Hôm nay,  

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

28/09/202621:21:00(Xem: 591)
blank

 

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Trí nhớ của Cung Tích Biền có vẻ như tuyệt vời, theo cách ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ vực có thể có một số chi tiết ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà cũng đã thấy trí nhớ lãng đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê, tôi hỏi ông về một số người cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, một người tôi rất mực thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền, ông kể về những chuyện tôi chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm, lân tài. Bây giờ thì nhà văn Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.
 

Có thể tóm tắt vài câu về cuộc đời của nhà văn Cung Tích Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của mình rằng, nhà văn họ Cung là người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong vùng kháng chiến với nhiều năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ sóng gió giũa một thời nội chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các đam mê rất người, nhưng tận cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn ngữ trong khi đưa ra những dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền làm người. Cần ghi nhận: nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để tránh chữ "phản chiến" -- một cách nói tương đương, nhưng có lẽ đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại, cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ ai, bất kỳ sinh vật nào.

Cung Tích Biền đã kể rằng ông trong thời thiếu niên đã đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời đó ông cũng đi đánh đàn, chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh phúc.
 

Tháng 7 năm 2024, ông viết bài "Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.

Đó là lời ông nói, rằng đó là những ngày vui, hạnh phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động ở sân chùa thời niên thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ hòa theo lời dạy của giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại ai. Thêm nữa, chắc chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử kia về lời dạy Lục Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau. Người nào sống được như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước, không có gì để phải sân si giận dỗi trong cõi này.

Ông kể lại với nhà văn Vương Trùng Dương rằng, sau năm 1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra."
 

Hiển nhiên rằng ông cân nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung Tích Biền. Ban đầu, ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966 (tức là ba năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu Cung Tích Biền? Nhà thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây là tên ghép từ tên của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền" là tên một người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút hiệu của mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.

Nhà văn Vương Trùng Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến phân đôi này. Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, tập kết ra Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.
 

Cung Tích Biền sinh ngày 8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Trước khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan (trường Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973, Cung Tích Biền giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).

Sau năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu). Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung là hơn 150 truyện ngắn và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được dịch sang Pháp và Anh ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...
 

Khi nhìn lại, Cung Tích Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ cũng có thời trẻ ở vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo ngày 03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:

"Chúng tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn bút. Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong Cõi nhớ ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi trôi tút mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt tủ, dưới gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt. Không có thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung, chúng tôi, chừng là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra tương lai. Chỉ dặm dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản của Ngày qua." (ngưng trích)

Cuộc đời ông là như thế, một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng chiến chống Pháp, rồi tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi không mấy vui, phải sống với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm đàn đi tới các sân chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là những ngày vui, những giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ ai cũng là nạn nhân.
 

Tư tưởng chống chiến tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư” một cách điển hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ hậu 1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia đình đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như không thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới vợ, vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư thì phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và phải cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của Thừa, mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về làng, nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích Biền ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền." (Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)

Cả hai anh em đều đã mất một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong đêm văn nghệ mừng khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết mục “Anh em một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ dìu nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân người, hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư và Thừa ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân họ chạm vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động của lịch sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.

Đoạn kết Cung Tích Biền viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp cho Dư và đắp quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong bao năm dài chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ lâu nhường bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."
 

 Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác: truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống, lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe, nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất là con bò con.

Chiến tranh đã biến làng quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ lâu rời làng trở về, đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là Hương Đằng, nhân danh cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan hoang, người dân bỏ đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời sống hàng ngày.

Trong căn hầm tránh pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng còn trẻ, nhưng chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu thương con gái, thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại tình trạng sống như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào sau đầu Miệng và cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con bò cái bị bom giết chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con, bò, chó và quê nhà. Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con chó.

Bốn tháng sau, chú Sáu phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở thành phố, chú không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà cửa, thực phẩm và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng đồng, cánh đồng và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc con bò. Cuối cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan thành thịt, máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú quyết định trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”, nơi người ta có thể tùy ý bắn phá.

Trên đường về, chú Sáu gặp Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián điệp và đọc một “bản cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy chỉ là một mảnh giấy thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú Sáu chết mà không kịp biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ tuyên án tử hình.

Phần cuối truyện chuyển sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc gia. Đích cùng đơn vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những cánh đồng, gia đình và những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ còn cây cháy, nhà đổ, hố bom và những dấu vết chết chóc.

Đích gặp một đứa trẻ sống sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không còn gì để sống. Thế rồi một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã sình thối dưới mương. Người lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không biết đó là xác cha mình. Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi: “Ơ, hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó, để lại một cảm giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê nhà, và có thể đã đi ngang qua xác chính cha mình.
 

Để kết bài này, chúng ta có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền cũng chính là những gì đã được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền biểu tình để đòi quyền sống, đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản khác. Trong bài đưa tiễn Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông Dương, Ông Đã Đi Rồi" vào tháng 9/2019, trích:

"Sáng hôm nay, ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung tâm thành phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố, có thể có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền ngôn luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ sáng sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được bố thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."

Thế đó, cái mà chúng ta nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích Biền vẫn có mục tiêu cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật của Cung Tích Biền khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một ngày người dân Việt Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền làm người, để được nói và viết tự do.
 

Khi Cung Tích Biền từ trần, sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam; nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền căn bản ghi trong Hiến chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi vì, sâu thẳm của ý nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát từ lời dạy Lục Hòa trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt, nơi đó hoàn toàn vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn nhau. Thực sự, chủ hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ nào và với bất kỳ dân tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một ngày cứu được dân tộc Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà  và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.

