Hôm nay,  

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

28/09/202621:21:00(Xem: 622)
blank

 

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa
 

Phan Tấn Hải
 

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Trí nhớ của Cung Tích Biền có vẻ như tuyệt vời, theo cách ông nói chuyện không do dự; dù vậy, tôi vẫn ngờ vực có thể có một số chi tiết ông nhầm lẫn, bởi vì bản thân tôi nhỏ tuổi hơn mà cũng đã thấy trí nhớ lãng đãng bên triền mây trắng. Đôi khi ngồi uống cà phê, tôi hỏi ông về một số người cầm viết Miền Trung, trong đó có nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ, một người tôi rất mực thân thiết trong những năm bạn này còn sinh tiền, ông kể về những chuyện tôi chưa từng đọc về đời của họ với giọng thương cảm, lân tài. Bây giờ thì nhà văn Cung Tích Biền cũng ra đi rồi.
 

Có thể tóm tắt vài câu về cuộc đời của nhà văn Cung Tích Biền hay không? Tôi muốn viết theo chủ quan của mình rằng, nhà văn họ Cung là người chủ hòa: bước vào đời từ thời niên thiếu trong vùng kháng chiến với nhiều năm hoạt động nơi sân chùa, bị xô đẩy theo đủ thứ sóng gió giũa một thời nội chiến, rồi sống như một nhà văn đời thường với các đam mê rất người, nhưng tận cùng luôn luôn là một ngòi bút đi tìm cái đẹp ngôn ngữ trong khi đưa ra những dòng chữ kêu gọi hòa bình và lời ước mơ có các quyền làm người. Cần ghi nhận: nơi đây chúng ta nói "chủ hòa" để tránh chữ "phản chiến" -- một cách nói tương đương, nhưng có lẽ đã bị ô nhiễm. Thực sự, chủ hòa chính là lý tưởng nhân bản nhất của nhân loại, cũng là của lời dạy của Đức Phật, rằng chúng ta không nên làm tổn thương bất kỳ ai, bất kỳ sinh vật nào.

Cung Tích Biền đã kể rằng ông trong thời thiếu niên đã đã từng sống 9 năm trong vùng kháng chiến và chính trong thời đó ông cũng đi đánh đàn, chơi nhạc. Thời gian này, ông cũng là một huynh trưởng Gia Đình Phật Tử. Trong một bài viết, khi kể về 2 tuần lễ tới khu Chợ Được để huấn luyện cho các đoàn sinh Phật Tử, ông gọi đây là những ngày hạnh phúc.
 

Tháng 7 năm 2024, ông viết bài "Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện" ghi rằng: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.

Đó là lời ông nói, rằng đó là những ngày vui, hạnh phúc... Chúng ta có thể hình dung rằng những năm hoạt động ở sân chùa thời niên thiếu đã hun đúc tâm hồn ông, đã dẫn tới khuynh hướng chủ hòa theo lời dạy của giới luật, rằng không ai có quyền gây tổn thương hay sát hại ai. Thêm nữa, chắc chắn rằng Cung Tích Biền phải dạy cho các đoàn sinh Phật tử kia về lời dạy Lục Hòa, tức là sáu pháp hòa thuận, từ ái và tôn trọng lẫn nhau. Người nào sống được như thế, sẽ thấy tâm mình y hệt như chữ viết trên nước, không có gì để phải sân si giận dỗi trong cõi này.

Ông kể lại với nhà văn Vương Trùng Dương rằng, sau năm 1954, khi đất nước chia đôi, "lúc đó anh 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra."
 

Hiển nhiên rằng ông cân nhắc rất kỹ trước khi cầm bút sáng tác với bút hiệu Cung Tích Biền. Ban đầu, ông bắt đầu viết thơ và truyện từ năm 1958 dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh. Chính thức từ tháng 3 năm 1966 (tức là ba năm sau khi vào quân lực VNCH), bút hiệu Cung Tích Biền xuất hiện lần đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật (do nhà văn Mai Thảo làm chủ bút) với hai truyện ngắn Ngoại ô Dĩ An và Linh hồn tôi. Tại sao chọn bút hiệu Cung Tích Biền? Nhà thơ Luân Hoán kể rằng ông chọn bút danh này đơn giản vì đây là tên ghép từ tên của các anh chị ruột trong gia đình. Trong đó, chữ "Biền" là tên một người anh đi tập kết. Nghĩa là, ông viết trong khi ý thức rằng bút hiệu của mình đang có tên một người anh đã tập kết, và rồi mất tích.

