Hôm nay,  

Haki

02/10/202600:00:00(Xem: 164)

 
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
 
Hắn và tôi là đôi bạn tâm giao. Với tôi, hắn chỉ là một chương trong đời sống, trong khi với hắn, tôi là cả một cuốn sách dày hàng ngàn trang. Hôm qua chương-sách-hắn đã vĩnh viễn đóng lại. Bạn của tôi đã chết. 
 
Để tôi kể cho mọi người nghe về hắn. Đây là câu chuyện thật. Câu chuyện của hắn bắt đầu bằng hai chục đồng tiền Canada. Chúng tôi mua hắn về chỉ với hai chục đồng. Năm mua hắn về, cũng là năm sinh của hắn: 2008. Nghĩa là hắn mới sinh được vài ngày thì chúng tôi rước hắn về. Chuyện thế này. Khi mới về sống với nhau ở thành phố Kitchener, tỉnh bang Ontario, thấy hai đứa sống - có vẻ lẻ loi - chúng tôi quyết định rủ rê một kẻ nào đó dễ tính về ở chung cho có bạn. Chúng tôi tìm mục rao vặt trên báo và thấy có người bán mèo sơ sinh. Chúng tôi tìm ngay đến địa chỉ ấy. Chủ nhà đi tìm con mèo định bán, nhưng tìm mọi ngóc ngách căn townhouse vẫn không thấy tung tích nó đâu. Chủ nhà bèn ôm mấy em mèo mới sinh ra. Chúng tôi nhìn thấy hắn trong cái đám lúc nhúc ấy và hai chúng tôi đồng ý chọn hắn ngay lập tức. Âu cũng là duyên số, chủ nhà đâu có định bán hắn mà chúng tôi cũng đâu dự tính sẽ mua hắn về. Cái duyên ấy đem lại cho cả ba chúng tôi, nghĩa là hai chúng tôi và hắn, gần hai thập niên chung sống, hít thở dưới cùng một mái nhà. Vui buồn có nhau, trong nhờ đục chịu như người ta vẫn nói.
 
Chúng tôi gói hắn vào cái khăn lông, Vivian ôm hắn trong lòng và tôi lái xe về nhà. Tới nhà, tôi đổ sữa vào cái lọ nhỏ, ôm hắn trong tay như ôm đứa trẻ sơ sinh thiếu tháng và đút cái núm bình sữa vào miệng hắn. Hắn nhóp nhép, thấy thương. Mấy ngày đầu, thằng bé - nhà tôi gọi hắn là “thằng bé”,(nàng hay thì thầm hát: “Tội nghiệp thằng bé nhớ thương mãi quê nhà”) - nằm cuộn tròn, giấu mình dưới gầm ghế sofa. Chúng tôi phải soạn một góc nhỏ, cho hắn nằm chung giường. Chắc hắn nhớ hơi mẹ. Tội nghiệp! Mới chào đời được mấy hôm đã phải xa mẹ. Chúng tôi bàn nhau tìm cho hắn một cái tên. Bàn tới bàn lui, cuối cùng cả hai đồng ý với cái tên Vivian chọn cho hắn: Haki. Cái chữ tiếng Nhật có nghĩa là khát vọng chinh phục, ước muốn áp đặt ý muốn của mình lên thế gian… đại khái như vậy.
 
Hắn nhớ tên của hắn rất nhanh. Rồi hắn quen dần với hai chúng tôi, và hắn cứ thế mà lớn lên. Tôi dán thùng giấy làm đường hầm, làm sân chơi cho hắn. Vivian mua đồ chơi cho hắn. Chúng tôi mua dây đeo cổ, đặt tấm plaque ghi tên hắn và số điện thoại nhà để phòng hờ hắn đi lạc, người ta dẫn về dùm. Nhưng  cũng như tôi, hắn không thích đeo bất cứ thứ gì nhùng nhằng trên người. Tôi có bao giờ đeo đồng hồ đâu. Tôi chơi thảy banh với hắn. Hắn nhảy lộn vòng để bắt những đường banh lắt léo. Hắn lôi cuốn chúng tôi hơn cả những cầu thủ trứ danh nhất trong World Cup. Hắn ít nói, hay đúng hơn, hắn nói nhiều bằng ánh mắt. Hắn ngồi với tôi trên sa lông, lim dim nghe tiếng nhạc hay những âm thanh vọng ra từ cái ti vi lắm chuyện. Hắn nằm gác đầu lên đùi tôi, nghe hai chúng tôi chuyện trò. Hắn nghiêng đầu nghe tôi ôm cây đàn guitar gảy vụng về những nốt nhạc. Hắn là kẻ duy nhất mà tôi đàn, hát ngay bên tai hắn mà không thấy ngại ngùng. Tôi chế lời những bài hát quen, gắn tên hắn vào lời ca để mồi chài hắn. Hắn nằm dựa đầu trên hai chân trước, lim dim nghe tôi hát và khẽ nhướng con mắt lên khi nghe trong lời ca có âm thanh tên của hắn. Hắn có thể ngồi suốt ngày, mà nhìn tôi đăm đăm. Tôi tìm đọc trên sách vở về tâm lý chủng loại hắn, sách ấy bảo rằng như vậy là hắn yêu tôi lắm. Tôi thấy mình hạnh phúc với cái tình yêu vô ngôn ấy.
 
