Thơ Nguyễn Viện

25/05/202406:57:00(Xem: 2577)

collContempArt_LK_REP_001a

Xuyên không vào muôn kiếp để yêu em

 

1.

Có phải chúng ta vẫn cần một câu chuyện có ý nghĩa?

Hát cô đầu. nhịp phách tôi dậm dật. ôm thúy kiều mộng từ hải. lục bát nguyễn du tang bồng khập khiễng. tôi lơ láo hàng thần xuyên thế kỷ.

Kiều vẫn còn trinh. nàng mãi còn trinh.

Tôi không khóc tố như nhưng vẫn ôm thúy kiều đến 200 năm sau. nàng vẫn còn trinh. kiều mãi còn trinh. lục bát ca dao vẫn ầu ơ đâu đó. nhưng nhịp phách tôi hỗn loạn.

Tôi ôm thúy kiều nhảy sông sài gòn. khước từ ý nghĩa.

 

2.

Thúy kiều đi tăng ba báo hiếu vương viên ngoại. những vầng trăng xẻ đôi. những dặm trường mường mán.

Những người đàn bà cười ngạo nhân gian đang cho con bú. thế giới vẫn còn sữa và mật. những người đàn ông đi cày. thơ và nhạc nỉ non.

Lầu ngưng bích gió lộng chiều hôm. tiếng đàn tì bà dìm chết cơn hung hãn của nỗi buồn. tôi dẫm chân vào thiên cổ.

 

3.

Tôi không khóc tiếng còi tàu giục giã. tiếng mõ của giác duyên. ngày lại ngày. duyên khởi vào im vắng.

Chút phong trần gởi lại, em có khóc?

 

4.

Mưa ở thủ đức lênh đênh. con đường ngập. xuyên không vào mệnh bạc. má hồng em giờ như lá.

Mỗi ngày tôi qua cầu sài gòn. mỗi ngày tôi nhảy sông.

Từng kiếp, tôi là chữ của tự hủy và phục sinh. tôi sơ nguyên như sự trinh bạch.

Và tôi biết, em cũng yêu tôi như tôi yêu em từ muôn thuở.

Và bởi vì chữ cũng thơ ngây như tình yêu, tôi ở đây và ôm em thường tại. xuyên không vào muôn kiếp.

(20/5/2024)


*


Cửa


1.

Cửa đã mở. tôi bước vào gian truân với cả sợ hãi và phấn khích. tù ngục và tự do.

Tôi đã đi thênh thang và nằm xuống bờ bụi. như siêu thực. như lập thể.

Con đường tôi tự họa. những mảnh vụn của đổ vỡ lấp lánh. vết thương hoại tử.

 

2.

Cửa mở ra tôi là em lồng lộng. trùng dương của cái chết. đắm say và viên mãn.

Trước và sau. hiện thân của hy vọng trên những bước đi đồng cỏ. xanh bất tận.

Cửa mở ra tôi là cái thòng lọng. treo định mệnh trên đám mây vần vũ. tôi yêu em cùng quẩn.

 

3.

Tôi và em hương mật. đàn kiến bò quanh mặt trời. sự không tưởng trở nên hiện thực. một cõi em xanh ngời. một đời tôi nghi hoặc.

Tôi và em hư ảo. như ánh trăng. như mùi biển.

Cửa mở ra tôi nhiệm màu như nụ hôn thánh tích. phiêu diêu tôi. hoảng hốt tôi.

 

4.

Tôi mở cửa. mười phương nghiệp chướng. đi qua. đi qua. tôi cô hồn phóng đãng.

Mở cửa thập loại chúng sinh. tôi tìm thấy em trong muôn vàn. tìm thấy em trong muôn kiếp.