Nhà văn Vương Trùng Dương kể rằng Cung Tích Biền có 2 người anh chết cho cuộc chiến phân đôi này. Người thứ nhất trong gia đình hy sinh là ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, tập kết ra Bắc, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai là ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, ông Tấn đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất.
 

Cung Tích Biền sinh ngày 8 tháng 2/1936 tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từng theo học tại trường Quốc học Huế, Đại học Văn khoa Huế và sau đó là Đại học Luật khoa Sài Gòn. Trước khi vào quân đội VNCH, từng đi dạy học tại các trường trung học ở quê nhà Quảng Nam vào năm 1960. Năm 1963, bị động viên nhập ngũ và theo học khóa Sĩ quan (trường Bộ binh Thủ Đức. Từng phục vụ tại nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp, quân nhu và đồn trú tại các vùng như Tây Ninh, Hậu Nghĩa. Năm 1973, Cung Tích Biền giải ngũ với cấp bậc Đại úy do bị thương tích. Sau đó, ông trở thành giáo sư thỉnh giảng tại Viện Đại học Cộng đồng Quảng Đà (Đà Nẵng).

Sau năm 1975, ông ngừng viết một thời gian dài (khoảng 10 năm). Đến năm 1991, ông bắt đầu cầm bút trở lại, có truyện đăng trên các tạp chí trong nước (Cửa Việt, Sông Hương, Văn Nghệ) lẫn các diễn đàn văn học hải ngoại (Việt Báo, Hợp Lưu, Da Màu). Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 theo diện vợ con bảo lãnh. Tại Hoa Kỳ, Cung Tích Biền cũng ấn hành thêm nhiều tác phẩm. Tính chung là hơn 150 truyện ngắn và trên 30 tiểu thuyết, một số đã in thành sách, đã được dịch sang Pháp và Anh ngữ, và hàng trăm bài khác ở nhiều thể loại...
 

Khi nhìn lại, Cung Tích Biền nói lên tâm sự rất buồn, qua bài viết về một nhạc sĩ cũng có thời trẻ ở vùng kháng chiến. Bài viết nhan đề "Phạm Duy, Người Đi Cùng Mệnh Nước Ngược Xuôi -- Ra Đi Từ Lúc Trăng Tơ" đăng trên Việt Báo ngày 03/02/2023, với những dòng chữ tự sự rất buồn của họ Cung, trích:

"Chúng tôi chào đời vào buổi không mấy vui. Cái vui chưa đúng là vui, không đáng nhớ. Cái buồn đi lố cái gọi là buồn, phải kèm thêm từ “thảm”. Trốn đi đâu cũng chẳng thể ra ngoái nỗi nhớ…. Là nhà văn, khi cầm bút, quá khứ luôn đứng đầu chỗ ngọn bút. Mỗi giọt mực là một giọt/dòng dĩ vãng. Tất cả cái “bản đồ số phận” trong Cõi nhớ ấy, trong một thời/không gian có hạn định, đã từ lâu trôi qua. Có khi trôi tút mù trong bộ nhớ của nhơn loại. Nó như xác một con dán chết khô trong kẹt tủ, dưới gầm bàn bỏ quên. Mà chúng tôi vẫn nhớ. Nhớ tận mạng, li ti, day dứt. Không có thước tấc nào đo đạc đủ bề sâu chiều rộng cái Nhớ ấy. Nhìn chung, chúng tôi, chừng là một tộc người đang đánh mất hiện tại, mù đôi mắt nhìn ra tương lai. Chỉ dặm dài, hun hút một đôi-mắt-luôn-sau-ót, phản chiếu những phó bản của Ngày qua." (ngưng trích)

Cuộc đời ông là như thế, một thời ở sân chùa, một thời thiếu niên trong vùng kháng chiến chống Pháp, rồi tới cuộc chiến giữa hai miền Nam-Bắc: chào đời vào buổi không mấy vui, phải sống với một đôi-mắt-luôn-sau-ót... và không thoát khỏi nỗi nhớ. Nhưng nỗi nhớ nào? Chúng ta có thể suy đoán rằng ông luôn nhớ mãi thời cầm đàn đi tới các sân chùa để hướng dẫn các đơn vị Gia Đình Phật Tử, mà ông gọi là những ngày vui, những giờ hạnh phúc. Thực tế, chiến tranh cũng là thời mà bất kỳ ai cũng là nạn nhân.
 

