hai tuổi và cũng là người mà nó thân thiết nhất xóm, còn hơn cả con Mai em gái của nó nữa . Mà nói nào ngay thì Hồng Thắm có đi xa xôi cách trở gì cho cam, chị chỉ qua Mỹ Tho học mà từ nhà tụi nó ở ngay chợ Ngã Tư An Khánh-Bình Đại (Bến Tre) qua có cái Bắc Rạch Miễu là đã tới nơi rồi.
An cười, nhưng chợt khựng lại với ý nghĩ không biết bao giờ mới có thể cùng Mẹ đến những chỗ đông vui như vậy. Hơn hai tuần lễ thực hiện điều “ở yên trong nhà” mà thấy lâu như cả năm. Mặc dù An đã kéo hết công việc về làm tại nhà, không phải đi đến sở, An thấy vẫn còn nhiều thì giờ trống. Chính là những lúc trước đây dành cho việc chạy bộ tập thể dục, là những lúc đẩy xe cho Mẹ đi dạo để hít thở chút khí trời trong lành, là những buổi họp mặt bạn bè, đàn ca hát xướng cho vui… Nhiều lắm! Khi bình thường không ai để ý những điều đó, đến khi phải sống trong một bầu không khí mới, sẽ thấy có sự khác biệt rõ ràng.
Thắp nhang tụng thời kinh công phu buổi sáng, tôi mỉm cười đón tia nắng mai đầu Xuân đang lạnh tràn lên chiếc áo tràng và thành tâm cầu nguyện “âm siêu dương thái, dịch bệnh tiêu trừ” cho đệ tử và chúng sanh không phân biệt. Tiếng chuông hồi hướng đưa tôi vào ngôi chùa Tự Tại để được sống thêm một giờ, một ngày hay bao lâu nữa cũng được trong thanh tịnh và an vui.
Để tưởng nhớ đến các đồng bào Việt Nam đã bỏ mình trên bước đường đi tìm tự do Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum . Bà Elizabeth Becker trong quyển sách "Khi chiến tranh đã chấm dứt , 1986" dẫn chứng lời của vị Đặc Ủy Tối cao Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc: 250.000 thuyền nhân chết trên biển cả; 929.600 người được tỵ nạn. Tâm trạng hắn lúc đó thật là phức tạp. Hắn vừa hồi hộp, vừa lo lắng, vừa bùi ngùi đứt ruột vì phải xa lìa đất mẹ, nhưng đồng thời hắn cũng cảm thấy vô cùng phấn khởi náo nức khi nghĩ đến mỗi bước đi tới sẽ là những bước đưa gia đình hắn đến gần một chân trời mới đầy tự do và hy vọng… Tất cả mọi người đều bị ếm trong khoang ghe, không được gây tiếng động. Mấy cháu bé đều bị cho uống thuốc ngủ trước đó hết. Trong khoang ghe, tất cả được chia nhau ngồi chen chúc dọc theo hai bên vách. Mọi người đều im lặng.
Biển mùa hạ xanh biếc, màu xanh tưởng chừng như thông suốt từ đáy biển lên tận bầu trời, cái màu xanh mát mắt lạ thường, chỉ nhìn thôi đủ thấy khoan khoái, bao nhiêu bực dọc và phiền não như tan trong làn gió. Hàng ngàn người đang vùng vẫy trong làn nước xanh mát ấy.
Mỗi lần mùa đông trở về với Cali, tôi lại bồi hồi nhớ lại những mùa đông ở một nơi khác. Không phải là những mùa đông êm ả, thân quen của Đà Lạt, nơi tôi sinh ra và lớn lên, mà là những mùa đông lạnh lẽo, vô cùng khắc nghiệt ở một nơi khác, xa lăng lắc. Nơi chốn đó đã cho tôi bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, nhớ nhung của tuổi thanh xuân. Thành phố nhỏ bé đó có tên là Komsomolsk, ở tận xứ Ukraine xa tít mù, nơi tôi đã sống và làm việc trong suốt bốn năm trời, và cũng là nơi đã hun đúc nên một tình yêu cho mãi đến bây giờ.