Rồi chúng tôi dọn nhà lên Brampton. Hắn đi cùng chúng tôi trong xe trên gần một trăm cây số xa lộ. Ở Brampton, chúng tôi quen một ông hàng xóm trong cùng chung cư. Ông có con mèo vàng tên Mike. Haki còn nhỏ, chúng tôi phải buộc sợi dây vào người hắn để hắn khỏi đi lạc. Hai đứa mèo, một lớn một nhỏ, quấn quýt bên nhau. Hắn bé tí còn Mike thì lớn xù, nhưng hai đứa đi đâu cũng có nhau. Nhìn hai đứa nó quấn quýt, tôi thấy mình được cả một thế giới bình yên bao phủ. Tôi nghĩ hắn quý mến Uncle Mike lắm, nhưng rồi cũng phải chia tay. Khi phải dọn đi lần nữa, chúng tôi hứa thỉnh thoảng sẽ đem hắn lại nhà cũ cho hắn gặp và chơi với Uncle Mike. Nhưng công việc và đường xá không cho phép. Chú mèo Mike là sinh vật đồng loại đầu tiên và cuối cùng trong đời hắn. Hầu như suốt cả đời, hắn không có dịp gặp bất cứ con mèo nào khác. Và về sau, hắn không còn thân thiện được với bất cứ đứa mèo nào khác khi chúng tôi có chuyến đi xa, phải đem gửi hắn cho người ta giữ dùm. Những chuyến đi trong lòng tôi luôn đầy ắp lo âu. Lần đầu tiên đi xa, đêm ở một khách sạn nhỏ ở Paris, Vivian trở mình lúc nửa khuya và nói một mình, “Anh ơi, em nhớ Haki!”.
 
Như đứa trẻ, hắn bắt đầu tập nói. Tôi nhận ra điều ấy qua những mẩu đối thoại giữa tôi với hắn. Tôi nói bằng tiếng mèo, hắn cũng đáp lời bằng một tiếng mèo. Chỉ một âm thôi, nhưng cuộc đối thoại kéo dài hàng năm, mười phút, và mỗi câu trả lời của hắn mang một ý nghĩa khác. Ấy là tôi hiểu như thế. 
 
Càng lớn, hắn càng dửng dưng với người lạ. Sau khi bị triệt sản, hắn vẫn không có gì thay đổi, nghĩa là vẫn không thân thiện với người lạ. Vivian lo là hắn bị chứng tự kỷ. Tôi thì nghĩ là tình yêu đầu đời của hắn với hình ảnh Uncle Mike đã in đậm trong óc hắn, không còn kẻ nào có thể thay thế. Hắn trở thành đứa bạn tâm giao trầm lặng của tôi. Hiếm lắm mới nghe hắn “meo” một tiếng. Ấy là khi có điều gì cần nhắc nhở (Thức ăn đã hết!), để chào hỏi (khi hắn chờ ở cửa phòng lúc chúng tôi thức giấc sau một đêm ngủ ngon, yên tâm có hắn canh giữ bên ngoài khung cửa, hoặc đôi khi buông lời thắc mắc (khi chúng tôi đi đâu về lâu quá), hoặc lo lắng (khi nghe chúng tôi lớn tiếng với nhau.) Tôi yêu ánh nhìn trong đôi mắt của hắn. Thuở bé, mắt hắn xanh biếc, cái màu xanh ấy nhạt dần cùng với thời gian, thành màu nâu. Ánh nhìn của hắn thay đổi. Khi trìu mến, khi hỏi han, khi dặn dò. Đôi khi, trong lúc nhìn tôi đăm đăm, hắn chớp một con mắt, thật chậm, thật thảnh thơi. Sống trong chung cư, đôi khi có những đêm mùa đông còi báo động hỏa hoạn réo vang. Mọi người phải chạy xuống sân. Trong cái lạnh cắt da, hai chúng tôi cuộn hắn trong cái chăn nhỏ, ôm hắn thật chặt để giữ hơi ấm cho cả hắn và chúng tôi. Những lúc ấy, hai con mắt ngây thơ của hắn vẽ đầy dấu hỏi. Ấy là tôi hiểu ra như thế.
 