Tư tưởng chống chiến tranh của Cung Tích Biền được hiển lộ trong truyện “Thừa Dư” một cách điển hình. Truyện “Thừa Dư” viết tại Sài Gòn năm 1992, tức là thời kỳ hậu 1975. Truyện kể về hai anh em sinh đôi Dư và Thừa, sinh ra trong một gia đình đông con. Ngay từ khi chào đời, hai người đã giống nhau đến mức gần như không thể phân biệt. Trong bối cảnh chiến tranh, hai anh em chia lìa: Thừa cưới vợ, vào lính VNCH, rồi giải ngũ và trở về khai hoang ở vùng núi Bình Thuận; Dư thì phiêu bạt theo một con đường khác. Thừa bị tai nạn trên đường từ rừng về và phải cưa mất chân trái. Nhiều năm sau, người kể chuyện là Ngọc nhận được thư của Thừa, mời về quê để cùng bà con trùng tu nhà thờ họ. Dịp này, Dư cũng sẽ về làng, nhưng cũng bị cưa chân, không được truyện nói rõ lý do, nhưng Cung Tích Biền ghi là do lý tưởng, trích: "Trong hương xưa ngất ngây, không ai than phiền mình đã bị gãy cẳng, hoặc vui vẻ được gãy cẳng vì lý-tưởng-có-sẵn-mì-ăn-liền." (Ghi nhận: lý tưởng này không được giải thích rõ trong truyện.)

Cả hai anh em đều đã mất một chân: Thừa mất chân trái, còn Dư mất chân phải. Trong đêm văn nghệ mừng khánh thành nhà thờ họ. Dư và Thừa cùng lên sân khấu trong tiết mục “Anh em một nhà, chúng ta cùng tiến bước”. Vì mỗi người chỉ còn một chân, họ dìu nhau, ghép hai thân thể thành một hình tượng có đủ hai chân nhưng hai thân người, hai cái đầu. Dư chơi guitare, Thừa thổi khẩu cầm. Cuối truyện, Ngọc, Dư và Thừa ngủ chung một giường. Trong đêm, Thừa đắp mền cho Dư và Ngọc; khi chân họ chạm vào nhau, Ngọc chợt nhận ra rằng ba người họ, sau tất cả những biến động của lịch sử, chỉ còn sống trên bốn cái chân.

Đoạn kết Cung Tích Biền viết, trích: "Gần sáng, trời trở lạnh. Thừa quơ mền đắp cho Dư và đắp quàng qua cho tôi. Chân chạm vào nhau mới sực tỉnh: Hóa ra trong bao năm dài chúng tôi ba người chỉ có, và chỉ sống trên bốn cái chân. Lịch sử từ lâu nhường bước cho một đám sinh vật bốn chân thủng thỉnh đi qua..."
 

 Một điển hình cho nền văn học chủ hòa khác: truyện ngắn Bạch Hóa, do Cung Tích Biền viết sau trận Mậu Thân, 1968. “Bạch Hóa” lấy bối cảnh một vùng quê Việt Nam bị chiến tranh tàn phá. Nhân vật trung tâm là chú Sáu, một người nông dân ít học, cả đời gắn bó với ruộng đồng và đàn bò. Đối với chú, con bò không đơn thuần là gia súc mà là một phần của đời sống, lao động và thế giới tinh thần của mình. Chú từng có một con bò đực rất khỏe, nhưng nó chết vì đạn pháo. Từ đó, chú đặc biệt quý trọng hai con bò còn lại, nhất là con bò con.

Chiến tranh đã biến làng quê thành nơi đầy chết chóc và sợ hãi. Sáu Vu, một người từ lâu rời làng trở về, đã tổ chức một cuộc xử án và chặt đầu chính cha của y là Hương Đằng, nhân danh cách mạng. Sau đó, chiến tranh tiếp tục làm làng xóm tan hoang, người dân bỏ đi, ruộng vườn bị phá hủy, bom đạn trở thành một phần của đời sống hàng ngày.

Trong căn hầm tránh pháo, chú Sáu sống cùng cô con gái Miệng và con chó đen. Miệng còn trẻ, nhưng chiến tranh đã khiến cuộc sống của cô bị bóp nghẹt. Chú Sáu thương con gái, thương người vợ đã chết và cảm thấy con người đang bị đẩy trở lại tình trạng sống như súc vật. Một đêm, pháo kích dữ dội. Một mảnh đạn xuyên vào sau đầu Miệng và cô chết ngay trong căn hầm. Con chó cũng chết. Buổi sáng, con bò cái bị bom giết chết. Chú Sáu mất dần tất cả những gì thân thuộc: vợ, con, bò, chó và quê nhà. Ngọc, người thương Miệng, âm thầm đào huyệt chôn cô và con chó.

