Hôm nay,  

Hồn Đã Đi Về Đâu?

04/09/202600:00:00(Xem: 196)

Minh họa Duy Thanh
Minh họa: Duy Thanh
 
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó.

Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau:

“Ông đã đi đâu rồi?”

Và ngẩn người. Ông đã vào nằm trong một chiếc “hòm” và như đã biến mất. Mi, đứa bé lên năm, nhìn vào chiếc đèn nến mới hình thành, lẩm bẩm:

“Có phải Ông đã đi vào cây đèn này không?”

Nhà nội có một căn gác rất rộng, được gọi là gác thờ, nhưng thật ra không chỉ dùng để thờ. Có một góc lưu giữ toàn những vật cũ kỹ, không mấy khi dùng, như cái mâm đồng nặng trịch, chiếc bàn ủi than có cái chốt hình con gà trống, hay cây đèn “măng-sông” khi đốt phải bơm hì hục… Đặc biệt nhất là chiếc máy hát đĩa. Cái máy hát đĩa này không biết có từ bao giờ, dễ chừng còn hơn tuổi của Ba. Phải “lên dây thiều” cho nó hát. Khi đặt cái đĩa hát to tướng vào xong, phải cầm cái cần đã gắn kim đặt lên đĩa. Khi đĩa quay, tiếng nhạc cất lên. Nhiều chỗ đĩa bị hư, máy cứ lặp đi lặp lại một câu, nghe buồn cười lắm. Vào trong một chút là khu vực thờ. Nhà nội thờ các vị Phật, và thờ ông bà tổ tiên. Có đến sáu, bảy bàn thờ, đối với Mi là nhiều lắm. Mấy đứa nhỏ thường kéo nhau lên gác, rồi cùng rủ nhau xuống. Chẳng đứa nào dám ở lại một mình. Không khí trên gác thờ là lạ. Có thể là vì ánh sáng tù mù, vì những ngọn đèn dầu thắp cả ngày đêm, hay vì mùi khói hương thoang thoảng chăng? Lũ nhóc thường nhìn thật nhanh lên những gương mặt trong các khung hình, đầu óc non thơ lóe lên những điều chưa hiểu.

Mỗi năm, các gia đình từ nhiều nơi lại tụ về nhà nội vào dịp hè. Các bạn nhỏ lớn lên dần. Căn gác thờ vẫn đó. Nhưng đã có thêm vài bức hình trên bàn thờ. Và không chỉ có ở nhà nội. Một số hình còn có ở nhà của từng gia đình nhỏ, như hình của Ông và của Bà.

Một lần, đứa em trai ba tuổi của Mi làm ra vẻ vừa khám phá một điều gì mới. Cậu bé lần ra sau lưng tủ thờ Ông nội, chỉ là một khoảng hẹp đủ để dựng mấy cây cờ. Cậu bé như muốn chơi trò “cút hù” với Ông, nhưng chưng hửng vì không thấy ai hết. Má nắm tay cậu bé dắt ra. Cậu giãy nãy:

“Ông nội trốn ở đâu? Ông nội đi đâu?”

 ***

Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác. Bà Thanh Đề đã được giải thoát nhờ công đức cúng dường của Ngài Mục Kiền Liên và sự tham dự cầu nguyện của cả tăng đoàn. Không chỉ được giảng trong chùa như một bài học về hiếu đạo, câu chuyện này cũng đã được thể hiện trong nhiều vở tuồng, chèo, cải lương. Ý niệm về nhân quả, luân hồi, cũng đã trở thành quen thuộc. Và qua đó, ý niệm về cuộc sống sau cái chết cũng hình thành. Mi theo thói quen, chấp nhận những ý niệm ấy một cách đơn giản. Nhưng cũng có những lúc Mi tự hỏi: Vậy sau khi chết, con người đi về đâu? Có phải là có hai con đường: một là thiên đàng, một là địa ngục, và chỉ vậy mà thôi? Và theo sau đó là rất nhiều câu hỏi. Bởi trong mỗi con người vốn đã có xấu tốt lẫn lộn. Không ai quá hoàn hảo để được lên thiên đàng, và cũng không ai quá xấu xa để bị xuống địa ngục. Vậy thì… họ đi đâu?

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được.

Mi lớn lên trong thời chiến tranh. Đầu óc non thơ cũng lớn theo. Những người bạn cùng lớp vào lính, một ngày nào đó ra đi vĩnh viễn. Họ đã đi về đâu? Chưa bao giờ có câu trả lời. Chỉ biết khi nhìn vào chỗ ngồi trước đây của bạn, trong lớp học, Mi nghe như có tiếng cười, giọng nói của bạn, vang lên… rồi xa dần.