Hắn không muốn người lạ đến nhà mà đòi vuốt ve hắn. Một lần, tôi nổi nóng và phản đối kịch liệt khi một người quen nói với hàng xóm của tôi rằng hắn là “a mean cat”.  Thấy tôi sừng sộ, hắn nhìn tôi bằng ánh nhìn dịu dàng và nháy một con mắt. Tôi hiểu ý hắn. Hắn muốn bảo tôi bỏ qua chuyện ấy. Và cơn giận tắt đi, và lòng tôi dịu xuống.
 
Tôi tập cho hắn kêu: “Ba!” Hắn học rất nhanh, và hắn hiểu “Ba” là tôi. Từ đó, thay vì “Meo” như những con mèo khác khi cần giao tiếp với tôi, hắn chỉ cần gọi “Ba!” là được đáp ứng ngay.
 
Hắn lớn dần theo năm tháng và cũng già dần theo thời gian. Từ một trang thanh niên cao ráo, lông tóc mượt mà đen mượt khắp người cùng với chùm lông trắng vắt trước ngực như tấm khăn choàng trắng của một hiệp sĩ thời Trung cổ, với tướng đi thanh thoát, nhẹ nhàng, với những cú nhảy từ sàn nhà lên nóc tủ… chuyển dần thành một vị cao niên đi đứng chững chạc, cử chỉ từ tốn, và có phần chậm chạp. Tôi nhìn hắn như nhìn một người bạn cao niên đã sống chung với tôi suốt gần hai thập niên. Từ nhỏ đến lớn và đến già, hắn vẫn nằm bên cạnh tôi, trên sofa, lúc tôi xem ti vi. Nằm trên chiếc ghế bên cạnh chiếc ghế tôi ngồi làm việc bên cửa sổ, mắt ngóng ra ngoài nhìn những con sóc tình cờ chạy nhảy trên khóm cây sau nhà. Hắn thích nằm dựa đầu trên đùi tôi, và tôi cũng thích hắn nằm như thế. Nằm và nhìn tôi mê mải. Nhiều khi tôi muốn đứng dậy vì có việc gì đó phải làm, nhưng không nỡ đẩy hắn ra, đành ngồi chịu trận cho đến khi hắn tự ý bỏ đi. Hắn là kẻ được mọi quyền ưu tiên tối hậu trong nhà.
 
Tôi đặt lời theo nhạc bài hát Cecilia của Simon và Garfunkle, để hát ghẹo hắn: “Haki, you look so baby, you look so funny, my Haki Hoàng.” Hoặc dựa theo âm hưởng bài O MacDonald: “Haki Luu và Haki Hoàng cũng giống như Haki.”
 
Vivian đưa hắn đi bác sĩ thú y chích ngừa, bác sĩ gửi thư phúc đáp, ghi tên hắn và họ của Vivian, tên hắn thành Haki Luu, tôi bèn lấy bài Jingle Bells đổi lời, hát cho hắn nghe:
 
“Một thằng có tên Haki
Một thằng nữa tên Haki
Là hai đứa tên Haki
Một đứa Haki Hoàng
Một đứa Lưu Haki
Vậy là hai đứa Haki
Sao hai ba đứa mang tên Haki?
Haki Luu, Haki Luu hay bé Hoàng Haki?
Haki Lưu, Haki Luu, ai mới thật là Haki
Haki Lưu, Haki Lưu ai mới là Haki
Haki Lưu, Haki Lưu, hay đúng ra, Haki Hoàng.”
 