Bốn tháng sau, chú Sáu phải rời quê đến một khu định cư. Chú chỉ còn con bò con. Ở thành phố, chú không thích nghi được với đời sống mới. Người ta cấp cho chú nhà cửa, thực phẩm và quần áo, nhưng những thứ ấy không thể thay thế quê hương, ruộng đồng, cánh đồng và đời sống cũ. Chú vẫn chỉ nghĩ đến việc kiếm cỏ và chăm sóc con bò. Cuối cùng, một trận pháo kích giết chết luôn con bò con. Nó bị phá tan thành thịt, máu và thuốc súng. Đối với chú Sáu, đó là giọt nước cuối cùng. Chú quyết định trở về quê, mặc dù mọi người cảnh báo đó là “vùng oanh kích tự do”, nơi người ta có thể tùy ý bắn phá.

Trên đường về, chú Sáu gặp Ô Mã Nhi và những người du kích. Họ buộc tội chú là gián điệp và đọc một “bản cáo trạng” giả tạo để kết án tử hình. Thực chất, tờ giấy ấy chỉ là một mảnh giấy thu lúa, nhưng Ô Mã Nhi dùng nó làm cớ để giết chú. Chú Sáu chết mà không kịp biết rằng chính người con trai của mình, Đích, cũng bị họ tuyên án tử hình.

Phần cuối truyện chuyển sang Đích, con trai chú Sáu, lúc này là một người lính Quốc gia. Đích cùng đơn vị trở về vùng quê của mình. Anh nhớ lại tuổi thơ, những cánh đồng, gia đình và những con bò ngày trước. Nhưng nơi quê nhà giờ đây chỉ còn cây cháy, nhà đổ, hố bom và những dấu vết chết chóc.

Đích gặp một đứa trẻ sống sót. Đứa trẻ nói cha mẹ mình đã chết dưới hầm và nó không còn gì để sống. Thế rồi một người lính khám phá ra một xác một cụ già chết đã sình thối dưới mương. Người lính nói xác ấy mặc áo viện trợ Chicago. Đích không biết đó là xác cha mình. Khi đoàn lính hành quân và rồi quay về lại, anh chợt hỏi: “Ơ, hồi nãy có đứa nào chịu khó chôn lão già không bây.” Truyện kết thúc ở đó, để lại một cảm giác đau đớn về một người con đã trở về quê nhưng không còn quê nhà, và có thể đã đi ngang qua xác chính cha mình.
 

Để kết bài này, chúng ta có thể nhận ra rằng ước mơ của nhà văn Cung Tích Biền cũng chính là những gì đã được ghi trong Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đó là quyền biểu tình để đòi quyền sống, đó là quyền tự do ngôn luận, và các quyền căn bản khác. Trong bài đưa tiễn Dương Nghiễm Mậu, Cung Tích Biền viết bài "Ông Dương, Ông Đã Đi Rồi" vào tháng 9/2019, trích:

"Sáng hôm nay, ngày chủ nhật. Mỗi buổi sáng cuối tuần tôi thường đi vơ vẩn khu trung tâm thành phố, quanh nhà thờ Đức Bà. Xem có gì “lạ” không. Xa xa, trên đường phố, có thể có một đám đông. Một đám đông dân chúng đi biểu tình đòi quyền sống, quyền ngôn luận, quyền làm chủ một đất nước có danh dự. Một phản xạ có điều kiện, cứ sáng sáng chủ nhật là tôi ra khỏi nhà. Như ngày ngày của một gã ăn xin, mong được bố thí, nửa ổ bánh mì, một mẩu vụn lời hứa cho Tự do..."

Thế đó, cái mà chúng ta nơi đây gọi là nền văn học chủ hòa trong truyện Cung Tích Biền vẫn có mục tiêu cụ thể, đó là ước mơ có quyền làm người. Những ngày Chủ Nhật của Cung Tích Biền khi còn ở quê nhà là những bước đi chờ đợi, hy vọng cho một ngày người dân Việt Nam được sống tử tế như con người, được tôn trọng các quyền làm người, để được nói và viết tự do.
 

