TRANG THƠ

18/07/202316:27:00(Xem: 3830)

collContempArt_LK_REP_001a

HUỲNH LIỄU NGẠN

 

thành phật

 

có những lần đi về phía

mùi thơm của gió

ngó phía trước

hiên nhà ai

còn ánh lửa

khoảng chừng đã khuya

 

hương ngâu bay qua vạt áo

che hết ánh trăng rằm

ngày mai ăn chay

rồi lên chùa

thấy cuộc đời như sóng vỗ

 

về ngồi niệm phật

con muỗi đậu ở chân đèn

tìm lối ra

chắc cũng nghĩ ta là phật sẽ thành

 

ba ngàn thế giới 

khép lại diệu pháp liên hoa

trên vai một người đã già.

 

11.7.2023

 

*

 

THY AN

 

Một lần

 

một lần

tôi sẽ viết về những im lặng của biển

buổi chiều mùa hạ nhìn ngọn hải đăng

mây hồng dàn trải đam mê vô tận

hoàng hôn nói những câu êm đềm :

hãy mở lòng và vươn dài cánh tay

đón gió đại dương

tưới mát một tấm lòng độ lượng

 

một lần

tôi sẽ nghe sóng vỗ trên đá rêu xanh

muôn đời nhịp điệu hiền lành

như một lời nhắc nhở

từng chuyển động trong tim và máu

êm đềm trân quý

sự sống trong tôi và trong em

 

một lần

tôi sẽ tìm điểm tựa cho tấm thân mỏi mệt

khao khát âm vang trên từng vuông thịt da

lời khấn nguyện nhỏ :

nắng hạ mưa thu bình yên cuộc đời

và bài thơ thôi cào xước mấy mùa vọng động

 

một lần

tôi sẽ về đây buổi chiều nắng tắt

nhìn cánh chim trời trên đại dương xanh

kêu tiếng trong lành trời đất

trở về từ những miền ký ức

áo người vẫn chưa nhạt thiên thu

 

một lần

tôi sẽ ngồi yên trong đêm dài

góc lòng thổn thức

vẽ lên trăm ngàn nhân ảnh

âm vang của vô thường ray rứt

những vòm trời xanh bọt sóng

và trong tôi biển bao la…

 

Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.
Câu thơ chưa kịp viết / Cả rừng cây đứng chờ / Và gió ngàn vẫy gọi / Tới đây xem mùa thu...
ghi thêm nét sắc hình hài / vẽ lên câu chữ ngón tay chợt buồn…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.