Hắn nằm lim dim nghe tôi hát rồi hắn chớp một con mắt. Đôi khi thay vì chớp một con mắt thì hắn giụi cái mũi ẩm ướt vào người tôi. Tôi hiểu ra rằng đó là lời tán thưởng, là cử chỉ biểu lộ một chút tri ân. Hắn luôn nhìn tôi đăm đăm. Nhìn không biết mệt. Và hắn luôn tìm một chỗ để nằm cạnh tôi. Hắn là đứa bạn thân, chung thủy suốt mười bảy năm trời. Cho đến cuối đời, tôi không có người bạn thực sự nào ngoài hắn.
 
Hắn âm thầm sống bên cạnh đời hai chúng tôi. Hắn đem đến cho chúng tôi sự bình yên, những phút giây thư giãn, những khoảnh khắc giảm căng thẳng vì đời sống. Ngay cả những khi hai chúng tôi có chuyện to tiếng với nhau, bắt gặp ánh mắt ngây thơ của hắn, chúng tôi dịu ngay xuống. Cảm giác ấm áp khi chúng tôi vuốt bộ lông mềm mại đen bóng của hắn. Cảm giác ngọt ngào khi bàn tay tiếp nhận hơi ấm từ cái đầu tròn trĩnh nhỏ bé của hắn. Hạnh phúc tìm đâu xa nữa?
 
Buổi tối, sau khi soạn sẵn đồ ăn thức uống cho hắn, trước khi bước lên cầu thang, vào phòng ngủ, tôi luôn xoa đầu hắn và chúc hắn ngủ ngon. Hắn cũng chúc lại tôi bằng ánh mắt thật hiền. Đêm của chúng tôi luôn về với cảm giác bình yên khi biết ngay bên ngoài khung cửa (khi sống trong condo) hoặc dưới chân cầu thang (khi dọn qua nhà mới), hắn luôn luôn nằm ở đó, canh giữ giấc ngủ cho chúng tôi. Chúng tôi ngủ ngon bởi biết trong tầm nhớ, luôn có một kẻ vô cùng thân tín canh giữ giấc ngủ cho mình. Tôi luôn luôn để đèn đêm cho hắn bên thùng vệ sinh, bên khay thức ăn, dù biết loài mèo không kém mắt trong đêm đen như loài người chúng tôi.
 
Hắn đem lại sự an toàn cho tôi bởi hắn luôn ở bên cạnh tôi, vì vậy tôi không bao giờ hấp tấp bởi sợ vấp vào hắn, khi lên xuống cầu thang, tôi thận trọng từng bước bởi sợ đạp trúng người hắn. Nhờ hắn mà tôi không vấp ngã vì hụt bước ở cầu thang và vẫn lành lặn đến tuổi này, trong khi các cụ đồng trang lứa có người ngã ở cầu thang, có người lăn quay trong bồn tắm phải đưa vào cấp cứu.
 
Bù lại, tôi luôn giữ nhà yên tĩnh, luôn cố không gây tiếng động lớn làm hắn giật mình. Xem phim trên ti vi cũng vặn âm thanh vừa đủ nghe. Bởi tôi biết tai hắn thính lắm, âm thanh lớn không tốt cho hắn.
 
Thời gian lặng lẽ trôi đi. Chẳng bao lâu, chúng tôi - hắn và hai chúng tôi - đã có nhau được hơn 15 năm trời. Đến năm thứ mười lăm thì hắn đã già thật. Vivian thì lúc nào cũng coi hắn là em bé “my baby!” Mãi mãi là “thằng bé”. Rồi hắn bệnh. Hắn ăn uống thất thường, đi đứng chậm chạp. Tình trạng sức khỏe của hắn càng lúc càng tồi tệ. Hắn đeo dính lấy tôi thường xuyên hơn như sợ sẽ phải bỏ tôi đi.
 