Cô bạn thân của Mi, có vị hôn phu mất tích ở chiến trường Hạ Lào, trải qua nhiều ngày đêm mong chờ tin tức, rồi đành chấp nhận rằng anh ấy đã tử trận. Nỗi thống khổ làm cho người ta trở nên yếu đuối, tìm đến những giải pháp tâm linh. Cô xem bói, cô cầu cơ, mong “hồn” của anh ấy hiện về, một cách nào đó, cho cô gặp. Cầu cơ, với một miếng gỗ nhỏ bằng nửa bàn tay, lấy từ một mảnh ván hòm, thường được đẽo thành hình trái tim. Nhưng cũng có người dùng một đồng tiền xu thay cho mảnh ván. Người cầu cơ cùng với vài người khác sẽ đặt ngón tay trỏ lên “cơ” và đọc lời khấn. “Cơ” sẽ chạy trên một tờ giấy bìa lớn có vẽ những chữ cái và số, mục đích là sẽ ráp thành chữ, trả lời các câu hỏi. Những ngón tay sẽ chạy theo “cơ” hay “cơ” chạy theo ý chí của người, không biết được! Chỉ biết rằng, với lòng thành, không khí của những buổi cầu cơ rất trang nghiêm và cảm động. Sự trang nghiêm ấy phần lớn là do những lời khấn. Lâu ngày, Mi không nhớ chính xác bài khấn ấy, chỉ nhớ những câu rời rạc như:

Hồn ai ở chốn non bồng,
Qua đây hồn cũng vui lòng ghé chơi.
Dù hồn ở khắp mọi nơi,

Ghé đây đàm đạo chuyện đời trần gian...
…Hoặc hồn ở đầu sông đầu suối
Hoặc hồn nơi bụi chuối, cành đa
Hoặc hồn nơi bóng xế chiều tà
Hoặc hồn lãng đãng là đà mây xanh



Rồi có một lúc, “cơ” chạy. Những ngón tay chạy theo. Như là anh ấy đang về cho cô gặp, qua hơi ấm của mảnh ván, qua tiếng thổn thức của cô. “Cơ” đã dừng lại ở những chữ cái, ghép thành tên anh và tên cô.

Những buổi cầu cơ không mang lại cho cô lời đáp cho câu hỏi “Anh ở đâu?”

**

Khi Ba mất, Mi ở quá xa để lúc bay về nhà chỉ còn thấy Ba nằm bất động trong quan tài. Trái tim Mi đau thắt. Mi thấy mình nhỏ lại như đứa bé con năm tuổi, muốn khóc ré lên thật to. Ba ơi! Ba đi đâu rồi?

Má và các con ăn chay bốn mươi chín ngày theo lời khuyên của Sư Cô, để cho Ba được siêu thoát. Những ý niệm được hình thành từ những lời giáo huấn ấy, quả đã giúp người nhà chấp nhận sự mất mát, và thành tâm cầu nguyện. Ấy vậy mà bao nhiêu năm trôi qua, Má vẫn cầu mong được thấy lại Ba. Anh chị em Mi cũng vậy, rất mong một lần nào đó được thấy Ba hiện về. Người ta hay nói “hiện hồn” để hiểu rằng người đã khuất chỉ về bằng cái hồn mà thôi, không phải là thân xác. Nhưng hoàn toàn không có! Vậy là Ba đã siêu thoát chăng?

Nhưng có một trường hợp rất khác. Trong số các con của Má, Má đã mất một đứa con trai lúc chỉ mới ra đời chưa đầy một tháng. Má vẫn cứ thấy đứa con ấy về thăm Má. Mỗi lần như vậy, Má lại thấy em lớn thêm, như các con khác, theo tháng năm. Em đã trưởng thành, là một chàng trai khôi ngô khỏe mạnh!

Nỗi đau mất người thân, ai cũng từng trải qua trong đời. Ai cũng từng nghe những lời khuyên để giúp xoa dịu. Nhưng cái khoảng trống mà người mất để lại, rất khó được lấp đầy ngay lập tức. Nó hụt hẫng, nó ray rứt, nó nhức nhối khó tả, mà chỉ có hình bóng của người mất đó mới lấp đầy. Thân xác đã không còn, thì chỉ trông vào linh hồn! Và, như trong một cuốn phim, bởi quá quyến luyến người vợ thân yêu, người chồng quá cố đã trở về bên vợ, thậm chí đã có thể nhập vào một “bà đồng” để người vợ cảm nhận được anh. Và đặc biệt hơn nữa, là anh đã “cứu” được vợ của mình thoát khỏi kẻ ác… (1) Nhưng đó là phim. Và trong đời thật, có mấy ai làm được như vậy? Nếu có, cũng rất hiếm hoi.

