Hôm nay,  

Hồn Đã Đi Về Đâu?

9/4/202600:00:00(View: 207)

Minh họa Duy Thanh
Minh họa: Duy Thanh
 
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó.

Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau:

“Ông đã đi đâu rồi?”

Và ngẩn người. Ông đã vào nằm trong một chiếc “hòm” và như đã biến mất. Mi, đứa bé lên năm, nhìn vào chiếc đèn nến mới hình thành, lẩm bẩm:

“Có phải Ông đã đi vào cây đèn này không?”

Nhà nội có một căn gác rất rộng, được gọi là gác thờ, nhưng thật ra không chỉ dùng để thờ. Có một góc lưu giữ toàn những vật cũ kỹ, không mấy khi dùng, như cái mâm đồng nặng trịch, chiếc bàn ủi than có cái chốt hình con gà trống, hay cây đèn “măng-sông” khi đốt phải bơm hì hục… Đặc biệt nhất là chiếc máy hát đĩa. Cái máy hát đĩa này không biết có từ bao giờ, dễ chừng còn hơn tuổi của Ba. Phải “lên dây thiều” cho nó hát. Khi đặt cái đĩa hát to tướng vào xong, phải cầm cái cần đã gắn kim đặt lên đĩa. Khi đĩa quay, tiếng nhạc cất lên. Nhiều chỗ đĩa bị hư, máy cứ lặp đi lặp lại một câu, nghe buồn cười lắm. Vào trong một chút là khu vực thờ. Nhà nội thờ các vị Phật, và thờ ông bà tổ tiên. Có đến sáu, bảy bàn thờ, đối với Mi là nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ thường kéo nhau lên gác, rồi cùng rủ nhau xuống. Chẳng đứa nào dám ở lại một mình. Không khí trên gác thờ là lạ. Có thể là vì ánh sáng tù mù, vì những ngọn đèn dầu thắp cả ngày đêm, hay vì mùi khói hương thoang thoảng chăng? Lũ nhóc thường nhìn thật nhanh lên những gương mặt trong các khung hình, đầu óc non thơ lóe lên những điều chưa hiểu.

Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.

Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nãy:

“Ông nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”

 ***

Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường: một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục. Vậy thì… họ đi đâu?

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.

Mi lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.

Cô bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay “cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành, không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ nhớ những câu rời rạc như:

Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở khắp mọi nơi,

Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian...
…Hoặc hồn ở đầu sông đầu suối
Hoặc hồn nơi bụi chuối, cành đa
Hoặc hồn nơi bóng xế chiều tà
Hoặc hồn lãng đãng là đà mây xanh



Rồi có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp, qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.

Những buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”

**

Khi Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?

Má và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?

Nhưng có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!

Nỗi đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng” để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.

Mỗi dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy, ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.

Các nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết. Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã “đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa. Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được, phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ, cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.
Và nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác khá sát ý của bài thơ:
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
 
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.
 
Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.
 
Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo…
Nghe giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở lại.

Mùa Vu Lan 2026
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(1) Phim “Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker
(2) Bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