Trong tình hình "cấm túc tại gia", hầu hết mọi người ở nhà, không lái xe đi xa, tai nạn xe cộ gần như không có, vì đường nhỏ, đường lớn đều "đường thênh thang gió lộng một mình ta", công ty AllState sẽ hoàn lại 600 triệu tiền bảo hiểm cho những người mua bảo hiểm xe hơi của họ. Hy vọng AAA, Công ty bán bảo hiểm lớn và lâu đời nhất ở Mỹ cũng sẽ theo bước chân của AllState . Điều buồn nhất là theo nhiều ý kiến chuyên môn, phải mất một khoảng thời gian dài, rất dài trước khi cuộc sống trở về bình thường. Coronavirus không chỉ đến rồi đi, mà còn ở lại và tung hoành ngang dọc. Đời sống vốn buồn nhiều hơn vui,trong tình hình này dường như phải đổi thành đời sống vốn dĩ buồn lo.
Cứ mỗi độ Xuân về là Phong nhớ lại một mùa Xuân kỷ niệm vào đầu thập niên 60 lúc chàng đang học lớp Đệ Nhất trường trung học Nguyễn Đình Chiểu Mỹ Tho. Thuở ấy, mặc dù theo học ban B nhưng Phong lại rất thích văn chương thơ nhạc nên thường tới nhà cậu 9 Hoàng là cậu ruột của Phong để học đàn vì Cậu 9 rất giỏi về băng cầm và Tây Ban Cầm. Sự giao du của hai cậu cháu thân tình tới độ có lúc cả hai tưởng chừng như là hai anh em mặc dù cậu lớn hơn Phong tới 13 tuổi và ngay cả đứa con trai lớn của cậu là thằng Long chỉ nhỏ hơn Phong có 7 tuổi.
Trời ngả chiều nhưng mặt trời vẫn sáng rực rỡ. Nắng vàng ấm và gió nhẹ khiến phố xá thêm êm đềm tươi mát, mà đường phố vắng tanh chỉ lác đác vài chiếc xe vài bóng người. Đại dịch và chỉ thị giới hạn sinh hoạt đã trả cho thành phố cái thanh bình yên ắng. Ngà nhớ những bức ảnh Sài Gòn xưa đăng trên những trang facebook, cái thuở thái hòa những năm 1930’s, 40’, và 50’s, khi Sài Gòn chỉ nhiều nhất một vài triệu dân và mọi sinh hoạt dường như nhỏ nhẹ.
Gương mặt thoáng nụ cười nhẹ nhưng lộ vẻ mãn nguyện, khi một làn sóng đê mê lan toả khắp thân thể. Smith Baron cảm nhận có bàn tay ai đó ve vuốtthân thể mình, bàn tay vô hình áp lên má và ôm ấp lấy ngực… Smith Baron trở mình, mở mắt vì tiếng con puppy sủa ăng ẳng bên giường, thoáng thấy bóng mờ mờ như nhân dạng người đang bước về hướng cầu thang.
Thiếu Tá Lê Hữu Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày ba mươi tháng Tư bảy lăm: - Tôi là lính địa phương quân đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngòai Bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được ‘lệnh tha’ thuôc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngòai Bắc nghề chính của tôi là sẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…
Một y tá trong Phòng Chăm Sóc Đặt Biệt (ICU) làm việc tại Bệnh Viện của Đại Học Chicago nói với CNN rằng cô sợ hãi khi nghĩ đến một tuần nữa không biết ICU sẽ ra sao, khi nghe người đứng đầu Cơ Quan Phục Vụ Y Tế Công Cộng Hoa Kỳ nói rằng Chicago là một trong những điểm nóng đại dịch corona đang bùng lên tại Hoa Kỳ. “Số bệnh nhân Covid mà chúng tôi nhận gia tăng nhanh mỗi ngày và tất cả chúng tôi đều lo lắng điều gì sẽ xảy ra khi nó ngày càng tồi tệ hơn,” theo cô y tá không muốn nêu danh này cho biết. Và cô ấy không phải là người duy nhất lo sợ, theo cô. “Khi tôi làm việc trong đơn vị Covid, một số y tá đã không muốn ăn hay uống cả 12 giờ đồng hồ bởi vì họ sợ phải tháo ra và mặc vào dụng cụ bảo vệ cá nhân PPE,” cô đã kể lại như thế. Cô thuật lại rằng rất là khó chịu để nhìn thấy sự tổn thất mà vi khuẩn corona gây ra cho những gia đình không thể thăm người thân đang nằm trong bệnh viện. “Thật là đau lòng cho những gia đình của các bệnh nhân này phải nằm ở nhà trong lúc người thân của họ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.