Mỗi dịp Vu Lan, Má đều theo thông lệ, cúng cô hồn. Má nói, tháng Bảy là tháng xá tội vong nhân. Trong tâm thức của đại đa số người Việt Nam, dù không tận mắt thấy, ai cũng tin tưởng rằng con người chết đi nhưng phần hồn vẫn còn. Người ta vẫn thường nói “đi theo Phật” hoặc “về nước Chúa” với ước nguyện người thân của mình có một chốn bình yên sau cuộc đời này.

Các nhà thần học, các vị tu hành thuộc mọi tôn giáo, ngay cả các nhà khoa học cũng đều nghiên cứu và có nhiều cách giải đáp cho thắc mắc về cuộc sống sau cái chết. Nhưng câu hỏi “Hồn đã đi về đâu?” hầu như vẫn chưa có câu trả lời, ít nhất là trong những trường hợp cụ thể. Mấy mươi năm qua, Mi vẫn chưa biết Ông nội đã “đi” đâu, chỉ thấy Ông trong lần cải táng, với thịt xương của Ông đã tan rữa. Ba cũng vậy, ngoài nắm tro đang gửi trong chùa, Ba còn lại gì? Mấy mươi năm qua, cô bạn Mi vẫn chưa một lần thấy người yêu về nói chuyện với mình, cho biết anh đã đến đâu. Những người thân khác cũng vậy. Những gì người sống “thấy” được, phải chăng chỉ là do trí tưởng tượng, cộng với tình yêu thương sâu đậm, đã làm nên? Và Mi, tuy không mấy tin vào chuyện người mất rồi có thể hiện về, vẫn luôn mong mình được gặp lại những người thân yêu, kể cả những người bạn đã hy sinh trong chiến cuộc, luôn cả những người mà Mi đã không kịp nói với họ một lời cám ơn hay xin lỗi. Và, cho dù là tưởng tượng, cho dù là chỉ đến trong giấc mơ, cũng đủ cho chuyện cổ tích biến thành sự thật!

Họ đã đi về đâu? Chỉ có những người đã chết mới trả lời được. Nhưng những người còn sống… hình như cũng có câu trả lời. Với Mi, bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye (2) là câu trả lời rõ nhất. Nhà thơ viết bài này để an ủi một người bạn đau khổ vì không được ở bên mẹ khi mẹ của cô qua đời.

Do not stand at my grave and weep
I am not there; I do not sleep.
I am a thousand winds that blow,
I am the diamond glints on snow,
I am the sun on ripened grain,
I am the gentle autumn rain.
When you awaken in the morning's hush,
I am the swift uplifting rush
Of quiet birds in circled flight.
I am the soft stars that shine at night.
Do not stand at my grave and cry,
I am not there; I did not die.
Và nữ nhạc sĩ Trần Bảo Như viết nhạc phẩm “Tôi Vẫn Quanh Đây” với lời phóng tác khá sát ý của bài thơ:
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt,
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô cằn
Tôi trong ngàn cơn gió thoáng mơn man
Trong lấp lánh ngút ngàn hoa tuyết trắng.
 
Đừng đứng bên mộ tôi rơi nước mắt
Tôi đâu ngủ nơi lòng đất khô khan
Tôi nắng tung tăng trên đồng lúa chín vàng
Trong thu êm dịu lất phất mưa giăng.
 
Tinh sương giá băng lúc anh thức dậy
Tôi là bóng chim thoắt chốc vụt bay
Rời lũ chim ngoan lao xao chung bầy
Như cánh thiên di xa bay xứ lạ.
 
Khi đêm tối buông lối anh đi về
Tôi ngàn cỏ lá đón bước chân quen
Còn nếu khi người ưu tư riêng bóng
Tôi ánh sao xa góc trời mơ ảo…
Nghe giống như câu nói của người đã mất. Nhưng thật sự, đó là lời tự nhủ của người ở lại.