Thiện là hành động, lời nói hay ý nghĩ tốt, thường mang lại an vui cho người, cho mình có khi là cho cả hai phía và cho tất cả mọi người xung quanh. Thí dụ việc là của cơ quan Médecin du Monde, luôn cứu giúp tài chánh cho những người nghèo khó, hoạn nạn ở khắp năm châu lục. Việc làm gần đây của thầy Minh Thiền ở Đức Hòa Dĩ An, thầy và các phật tử đi cứu trợ thiên tai bão lụt Yagi ở miền Bắc Việt Nam, ở Lào Cai, Yên Bái và các vùng, miền người thượng, miền cao do bão lũ gây ra. Họ đói, khổ, lạnh, mất người thân. Phái đoàn chùa Đức Hòa tới tận nơi, lội nước bì bõm ngang bụng mang tặng nạn nhân mì gói, áo quần, tiền và lời vấn an cho những người còn sống sót, đem lời cầu nguyện vãng sanh cho những người đã bị nước lũ cuốn đi, A Di Đà Phât. Người làm việc thiện luôn mang lại niềm vui hạnh phúc và dĩ nhiên được mọi người thương mến, thích gần gũi.
Là trả lời cho bốn mươi năm, cứ vào thu, hắn chưa bao giờ quên gởi đi một lời chúc sinh nhật, để sau đó thẫn thờ dặn lòng đừng làm thế nữa vì không có ích gì cho cả hai. Hãy để ngày ấy lụi tàn sẽ nhẹ nhàng hơn cho cả hai trong cuộc sống không có đường quay lại mỗi lần nhìn thấy lá vàng rơi là thêm một mùa thu xa cách.
Trong số các bạn, có những người đã ra đi không bao giờ trở lại, em tôi là một trong những người đó. Người dân Miền Nam vẫn luôn giữ hình ảnh hào hùng của các bạn trong trái tim với lòng biết ơn bao la. Thầy Năng Tĩnh ở một mình trong ngôi Chùa nhỏ vùng ngoại ô, rất xa thành phố. Ngôi Chùa chỉ là chiếc “mobile home” trên vài mẫu đất, trước kia là một nông trại bé tí teo, có hàng rào kẽm gai chung quanh để trại chủ nuôi bò. Từ ngày lập Chùa, Thầy chỉ nuôi một con chó nhỏ để làm bạn và mấy con gà trống, thả chạy tự do đặng nghe tiếng gáy cho vui. Sát hàng rào Thầy trồng mấy dây mùng tơi, khổ qua, giàn bầu và mướp trái xum xuê, bên cạnh đó là mấy luống cải xanh, rau thơm, cà pháo. Sân trước, Thầy đào chiếc hồ xinh xinh, có hòn non bộ, đầy đủ cảnh “Sơn Thủy Tùng Đình” với “Ngư Tiều Canh Mục”, trông cũng vui mắt
Tôi có cảm giác mọi người trong xưởng rất thương mến anh em ông chủ hơn sợ chủ đuổi việc, và anh em ông chủ cũng thương mến mọi người như anh em chứ không chủ thợ rạch ròi. Việc đến phải đến, ông chủ mướn người vô chạy máy sỏi đá mà tiếng Anh gọi là “deburr machine” thay cho ông Mỹ đen đã qua đời. Ông này dị tướng nên anh em chờ xem tài của ông vì ông bà mình nói những người dị tướng thường có tài. Nhưng một tuần trôi qua, chỉ có tuần tới tiếp tục chứ không có gì lạ về ông trọ trẹ. Ai cũng biết ông người miền trung nhưng ai hỏi ông là người tỉnh nào ngoài trung thì ông gắt gỏng chứ không trả lời. Ông lên lớp giảng giải cho người miền bắc, người trong nam hiểu ra chính sách chia để trị của thực dân Pháp chứ đất nước Việt nam liền một dải, người dân từ bắc vô nam nói chung một ngôn ngữ là tiếng Việt từ đời cha ông để lại giang sơn gấm vóc nước Việt cho con cháu. Sao người Việt lại nô lệ tự nguyện cho Pháp, đi phân biệt bắc trung nam để chia rẽ chính dân tộc mình…
Ba chục năm trước, Bê đã bắt đầu sự nghiệp thể thao của Bê. Số là, Ba vừa học xong lớp chuyển nghiệp. Thời gian chuẩn bị thi cử, Ba dạy kèm cho một người bạn cùng lớp. Thi đậu, người bạn tạ ơn Ba một cặp vé Musik Konzert. Lúc đó, Bê ở trong bụng Mẹ đã hơn sáu tháng. Mẹ kể, Mẹ đang năm đầu ở đại học. Trời mùa đông, Mẹ đi học, mặc áo khoác dày cui. Bởi vậy, bạn học không ai biết Mẹ sắp sửa có em bé, chỉ ngỡ Mẹ hơi lên cân, zugenommen. Bác bạn của Ba có lẽ không dè vợ của bạn là bà bầu nên mới mời đi Rock Pop Konzert của ca sĩ Jennifer Rush.
Năm đó, 1999, miền Trung Việt Nam nhất là ở Huế đang chịu trận thiên tai bão lụt lịch sử lớn nhât từ trước cho đến thời điểm bấy giò. Trong hội chợ tết, người Việt ở đây San Jose vui Xuân nhưng không quên đồng bào ở quê nhà. Từng đoàn Hướng Đạo Sinh Việt Nam được phân phối nhiệm vụ cầm những thùng lạc quyên để quyên tiền cứu trợ. Đang lang thang trong hội chợ, hai em bé trong đồng phục Hướng Đạo chận tôi lại. Một trai một gái. Bé gái cao hơn bé trai non nữa cái đầu, chửng chạc nói “Chú ơi, ủng hộ đồng bào bảo lụt đi chú”. Trọn một câu tiếng Việt, tuy phát âm không trọn vẹn, nhưng khá rõ ràng. Tôi nhìn hai em, nhất là bé gái đang thắt cái nơ trên đầu cái nơ mầu đỏ! Tôi bỗng thấy lòng bâng khuâng man mác.
