Thơ Trần Hạ Vi

18/08/202216:02:00(Xem: 4685)
DTChinh_2
Tranh Đinh Trường Chinh.



Người nuôi ảo tưởng

 

Em là người nuôi ảo tưởng

Buồn là tính chuyện ‘nuôi’ anh

Thần giao dịu dàng ôm ấp

Cách cảm nhè nhẹ màu xanh

 

Bên anh bên anh bên anh

Tâm tưởng quyện hòa kết mộng

Lời thương muôn chiều đồng vọng

Ảo mờ cuốn giấc mơ anh

 

Status không có người like

Ngoài anh chẳng ai đọc được

Cheo leo vắt vẻo mấy lượt

Xé rào khắc khoải nhớ em

 

Biên giới không mưa khát thèm

Mùa hạ cháy rừng đỏ lửa

Khói bụi cay nhòe đôi mắt

Kèm nhèm xước nỗi nhớ em

 

Người ta biết môi có mềm


* 

 

Bài thơ hoa mai
(Tưởng nhớ cái chết của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Bài thơ viết dang dở
Sau cánh cửa khoá trái
Bức tường gồ ghề

Những nhà sư khoác áo nâu dấn thân xuất thế
Đêm qua rụng xuống
Một bông mai
Từ trên cành cao nhất, đẹp nhất

Bài thơ viết dang dở
Những động mạch hối hả chở oxy
Chữ nằm im như những hồng cầu chết lặng
Trong tĩnh mạch

Đất nước giao tranh mấy ngàn ngày ly loạn
Biết đâu đúng đâu sai
Công và tội phân hai
Tiếng đời, miệng thế
Chỉ lòng nhân tồn tại

Bông mai vươn mình chui lớp vỏ gai
Đi đày vắt vẻo bên ngoài chấn song
Đất nước ngục tù
Trái tim ngục tù
Lòng người khoá trái
Mấy mươi năm

Bài thơ viết dang dở
Những con chữ đòi hỏi phải được viết ra
Hàng ngàn hàng ngàn chữ tung tăng
Kết thúc đêm qua
Ở chương chín mươi lăm

Bông hồng cài áo lắng nghe tiếng trái tim túc tắc
Chánh niệm đập trong lồng ngực
Năm nhịp hẫng một nhịp
Chậm dần
Hoa mai nở
Xuân về


*
 

Anh, em và sự không toàn hảo


Anh, em, những người được gọi là khùng

Anh khùng hơn em

Em khùng hơn anh

Chúng ta đừng giành nhau nữa

 

Anh, em, những niềm tin rạn vỡ

Những nỗi đau chất chứa

Ngủ im im thi thoảng cắt cứa vào lòng

 

Có những vết thương vô danh

Và những vết thương có tên gọi

ẩn khuất câm thinh

dần chìm quên lãng

tội nghiệp phí hoài

 

Anh, em

Chỉ cảm được một chút tâm lành

Những ngây thơ còn sót lại

 

Bao nhiêu bao nhiêu tuổi đi nữa

Vẫn chưa bao giờ bước quá đôi mươi

 

Lạy Chúa lòng lành

Anh, em, cũng như bao nhiêu người

Chịu đựng và không biết mình chịu đựng

Là vui.

 

-- Trần Hạ Vi

Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Câu thơ chưa kịp viết / Cả rừng cây đứng chờ / Và gió ngàn vẫy gọi / Tới đây xem mùa thu...
ghi thêm nét sắc hình hài / vẽ lên câu chữ ngón tay chợt buồn…