Khi Cung Tích Biền từ trần, sách của ông vẫn chưa được phép in lại tại Việt Nam; nhưng chúng ta vẫn có thể tin rằng sẽ tới một ngày các quyền làm người, các quyền căn bản ghi trong Hiến chương LHQ sẽ được tôn trọng và thực hiện tại quê nhà. Bởi vì, sâu thẳm của ý nghĩa “chủ hòa” trong truyện của Cung Tích Biền là xuất phát từ lời dạy Lục Hòa trong các sân chùa khi các đơn vị Gia Đình Phật Tử sinh hoạt, nơi đó hoàn toàn vắng bóng bạo lực, nơi đó là hòa nhã, từ ái, và tôn trọng lẫn nhau. Thực sự, chủ hòa là ước mơ lớn của lịch sử nhân loại, bất kể ở quốc độ nào và với bất kỳ dân tộc nào. Và nền văn học chủ hòa chắc chắn sẽ đưa tới một ngày cứu được dân tộc Việt Nam, khi mọi người nhìn nhau như anh em một nhà  và xa lìa hẳn một quá khứ bạo lực.

Xin từ biệt nhà văn Cung Tích Biền. Anh đã có một chỗ đứng độc đáo trong văn học Việt Nam. Những gì anh viết sẽ được nhiều thế hệ về sau suy ngẫm, nghiên cứu và để rút ra bài học về lời kêu gọi chủ hòa.

(Một số trích đoạn trong bài này đã được tác giả đọc trong tang lễ
nhà văn Cung Tích Biền hôm Thứ Hai 28/9/2026 tại Quận Cam, California
.)

 