Qua sự giới thiệu của phụ huynh học sinh, chiều nay tôi có thêm học trò mới. Tuy tin tưởng vào người giới thiệu, nhưng tôi cũng có sự dè dặt thường lệ. Đây không phải là lớp dạy thêm bình thường, mà là lớp dạy kèm “Anh văn chui” tại nhà. Nếu bị bắt “tại trận”, tôi có thể bị đuổi việc (nhẹ) hoặc cả vào trại tù "miệt thứ" dài hạn như chơi. Tuy rất nguy hiểm, nhưng được sự “bảo mật” của học trò lẫn phụ huynh và nhất là khoản tiền thù lao rất hậu. Lương giáo viên cấp 3 lúc đó (1978-1979) mỗi tháng $70 đồng cộng nhu yếu phẩm, thì mỗi học sinh "dạy thêm" tôi nhận được $80/ tháng. Chỉ cần ba học trò là mỗi tháng tôi có thêm đến $240 đồng. Đối với giáo viên lúc đó không phải nhỏ! Cà phê cà pháo, cơm hàng cháo chợ cuối tháng vẫn dư tiền bỏ ống. Phần nữa, học trò lớp “Anh văn chui” của tôi thông thường chỉ vài ba tháng là “ra đi”, nên cũng thường xuyên thay đổi.
Vừa đi vừa ngắm lá vàng vừa suy nghĩ chuyện cũ mà đến nhà Sarah hồi nào hổng hay. Sarah mở cửa với nụ cười thật tươi, Lệ thấy ngay phòng khách những giỏ táo đầy ắp, Sarah giải thích: - Hễ cuối hè đầu thu là nhà tớ hái toàn bộ các trái táo ngoài vườn sau, một phần để sên mứt, phần sấy khô, và phần làm bánh táo nướng.
Nhà thơ Trần Mộng Tú gửi tới tôi bài “Mùa Hạ Đom Đóm và Dế Mèng” khi tôi muốn cùng các ông bạn đồng lứa tuổi trở về những ngày xưa thật xưa. Chị Tú hình như cũng cùng tâm trạng với các bạn không còn trẻ của tôi: “Tháng sáu, tôi đến chơi với anh tôi ở Virginia. Cái nóng rịn mồ hôi trên thái dương, và khó ngủ lắm, buổi tối, tôi với anh ra ngồi ở bực thềm, nói chuyện. Tôi bỗng thấy thỉnh thoảng có những chớp nho nhỏ như lân tinh sáng lóe lên rồi lại biến mất trong bụi cây thấp trước mặt, hỏi anh tôi, cái gì thế? “Đom Đóm” Tôi lặng người đi một lúc như nghe thấy ai nhắc tên một người bạn thân cũ, nó làm tôi xúc động. Xúc động một cách rất mơ hồ, chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là cái tên của một loại côn trùng bé tí được gọi lên. Cái tên nhắc nhở một quê hương xa lắc, một dĩ vãng nằm dưới tấm chăn phủ dầy lớp bụi thời gian. Trong bóng tối, tôi ngắm những cái chấm lửa nhỏ nhoi, lóe lên rồi tắt ngóm với trái tim nôn nao trong ngực. Có đến cả hơn bốn mươi năm tôi không được nhìn thấy những đố
Tọa lạc trong vùng ngoại ô Saint Maur, kề bên là bờ sông Marne hàng hiên ngang cửa nhà chú, chú đổ đầy đất đen đất vụn phải đi mua từng bao ở siêu thị bán cây trồng đất mua chú đổ vào lưng một cái bac ciment rộng lớn chạy ngang hàng hiên nhà. Trong bac chú trồng đầy hoa vàng, hoa nở thì lớn bằng đồng 50 xu, có năm cánh y hệt mai vàng ở Việt Nam, lá xanh non to bằng bàn tay con nít 5, 3 tuổi. Lá cũng rất thưa, hoa rất đẹp, vàng trong như mai ngày tết. Khi nắng gắt, mầu vàng có đậm thêm tí chút, sáng hé nở, trưa ấm nở rộ. Chiều chiều hoa cúp lại ngủ, ngày mai sáng sớm lại mãn khai, thân cây hoa chỉ cao lắm là đến đầu em bé 5, 6 tuổi. Nên hoa và cây không che vướng tầm nhìn từ trong nhà ra ngoài trời. Chú Phương yêu quý những cây hoa đó lắm. Vun tưới thường xuyên. Hỏi tên hoa đó là hoa gì? Chú trả lời ngon ơ: Đó là hoa vông vang của Đỗ Tốn, Chúng tôi không nhớ và cũng không biết ông Đỗ Tốn là ai
Trong sự bồi hồi xúc động, tay bắt mặt mừng, họ được gặp lại để trò chuyện với những người họ hàng thân yêu, những bạn bè xa gần thân thiết, nhìn thấy tận mắt những làng xưa chốn cũ, nhớ lại những kỷ niệm êm đẹp từ thuở thơ ấu cho đến ngày tạm thời phải rời bỏ những nơi này ra đi, ôi biết bao nhiêu nỗi xúc động trộn lẫn niềm sung sướng vô biên, nói làm sao cho hết được.
Những yếu tố lôi cuốn du khách đi du lịch đến một đất nước bao gồm cảnh đẹp thiên nhiên, văn hóa, thành phố lớn với những lối kiến trúc độc đáo, cuộc sống sôi động, ẩm thực, hoạt động phiêu lưu, kỳ thú ngoài trời, những buổi hòa nhạc, thể thao, nghệ thuật, hay lễ hội, địa điểm hành hương tôn giáo, phương tiện giao thông, vấn đề an ninh và bình yên; trong văn hóa, yếu tố con người chiếm một phần rất lớn khiến du khách khi rời xa, vẫn lưu luyến muốn trở lại lần nữa.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.