Ôm em, một chút trinh bạch này trong tâm tưởng. một chút phai tàn này tôi cố giữ.
(24/5/2024)


– Nguyễn Viện

Những khúc thơ ngắn của nhà văn Trần Hoàng Vy. Cảm xúc cô đọng, bất ngờ...
phân thân ̶ ̶ ̶ bạn nói phân thân / nhẹ nhàng tách rời khỏi xác / lênh đênh trên dòng chảy vô hạn / bềnh bồng trong bầu sinh quyển phi trọng lượng / như lạc vào một bức tranh chagall...
Trong thơ ta có gió / Để tháng ngày ngao du / Trong thơ ta có núi / Đứng bên bờ ưu tư...
Gerald McCarthy vào Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ năm 17 tuổi, phục vụ tại Việt Nam trong hai năm 1966-1967, trong Tiểu Đoàn 1 Công Binh Chiến Đấu Hoa Kỳ (1st Combat Engineer Battalion) tại Chu Lai và rồi tại Đà Nẵng. Sau một nhiệm kỳ trong quân ngũ, McCarthy đào ngũ, bị bắt vào một nhà tù dân sự rồi chuyển vào quân lao. Những bài thơ đầu tiên của ông gom lại ấn hành trong thi tập War Story, ghi lại các suy nghĩ với kinh nghiệm tại Việt Nam. Sau đó, ông tham gia các hoạt động phản chiến và in nhiều thi tập khác. Nhà thơ D.F. Brown sinh năm 1948 tại Springfield, Missouri. Ông phục vụ trong Lục quân Hoa Kỳ từ 1968 tới 1977, trong đó từng giữ nhiệm vụ lính cứu thương trong tiểu đoàn Bravo, 1/14th Infantry tại chiến trường Việt Nam các năm 1969–70. Năm 1984, Brown in tập thơ đầu tay, nhan đề Returning Fire, trong đó, bài thơ ngắn nhất có nhan đề ghi bằng tiếng Pháp “L’Eclatante Victoire de Khe Sanh” (Chiến Thắng Huy Hoàng tại Khe Sanh).
Mariupol | không phải Sài gòn | mà trái tim tôi nặng trĩu | có bất công không | tôi và trái tim | đã chồng bốn mươi bảy năm của nỗi đau trường kỳ lên vai Mariupol
nói lời giã biệt với một ly cà phê không đường | có cần gì mật ngọt | một ngày nào hồi tưởng | mỉm cười ta đã thử mọi hương vị của tình yêu | mối tình không đi tới đâu, dấu chấm than tất nhiên là những hớp cà phê đậm
sau bấy nhiêu năm / con dốc không già hơn / không nghèo hơn / không trơ trọi hơn / nó chỉ biến / nó chỉ mất / không để lại một dấu tích...
tháng tư / mùa xuân trở mình / lung lay những ký ức và phế thải ngủ quên...
Trở về rồi, Thầy có thấy gì không? / Đôi mắt em, trên hàng cây phượng đỏ / Khi đầu hè hoa trổ bông rực rỡ / Sợ ngày chia tay lá khép chờ mong...
Chuyện tích xưa, nơi kinh thành Xá Vệ / Cung điện nguy nga, lộng lẫy cõi nhân gian / Vua Tịnh Phạn, trên ngai vàng tối thượng / Hoàng hậu Ma Da, ngôi phượng các uy nghi...
Mẹ giờ ở phía mây bay / Có khi tịnh độ phương Tây niết bàn / Có khi hồn phách miên man / Lối về quê với hàng hàng sương giăng...
em tôi sanh 7 tháng 5 / thua tôi năm tuổi / năm năm cuộc đời / rừng màu em mãi rong chơi / đêm rung hương bố / ngày vung cọ màu...
Nhã Ca với tập thơ đầu tay Nhã Ca Mới, đoạt giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1965. Giải Khăn Sô Cho Huế (1969) đoạt Giải Văn Chương Toàn Quốc về văn năm 1970, và Tuệ Mai đã đoạt giải Văn Chương Toàn Quốc về thơ năm 1966 với thi phẩm Không Bờ Bến. Thơ. Họ là cột mốc đánh dấu cho sự chuyển mình khai phá bứt ra khỏi phong cách thi ca tiền chiến. Thi ngữ, thi ảnh nơi họ khơi gợi ở người đọc cảm xúc mới mẻ, thi pháp tuy còn giữ nhiều về thể luật của các loại thơ vần điệu, nhưng được chở dưới nhạc điệu cấu tứ mới – kể cả lục bát – nên cũng có thể nói họ đã cách tân những thể loại thơ này vào thời đó, đặc biệt, ở thể loại tự do, với Nhã Ca, một luồng gió mạnh thổi bật gốc rễ của trói buộc ngôn từ, định kiến.