Đến năm thứ mười bảy thì hắn đã mệt mỏi thấy rõ, nếu là người thì hắn đã là ông cụ tám mươi tư tuổi rồi. Tuần lễ cuối, hắn hay nằm ẩn sau cánh cửa khép kín. Một lần nọ, tôi ngồi xem ti vi ở sa lông, hắn leo lên nằm ngang trên lòng tôi. Tôi vuốt ve lưng hắn. Rồi hắn âm thầm tiểu trên người tôi. Tôi lặng nghe dòng nước ấm chảy lan trên da thịt mình. Rồi tôi lặng lẽ thay quần áo, không một lời than thở. Tôi buồn bởi vì tôi biết đó là dấu hiệu của sự suy thoái. Một lời tâm sự về chứng bệnh không tên gọi (hay cơn đau nào đó trong người hắn). Hoặc một lời khẳng định, “You belong to me!”. Từ lúc về ở với chúng tôi cho đến ngày hôm ấy, hắn chưa bao giờ làm như thế. Chưa hết, ngày hôm sau, giữa một hàng những chiếc giày xếp bên khung cửa, hắn đi tiểu vào trong chiếc giày của một mình tôi. Tôi hiểu ra điều hắn gửi gắm.
 
Hôm trước ngày cuối, hắn bỏ ăn và chỉ nằm một chỗ. Mắc tiểu, mệt đuối mà vẫn lết từng bước xuống thang lầu đến chỗ tiểu. Nước tiểu lẫn máu rơi rớt trên từng bậc thang gỗ. Đến bậc thang cuối cùng, hắn nằm gục xuống, thở. Hai chúng tôi hoảng hốt nhìn nhau. Vivian vội vã lấy hẹn với bác sĩ thú y, vì sợ hắn bị một chứng nhiễm trùng nào đó. Tôi thì thấy dấu hiệu suy thận của người già ở hắn. Tôi thấy hắn đang lê lết những chặng cuối của con đường.
 
Suốt ngày, tôi đem laptop xuống ngồi làm việc bên cạnh hắn để hắn có bạn.
 
Ngày cuối, hai chúng tôi ở cạnh hắn. Vuốt ve đầu hắn, thì thầm nói chuyện với hắn. Nhưng hắn mệt đuối, mắt mở mà không biết có còn nhìn thấy chúng tôi không. Bác sĩ thử máu và thử nước tiểu cho hắn. Kết quả u ám cực độ. Hắn bị suy thận. Bác sĩ bảo có kéo dài cũng chỉ một hai ngày nữa thôi, và chỉ làm hắn thêm đau đớn. Trong nước mắt, chúng tôi đồng ý để hắn ra đi.
 
Khi bác sĩ thú y bơm mũi thuốc an tử vào đường ống mạch máu ở chân phải của hắn, hắn nằm yên. Rồi không cử động, nhưng hắn chợt meo lên một tiếng cuối cùng. Chúng tôi nghe ra lời chào vĩnh biệt. Và hắn nằm bất động. Bác sĩ bảo là hắn đi rồi. Tôi vuốt mắt cho hắn. Bác sĩ bảo bây giờ đem đến chỗ hỏa táng. Vivian áp tai vào người hắn, cố nghe tiếng tim hắn, bởi sợ người ta thiêu hắn khi hắn vẫn còn sống. Tôi thì thầm: Haki đi thật rồi.
 
Và hai chúng tôi bật khóc. Nếu là lúc nào khác, hắn đã đứng ngẩn ngơ nhìn chúng tôi bằng ánh mắt buồn, rồi tới cọ đầu vào người tôi và nằm xuống, gác đầu lên đùi tôi, và an ủi chúng tôi bằng ánh mắt. Mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đó, đừng quá lo âu… Hắn sẽ nói với chúng tôi như thế.
 
Không còn nữa những buổi Vivian tắm rửa và ân cần cắt tỉa từng móng chân cho hắn, không còn nữa những lúc tôi chăm sóc từng miếng ăn, thức uống, chỗ nằm cho hắn.
 
Vĩnh biệt một tình bạn vô giá như một cuộc đầu tư tình cảm bắt đầu bằng hai mươi đồng bạc, và kéo dài gần mười bảy năm trời. Một mối chân tình, một tình bạn vô giá. Chúng tôi nhìn người y tá phủ lên mình hắn tấm khăn lông đen. Thế là hết. Luồn tay vào bên dưới lớp khăn lông, chúng tôi đặt tay lên mình hắn. Người hắn còn ấm, biết đâu máu còn luân lưu trong cơ thể dù chỉ là một dòng chảy bạc nhược. Chúng tôi vuốt ve hắn lần sau cùng, thì thầm với hắn một lần cuối, rồi lặng lẽ lê những bước nặng nề ra khỏi phòng khám thú y. Về nhà, Vivian khóc trên vai tôi. Tôi cố nuốt nước mắt, thì thầm: “Từ bây giờ anh phải xem ti vi một mình rồi!” Vivian sụt sùi Em sẽ không thể nào nuôi thêm một đứa mèo nào khác bởi em không chịu được cảnh biệt ly.
 
