chờ mẹ về chợ

06/07/202220:08:00(Xem: 4264)
Xe thổ mộ ở Hòa Hưng - Bé Ký (1938-2021)
Xe thổ mộ ở Hòa Hưng -- Tranh Bé Ký [1938-2021].

 

chia tay định mệnh

đôi ba ngày ngồi bó gối

ngó mông lung

vàng chanh xanh chuối

ơ hờ bên màu cà tím lịm ngây dại

nơi lũ chuồn chuồn xôn xao

chực chờ thư giãn trên cụm lá sen dàn trải mặt nước

 

đôi ba ngày lơ lửng đâu đó

vụt thoát từ thế giới của mê lộ hỗn mang bát nháo

về chốn ngẫu nhiên ngọt lời ru còn đọng trên môi mẹ

và đứa trẻ lớn nhanh ê a đánh vần hạnh phúc  ̶ ̶ ̶ 

hạnh phúc là được quà khi mẹ về chợ  ̶ ̶ ̶ 

mong ngóng từng chiếc xe thổ mộ lộc cộc trên đường

nghe chừng thời gian và không gian chùn bước lướt thướt hòa quyện

 

bức tranh dang dở tưởng không bao giờ quay lại

trời vẫn xanh trầm tư mặc niệm

đứa trẻ đứng ngồi bồn chồn

chờ mẹ về chợ

nhắm mắt chờ đã hơn nửa thế kỷ

bên này cuộc đời. 

 

– Quảng Tánh Trần Cầm 

LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.