Mùa Vu Lan 2026
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh
(1) Phim “Ghost”, 1990, đạo diễn: Jerry Zucker
(2) Bài thơ “Do Not Stand at My Grave and Weep” của Mary Elizabeth Frye, 1934

Năm nào cũng vậy, tháng 7 tháng 8, mùa mưa, mùa lũ lụt lại về trừng phạt quê hương Việt Nam. Từ rất xa xôi, người Việt khắp nơi thấp thỏm buồn rầu và lo sợ cho cảnh ngập lụt, bão tố hoảng loạn ở nhà, không riêng chỉ miền Trung mà cả miền Nam cũng lụt, miền Bắc và Bắc trung phần bị càn quét dữ dội do bão Bualo, rồi kế đến là bão Matno. Miền Bắc và cả thủ đô Hà Nội mưa bão trước chưa kịp khô, lại ngập nước, đường phố hóa thành sông do vỡ đập nước Lạng Sơn, nước sông dâng cao đỉnh điểm, tại thành phố còn có một số tổ chức cứu trợ, nhưng kẹt là ở các tỉnh miền cao, nước lên quá mau, đa số dân cư phải leo vội lên trú trên những mái nhà cao hơn. Cũng tại xả nước các đập thủy điện nữa v.v…
Đợi, và đợi. Có đến khoảng gần một trăm người xếp hàng đợi. Mới có năm giờ sáng thôi! Trời Đà Lạt đổ sương xuống nghe ướt tóc, ướt vai. Phòng bán vé còn đóng kín cửa. Sáu giờ mới bán vé. Biết vậy rồi, nhưng đám đông người này vẫn đến sớm chờ đợi. Chẳng qua là số xe có giới hạn, mình đến sớm mới mong có xe đi, nếu không thì phải về và trở lại vào ngày mai. Người ta nhìn nhau, như ngầm nói qua đôi mắt rằng đến sớm chắc ăn hơn. Mà không chừng có người đã ngủ đêm trước phòng bán vé để được xếp hàng phía trên cùng.
Tháng 7 trời xanh cao, mùa lên hâm nóng. Mặt đất nung nhiệt ngấm ngầm địa chấn, như muốn cùng người rung vang lời ngân quá khứ. Tháng 7 gọi về hàng phượng đỏ thắm rung rinh chùm nở, thứ lung linh ảo mờ, gần gụi mà xa thẳm, “mù không lối vào...” (TCS). Vang vang trong gió, lời trẻ thơ láng giềng vọng lại đùa vui tiếng nước...
Nếu Thanksgiving ở bên Mỹ mang màu sắc rộn rã chuẩn bị cho mùa Giáng Sinh, thì Thanksgiving bên Canada lại rơi vào Tháng Mười dịu êm, có đủ màu sắc nâu vàng đỏ của lá cây chuyển màu cuối Thu, với màu cam của những trái pumpkins cho lễ hội Halloween . Những ngày này, gia đình tôi chộn rộn với những đợt “thu hoạch” cuối cùng, chuẩn bị dọn dẹp vườn tược sạch sẽ trước khi mùa lạnh đang đến. Theo ý nghĩa nguyên thủy của Thanksgiving là Tạ Ơn đất trời cho mùa màng bội thu, thì năm nay gia đình tôi cũng xin được Tạ Ơn. Mấy cây táo và plum trúng mùa trĩu quả, hái mấy lượt vẫn không hết. Những quả plum tím căng mọng ngọt ngào, vừa đem tặng bạn bè, hàng xóm, vừa để đông lạnh ăn dần, mà vẫn còn mấy rổ tươi đầy ắp. Mùa táo, nhiều gia đình Việt Nam thích đem ngâm chua ngọt, trong khi những người bản xứ làm mứt táo, hoặc sên táo làm apple pie, một trong những món bánh khoái khẩu của nhiều người trong bàn ăn Thanksgiving bên cạnh pumpkin pie .
Nhạc sĩ Hùng Lân mất vào ngày 17/9/1986 tại Sài Gòn. Hôm nay, ngày 17/9/2025 tôi nhớ tới ông. Tính ra đã 39 năm. Ba năm trước, tại nhà thờ Phanxicô Dakao đã có một lễ giỗ 36 năm ngày mất của ông. Linh mục Đỗ Xuân Quế, chủ tế lễ giỗ, đã nói trong thánh lễ: “‘Hôm nay là lễ giỗ thứ 36 của ông Phêrô Hoàng Văn Hương tức là nhạc sĩ Hùng Lân. Ông là người đáng cho chúng ta trân trọng và quý nhớ. Vậy chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho ông được vào nước Thiên Chúa. Nếu ông đã được vào rồi thì xin nhớ đến chúng ta là những người đang tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế đang hướng về Nước Trời.” Sau thánh lễ là chương trình tưởng niệm trong đó có tiết mục trình diễn nhạc của Hùng Lân, cả nhạc đạo lẫn nhạc đời. Người dẫn chương trình cho tiết mục này là nhạc sĩ Cao Huy Hoàng, đến từ Phan Thiết. Ông chia sẻ: “Nếu ngày ấy, thầy Hùng Lân qua đời, Chúa hỏi ‘nén bạc của ta đâu?’, thầy có lẽ không trả lời hoặc chưa trả lời kịp thì hôm nay, chúng ta có thể nhìn lại và thấy được rằng nén bạc của thầ