Buổi tối hôm ấy và cả ngày hôm sau, chung quanh tôi là khoảng trống mênh mông. Bây giờ tôi mới nhận ra, hắn chỉ là một sinh vật bé bỏng không đầy bốn ký lô, nhưng khi hắn đi rồi, căn nhà bỗng trống vắng đến rợn người. Vivian thì vẫn khóc. Hai mắt sưng húp. Tôi thì vẫn cố giấu những giọt nước mắt. Hắn đi rồi. Đi thật rồi. Bạn thân của tôi đã về chốn bình yên, không còn đau đớn (chúng tôi chẳng biết hắn có đau đớn không bởi không hề nghe hắn kêu rên. Người ta bảo loài mèo biết giấu diếm cái đau, không cho ai biết). Nơi hắn đến không còn bệnh tật, thuốc men và ống chích.
 
Hơn mười bảy năm trời sống chung với hắn, tôi nhận ra hắn là một người bạn thân, một kẻ đã sống với chúng tôi hết lòng, một người bạn biết so chữ, ghép vần bằng ngôn ngữ tràn trề trong ánh mắt, một sinh linh trầm lặng mang tâm hồn thi sĩ. Và lối sống của một thiền giả. Từ khi làm bạn với hắn, tôi thường xem những video clip về chủng loại của hắn. Tôi thích những đoạn băng mô tả chú mèo có đôi cánh bay về trời. Và ở nơi chốn bình yên kia, chú mèo ấy vẫn mong chờ một ngày đoàn tụ với người chủ chốn trần gian của mình.
 
Tôi thấy bạn thân Haki của tôi cũng có đôi cánh ấy. Đấng Thiêng Liêng gửi hắn xuống trần gian để làm bạn đường suốt một phần đời với chúng tôi. Bây giờ nhiệm vụ ấy đã hoàn tất. Hắn ra về bình an. Chỉ buồn cho kẻ ở lại.
 
À, còn một điều bí mật nơi tôi mà trên khắp thế gian này chỉ một mình hắn biết. Từ nhỏ, tôi đã thường xuyên bị mắng là thằng bé mau nước mắt. Tôi cứ nghĩ trời sinh ra như thế thì đành chịu như thế, và hy vọng lớn lên, cái tật trẻ con ấy sẽ mất đi. Nhưng càng có tuổi, tôi càng mau nước mắt. Ngồi một mình bên hắn, đọc một câu chuyện trên trang sách hay xem một đoạn phim về một người cởi áo mình để đắp lên thân thể gầy gò của một người vô gia cư trong cơn bão tuyết, tôi bật khóc. Xem lại tấm hình một bé thơ có đôi mắt thiên thần ôm con búp bê co ro dưới làn đạn pháo của kẻ xâm lăng, nước mắt tôi như con suối ngầm bị khơi trúng mạch. Xem đoạn băng hình người lính trẻ năm xưa cùng lứa tuổi với tôi gục ngã trên chiến trường để tôi được yên tâm đèn sách, tôi sụt sùi như người đàn bà trẻ trong chiến tranh, đi nhận xác chồng. Nghe lại một bản nhạc xưa về người mẹ ôm xác đứa con tức tưởi một đêm giao thừa có những mảnh hòa bình rách nát, tôi nghe lòng quặn thắt nỗi đau, và tôi khóc như đứa bé lần đầu lạc mẹ giữa phố đông. Những lúc ấy, Haki dựa sát vào người tôi, nhìn tôi bằng tia nhìn dịu dàng hơn bất cứ thứ gì trên thế gian, và hắn giụi đầu vào người tôi, chia sẻ với tôi cơn đau thắt ruột. Những giọt nước mắt của gã đàn ông không còn trẻ rụng xuống đầu hắn. Từng giọt, từng giọt. Tôi vuốt ve hắn, tôi chải tóc hắn bằng nước mắt của mình, và tôi thì thầm với hắn, “I’m okay, Haki.” Những lúc ấy hắn thường giụi đầu vào tay tôi rồi ngước nhìn tôi và chớp một con mắt.
 
Bây giờ chẳng còn ai bên cạnh tôi trong những giây phút mủi lòng ấy. Từ nay tôi phải khóc một mình.
 