Cơn mưa đột ngột buổi chiều vào ngay giờ cao điểm đông xe, đông người trên phố. Trở lại công việc ngay mùng Ba Tết, bữa nay thì phải chạy giao hàng từ sáng sớm, tôi mệt mỏi tách chiếc ‘cánh én’ cà tàng của mình ra khỏi luồng xe, tấp đại vô một mái hiên. Một chiếc hai bánh khác cũng tấp theo và một cặp trai gái hối hả bỏ xe chạy vô đứng cạnh tôi...
Từ mấy ngày nay, chợ Đầm đã rộn rịp cho bốc thăm, chia lô để làm chợ Tết. Năm nay, theo lệnh nhà nước, Tết đến sớm hơn mọi năm một tháng. Như để nhắc nhở, lịch năm mới được bày nhan nhản khắp các cửa tiệm. Đặc biệt là các cửa hàng quốc doanh thì lại chẳng có cuốn lịch nào, vì lịch đã chui ra ngoài cả rồi. Lịch năm nay trông tiến bộ lắm, thôi thì các tài tử tha hồ mặc đủ loại áo quần thời trang từ nước ngoài gửi về, nghiêng bên này, liếc bên kia, õng ẹo không kém gì các minh tinh màn bạc Hồng Kông. Có cô còn cầm trên tay một trái táo đỏ nhập theo hàng hoá của các tàu buôn chở đến, ra cái điều sung túc lắm. Ngự Chiêu và Thư Hương nắm tay nhau đi thơ thẩn qua các cửa hiệu, vừa chỉ trỏ các cô tài tử trên lịch, vừa cười khúc khích phê bình vô tội vạ. Thư Hương cười đến suýt ngất khi thấy hình một cô gái miền Bắc mặc áo dài cổ cao thật là cao kiểu một ngàn chín trăm... hồi đó!
Sáng hai mươi tám tết, tôi đạp xe xuống quán cà phê Quỳnh Giao ở gần nhà. Quỳnh Giao học sau tôi hai lớp ở trường trung học vài năm trước, nay thì mức độ nổi tiếng của cô ấy như vết dầu loang ra khỏi vùng ngoại ô, lên tới cổng trường đại học bên Sài gòn vì nhan sắc hơn người. Quỳnh Giao đẹp rực rỡ trong mấy chị em gái đều xinh xắn, nhưng tính nết dễ gần của cô được lòng người lớn kẻ nhỏ hơn chị em trong nhà có quyền thế trước biến cố lịch sử. Họ cắn răng chịu đựng cuộc đổi đời hơn là thả lỏng để hoà vào cuộc sống đã đổi thay nhiều như Quỳnh Giao.
Vài cái Tết thuộc những năm người dân cả nước ‘ăn độn’ trong thập niên 1970 thế kỷ trước đã để lại trong tâm khảm tôi dư vị rất chua chát. Nay ngồi chợt nhớ lại mà không khỏi chạnh lòng, vừa sượng sùng vừa tội nghiệp chính mình...
Thật ra mỗi năm đến Tết Ba Má đều xếp vàng bạc để cúng và đặc biệt nhớ tới ông bà và cha mẹ, chứ mình không có tin dị đoan con ạ! Người chết là hết, vàng bạc đối với họ đâu có ý nghĩa gì! Ý nghĩa là với người sống thôi! Sống sao cho đẹp, đó là mình đã làm cho họ vui lòng.
Chị Bông gọt sát vỏ bưởi vỏ chanh, nấu nước lấy tinh dầu gội đầu. Xem mấy Youtube và bạn bè chỉ dẫn chị Bông đã từng làm theo, từ dễ cho đến khó: nào gội đầu bằng baby shampoo ít hóa chất để bảo vệ da đầu trẻ em thì cũng tốt cho da đầu người lớn, nào hạn chế nhuộm tóc, hạn chế gội đầu xấy tóc thường xuyên, nào massage đầu với dầu ô liu, nào massage đầu với dầu dừa rồi quấn khăn lại ủ tóc 15 phút, công phu và khó chịu như thế chị Bông cũng kiên nhẫn làm đến hết chai dầu ô liu xong hết cả hũ dầu dừa organic cũng chẳng thấy kết quả gì mà hình như tóc càng rụng thêm...
Tôi còn nhớ một cái Tết năm xưa, tôi lái xe đưa gia đình từ Seattle xuống Tacoma một thành phố lân cận để đến lễ đầu năm tại một ngôi chùa và chọn cho đúng hướng xuất hành năm mới. Ngôi chùa này và nhà sư trụ trì còn trẻ, lại là một nhà thơ mà tôi đã nghe một người bạn nhắc đến và đây là lần đầu chúng tôi đến lễ...
Dù có nao nức đợi chờ hay hững hờ thờ ơ, dù có mong mỏi hay chẳng cầu vọng thì mùa xuân vẫn hiển hiện trong đất trời, trong lòng người. Nhớ ngày xưa còn bé, như muôn vạn đứa trẻ khác trên đời này, gã cũng mong chờ, nao nức tết để được lì xì, được mặc áo mới, được đi chơi thoải mái mà không bị la, được nghỉ học và không phải học bài…
Gần nửa thế kỷ rồi, mà giờ đây, nhắc tên Nguyên, trong trí nàng hiện lên hình ảnh nhà Hường, êm đềm, thân thiết. Lệ thường, khi nàng đến, Hường lôi tuồn tuột nàng vào phòng học. Ngang qua phòng khách, “giang sơn” của bạn bè anh Hưng, nàng liến thoắng chào hỏi các anh...
Ông bóc tờ lịch cuối cùng của năm 2023. Giao thừa bước vào 2024 đã qua năm phút, ông hồi hộp chờ chuông điện thoại reo. Từ năm Canh Thìn 2000 đến nay Giáp Thìn 2024, đã hai mươi bốn năm, mỗi năm ông đều nhận được hai cuộc điện đàm từ Paris vào giao thừa tây lịch và giao thừa âm lịch...
Tôi may mắn hơn nhiều người Việt sống bên ngoài Việt nam là được sống trong một thành phố không cần biết tiếng Anh vì mọi dịch vụ đều có người Việt phục vụ đồng hương. Dịch vụ mới nhất tôi nghe được trong chiều ba mươi từ người bạn bị mất việc hôm tháng trước, anh giao hết cho dịch vụ trương bảng nhận khai thuế nhưng có làm thêm dịch vụ xin tiền thất nghiệp, nghĩa là lo khâu xin việc mỗi tuần ở những hãng xưởng khác nhau theo yêu cầu của Sở thất nghiệp TWC để được hưởng tiền thất nghiệp hàng tuần nhưng bảo đảm không ai gọi đi làm đâu mà sợ. Tiền thất nghiệp cứ chuyển vào tài khoản nhà băng người thất nghiệp mỗi tuần, không phải lo gì hết ngoài việc trả cho dịch vụ vài chục bạc. Nghe xong không biết nên vui hay buồn với cộng đồng mình vào một chiều cuối năm ở hải ngoại.
Trong buổi họp chuẩn bị cho ngày liên hoan Tết năm ấy, cô giáo trẻ sung sức là tôi, cao hứng giao cho nhóm lớp trưởng lớp phó lo phần trang trí, mua bánh kẹo, nước uống, còn tôi sẽ nấu một nồi chè bà ba và một hũ đậu phộng rang...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.