« Chưa gặp em tôi đã nghĩ rằng, có người con gái đẹp như trăng… khi gặp em rõ thấy một bà chằng! » … Chằng tinh, hay chằn tinh là một loài người hay cũng coi là một loài quỷ hung ác. Tùy vào hoàn cảnh, tùy vào người ta gặp, ta đối diện. Nay thế giới có nhiều loại chằn tinh, chằn ở trong mọi lãnh vực, chính trị, văn hoá, kinh tế, giáo dục và cả trong xã hội v.v…Do đấy, ta muốn tìm hiểu nguyên do chằn ở đâu ra. Hẳn là trong văn hóa Nam Bộ Việt Nam - Ấn Độ - Khmer…? Theo tác giả Huỳnh Thanh Bình, chằn là một loại sinh vật truyền kỳ, làm hộ pháp, canh giữ chùa, tháp, chánh điện phật giáo nam truyền và chiếm vị trí quan trọng trong văn hóa và tâm linh của người Khmer nam bộ, phổ biến trong kho tàng truyện kể dân gian và tuồng tích sân khấu của đa phần người Đông Nam Á.
Cả ông ta và tôi cùng cười xòa. Ui, mình đúng là đãng trí thứ thiệt. Phần Lan đã gia nhập Eurozone từ 1999 và dùng Euro ngay từ buổi đầu như những quốc gia thành viên khác. Ngày trước, nhắc đến những thủ đô bắc Âu, người ta thường nghĩ đến Oslo giàu có của Na Uy, Copenhagen trẻ trung của Đan Mạch. Giờ đây, Helsinki dần dà từng bước góp mặt vào danh sách những thủ đô được du khách ưa chuộng. Sức thu hút của thành phố ngày càng tăng. Từ 15 năm nay, Helsinki là một trong những thành phố tân tiến nhất Âu châu.
Bà xỏ chân vào đôi dép, lê lẹp xẹp vào buồng. Bà lấy ra một bịch nhựa trong đó đựng trăm thứ lặt vặt không ra hình thù gì. Bà nhìn trước, ngó sau như người ăn trộm. Chị mua ve chai đứng ở ngoài cửa bếp. Như một việc đã quá quen thuộc, chị đón lấy cái túi, móc vào cái cân xách. Trước kia chị phân loại giấy ra giấy, nhựa ra nhựa, nay thì hai bên đã thỏa thuận với nhau là có một cái giá trung bình cho toàn thể. Bà thì nhìn đăm đăm vào mớ hàng lặt vặt ấy như nhìn một thứ gì quý giá lắm. Mà không quý sao được, vì đó là kết quả của nhiều tuần bà lượm lặt và cất giữ.
Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi.
*SONG THAO Tôi chừ chỉ chơi thể thao trên ghế sa-lông, ngồi coi người ta chơi. Thứ tôi coi người ta chơi là hockey, tennis và đôi khi bóng tròn. Mình không còn khả năng thì coi người ta chạy nhảy cũng là một cách chơi. Cách chơi biết mình biết ta. Các ông bạn tôi cũng chơi như tôi. Có điều mỗi người chơi theo ý thích riêng của mình. Ông Hoàng Xuân Sơn, ông Luân Hoán cũng na ná như tôi. Nhưng ông Luân Hoán hơi ngả về bóng tròn. Ông Hồ Đình Nghiêm máu mê hơn. Ông sa đà vào bóng tròn. Thời gian vừa qua, ông coi giò coi cẳng các nữ nhân tranh giải bóng tròn thế giới FIFA một cách mê mệt. Ngày ngày ông bá cáo bà con trên Facebook tường tận về từng cặp chân vàng mà trắng, cô nào đá hay, cô nào chụp banh giỏi, ông rành như có họ hàng thân thiết.
Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân... nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.
Chẳng hiểu vì sao, vào lúc bắt đầu cảm thấy già, tôi lại lẩm cẩm đi tìm lại định nghĩa về chữ “bạn”. Bạn tôi là ai? Tại sao tôi lại kết bạn với họ? Lúc trẻ đã từng có một thời suýt bị vợ bỏ vì “lo cho bạn nhiều hơn cho gia đình”; nhưng khi đến độ tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận” tôi lại đâm ra làm biếng gặp hầu hết những nhóm bạn từng một thời thân thiết.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.