Chào nhé, Haki, bạn thân yêu của tôi!
 
14/09/26
 
Link YouTube:
https://www.youtube.com/watch?v=kLSw8aKvT9A

Nhân tuần lễ kỷ niệm 49 ngày Khánh Trường rời cuộc thế gian, tờ Ngôn Ngữ số đặc biệt tháng Hai dành trọn số báo tưởng niệm người họa sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo tài hoa Khánh Trường, do nhà thơ Luân Hoán và bạn hữu nhóm Ngôn Ngữ ưu ái thực hiện. Mời đọc bài viết của Trần Yên Hòa trích nhà phê bình văn học Thụy Khuê như một nén nhang tưởng nhớ người họa sĩ/nhà văn tài hoa.
Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và toà đại sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại!
Văn hóa phương Tây, rắn vừa là biểu tượng trong lĩnh vực y khoa vừa là nguồn cảm hứng trong hội họa, kiến trúc và văn học. Văn hóa Hy Lạp bắt nguồn từ vị thần cổ đại Hermes, sứ giả của các vị thần. Thần Esculape được coi là ông tổ của ngành y dược. Biểu tượng của Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO (World Health Organization) con rắn quấn quanh cây gậy Esculape cầm. Cục Quân Y VNCH có thêm đôi cánh trên thanh kiếm.
Hồi năm sáu tuổi tôi vẫn hay theo chúng bạn ra chơi trước đình làng Thanh Thủy. Nơi đó có mấy cây sanh cổ thụ rất lớn luôn tỏa bóng râm mát mẻ cả đoạn đường bến chạy qua làng. Bên kia con đường bến là hồ Vọng Nguyệt, một cái hồ trông như vuông vức, rộng chừng nửa mẫu tây, dân địa phương vẫn quen gọi là hồ làng...
Phải chi khách đến thăm vườn hồng hơn trăm giống quý đủ màu sắc của ông Chu hằng ngày là khách mua hoa thì chắc thu nhập của gia đình ông đỡ hơn. Ông nghèo, nhưng cái máu nghệ sĩ của ông lại mạnh mẽ hơn chuyện tiền bạc, lại gặp bà vợ hết mực chiều chồng, nên cứ nghe đâu có giống hồng lạ là bằng mọi cách phải có cho bằng được. Năm ba ký gạo đắp đổi hằng ngày đã khó, mà có những giống người ta đổi cả tấn lúa ông cũng lắc đầu.
Không nhớ từ bao giờ đã không còn ngồi xuống bàn trà, tay bốc miếng mứt hạt sen bỏ vô miệng, vị ngọt tươm ra không quá gắt như ăn miếng mứt bí, vị ngọt nhẹ, thanh, kích thích vị giác bởi hương sen quyện ngọt điệu đà, tới khi nhai cái hạt sen đã ấm ấm trong miệng nên không còn cứng cũng không quá mềm như khoai lang luộc. Độ dẻo của hạt sen khi đã sên mứt rất mê hoặc và cũng đâu có gì vội để nuốt đi cho mau, cứ ngậm mà nghe hương vị đất trời tinh khiết của hương sen xông lên khoang mũi làm cho người thưởng thức lâng lâng cảm giác xuân đã về. Có thể nói món gì có hạt sen góp mặt cũng ngon như món vịt tiềm có nhân bên trong là thịt bằm, nấm mèo, táo tàu, gia vị nhiều thứ, nhưng những hạt sen luôn khêu gợi những đôi đũa gắp vì hấp dẫn và ngon lạ miệng. Nhưng đã nhiều năm không ăn mứt hạt sen sao vẫn nhớ khá rõ hương vị độc đáo của hạt sen trong món ngọt ăn chơi ngày tết, hay món mặn ăn tiệc đều ngon.
Cậu Hà người Bắc di cư năm 1954, cậu di cư có một thân một mình khi còn trẻ, nên cậu cũng không có nhiều phương tiện được học hành nhiều. Khi lớn lên ở miền Nam, lối chừng 19, 20 tuổi khoảng năm 1965-1966, cậu từ giã học đường đăng lính, cậu đi lính Việt Nam Cộng Hòa ngành Biệt Động Quân. Sau chuyển qua Thám Báo. Cậu đóng quân như ở miền đồng ruộng, lúc bấy giờ còn loáng thoáng xa xa, ít dân cư, tiếp giáp một bên Đồng Ông Cộ, miệt Gò Vấp, Gia Định.