Xin từ biệt nhà văn Cung Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời kêu gọi chủ hòa.

(Một số trích đoạn trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ
nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California
.)

 



Trên đường đến phòng trưng bày tác phẩm nghệ thuật của Gertrude Stein, tôi bước đi với tâm trạng phấn khích của một người sắp gặp Ernest Hemingway. Nắng chiều Paris phản chiếu từ cửa sổ những quán cà phê xuống con đường đá cũ tạo thành bóng râm dài phía trước. Tiếng reo hò chen lẫn tiếng đàn từ mấy quán bar nhỏ nơi góc phố gây nên bầu không khí sôi động dội vào tâm trí tôi...
Tôi bán hàng giải khát trước cổng nhà máy, khách hàng là những công nhân, bộ đội và cán bộ trong nhà máy. Tôi là “mụ” bán hàng “phản động” luôn tơ tưởng đến chuyện vượt biên. “tri kỷ” của tôi có chị Ky buôn bán ở xa cảng miền Tây, nghề mới của chị sau cuộc đổi đời 1975, trước kia chị là nhân viên một ngân hàng quận Gò Vấp. Chị Ky là hàng xóm, hôm nào ghé quán tôi không chỉ để uống ly đá chanh, uống ly cà phê mà cũng là dịp cùng tôi tâm tình than thở cuộc sống dưới thời xã hội chủ nghĩa, mơ ước chuyện vượt biên...
Mạ xếp hạng chuyện học hành của con cái là quan trọng hàng đầu. Với tiệm sách và quán cà phê, Mạ đã quán xuyến, lo cho gia đình có cuộc sống sung túc, thoải mái một thời gian dài...
Nghe tin chú Nghĩa sắp cưới vợ, bà con trong khu phố xôn xao nửa tin nửa ngờ. Chuyện lập gia đình ai trưởng thành chả thế! Ấy vậy mà với chú Nghĩa thì chuyện này hơi lạ. Đến khi chú đem thiệp đi mời hẳn hoi vậy chắc chắn là sự thật rồi không còn nghi ngờ gì nữa!
Từ ngày về hưu non, hai vợ chồng tôi cứ lục lọi hết website này đến website khác để tìm nơi đẹp đi du lịch; sợ rằng sự hào hứng của tuổi trẻ sẽ không còn nữa, nên phải đi hết những chỗ mình ao ước từ hồi nhỏ đã đọc sách mà không có thì giờ và phương tiện để thực hiện...
Cơn mưa nhỏ lướt qua bầu trời từ bình minh cũng đã chấm dứt; một tia nắng vàng lách qua lùm cây sồi chui vào góc chuồng cừu lớn. Những chú cừu đực ngập trong rơm rạ của máng ăn buổi sáng vừa ngẩng đầu về phía tia nắng và kêu be be...
Bây giờ, việc đi về giữa Mỹ và Việt Nam thật dễ dàng. Nhưng vào thập niên 80, 90 người đi kẻ ở tưởng chừng là biệt ly mãi mãi. Bạn đã nói với tôi như thế trong nước mắt. Và với sự ngăn cấm của gia đình, với tuổi trẻ khờ dại nông nổi, họ đã lạc mất nhau. Để rồi suốt phần đời còn lại, nỗi đau vẫn còn là vết thương rưng rức. Tôi xin ghi lại câu chuyện tình của bạn, như là một lời đồng cảm...
Ngạn rời căn nhà đó và xuống đây theo đơn xin đi làm trong hảng thịt bò. Ngày Ngạn đi cũng buồn tẻ ảm đạm như ngày anh rời đất nước. Người vợ và hai đứa con tiễn anh ở bến xe buýt ''Con chó rừng''...
Chiếc ghe vượt biển nhỏ xíu, mỏng mảnh của chúng tôi vậy mà chất lúc nhúc đến hơn 80 thuyền nhân, chẳng khác nào một cái lá lạc loài trên đại dương mênh mông, không biết đâu là bờ bến. Đoàn người rời bỏ quê hương tụm năm tụm ba, rải rác khắp thuyền, co ro trong cái lạnh ngoài khơi xa tít tắp, đầu óc hoang mang với trăm ngàn ý nghĩ...
Hôm ấy, trên facebook Group của nhóm cựu thuyền/ bộ nhân ty nạn Thailand, có xuất hiện bài post của Đức, chụp hình vợ chồng Đức đang tiễn con gái tại sân bay Tân Sơn Nhất đi qua Dallas Hoa Kỳ định cư theo chồng mới cưới. Ôi, chàng Đức chung chuyến tàu của tôi. Nhiều người quen cũ vào để lại những comments chúc mừng, cũng là những người tôi biết mặt biết tên, tôi liền vào tham dự, góp vui...
Người ta nói: “Hết quan là hoàn dân” và chỉ mong có vậy, đừng hết quan hoàn…tàn phế” thì buồn quá! Hôm nay lão Dụng đã tự ngồi dậy được. Lão không nhớ là mình đã nằm như khúc gỗ mục, bất động bao lâu rồi! “Mới đó mà đã lại sang một năm mới. Thời gian bây giờ có nghĩa gì đâu chứ!”: Lão lẩm nhẩm một mình!...
Trong một căn phòng motel nhỏ sạch sẽ gọn gàng chăn ga gối trắng, trên giường phủ một tấm trải lớn có thể dùng làm chăn đắp màu lông chuột, một người phụ nữ nằm khóc, và người đàn ông đang ra sức dỗ dành. Cô gái mếu máo “Anh à, anh X đã bỏ đi rồi!”...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.