Chị nhớ lại, vào một buổi sáng ngày cuối tháng 1 năm 1973, khi Chị đi lấy bản tin ở bên Macv về cho AP, chị thấy sao hôm nay văn phòng đông thế. Ký giả của AP và cả của NBC News bên cạnh cũng chạy qua chạy lại, Chị nghe ông chánh văn phòng nói: Viêt Nam sắp ngưng bắn rồi, sắp hòa bình rồi…” Văn phòng Associated Press xôn xao, từ ông chánh văn phòng đến các ký giả, nhân viên của AP đều hứng khởi với cái tin “Nóng bỏng” này. Chị thấy các phóng viên của các hãng thông tấn, hãng truyền hình ngoại quốc chạy hối hả sang nhau và chạy qua cả đài phát thanh Quân Đội Việt Nam để cập nhật tin tức viết bài…
Chị đi bằng xe hàng. Là dân Đà Lạt gốc Huế nên chị gọi xe đò là “xe hàng”. Đi xe hàng, tức là xe đò, là xe chở người và cả hàng chứ không chở riêng hàng. Tiếng Việt hay như vậy đó! Đến Gò Công rồi đi xe lam vào Đồng Nguơn. Ấp Đồng Nguơn. Không phải đây là lần đầu tiên chị được thấy cảnh đồng quê. Đồng quê miền nam hầu như đâu đâu cũng giống nhau. Nhưng có đi nhiều mới thấy mỗi nơi có một chút khác. Phải thế không? Hay chính là cảm giác của chị mỗi lần một khác?
Tôi ước mơ có một ngày nào đó, khi thanh bình thật sự trở về trên nước VN, khi chính thể CS hoàn toàn tan rã, khi con người công chính trở lại làm nền tảng trong xã hội mới, chúng ta sẽ trở về, những ngưới bạn từ thời xa xưa, cùng nhau làm lại một bữa tiệc Tất Niên, mời vong linh các thầy, các bạn, các anh em đồng đội đã chết trong khói lửa chinh chiến, trong các biến cố tang thương của đất nước, trong các trại tù, trên biển…cùng nhập tiệc. Kẻ đang sống cùng người thiên cổ bên cạnh nhau hoài niệm đến một miền thùy dương ngọt ngào nhân tính, một ngôi trường thân yêu giàu truyền thống giáo dục và y đức, một thành phố mến yêu thơ mộng. Để nghe những người quá cố tâm sự về cái chết oan khiên của mình. Được như vậy, hương hồn các vị đó sẽ sớm được siêu thoát và vĩnh viễn an nghỉ chốn nghìn thu. Và chúng ta đây giảm khắc khoải đau thương…
Tôi đã có bốn cái Tết trong trại Panatnikhom và Sikiew, Thailand. Tết đầu tiên thật nhiều kỷ niệm và bất ngờ, vì lúc đó chúng tôi vừa nhập trại trong khi còn hơn một tuần nữa là Tết. Tôi và ba cô bạn đi chung chưa kịp gửi thư cho thân nhân ở nước ngoài để ca bài ca “xin tiền”. Ai lo bận bịu đón Tết thì lo, còn chúng tôi thì lo đi mượn tiền để mua vài vật dụng cần thiết như tấm trải nhựa, tre nứa, dây nilon để làm “nhà” (phải “an cư” mới “lập nghiệp” tỵ nạn được chớ).Khoảng một tuần trước Tết, có một nhóm mấy thanh niên đến thăm vì nghe nói chúng tôi là dân Gò Vấp, nên muốn nhận “đồng hương đồng khói”. Họ là những người trẻ như chúng tôi, nên câu chuyện mau chóng trở nên thân mật và rôm rả
Hỏi thăm ông Hai bán hoa lay-ơn gốc Bình Kiến, nhiều người ngơ ngác hỏi nhau. Tôi lại rảo qua thêm mấy vòng chợ hoa, cũng vừa đi tìm ông Hai, cũng vừa ngắm hoa và ngắm những chậu bonsai bày bán cuối năm, cũng tìm lại mình của gần 20 năm trước, năm nào cũng cứ vào những ngày này, tôi theo ba tôi hóng gió đón sương không hề chợp mắt cùng gian hàng cây kiểng rất bề thế của ba ở đây.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.