hoa bí vàng

18/07/202413:33:00(Xem: 2061)
hoa bi vang 1
Hình do AI vẽ.

 

tôi hỏi hoa bí vàng

năm cánh sao rực nắng hè

mời chào, mở cửa

có biết không sự bất trắc của tình cờ

 

kết trái một ngày. hay ra đi

tận cùng lãng quên của cội rể theo sau những bồi hồi, chợt nhớ chợt quên của đất

 

hoa cười nụ cười chịu đựng

mùa đổi mùa tôi vẫn loay hoay với câu hỏi rất xưa

 

trong mảnh vườn nhỏ bụi cẩm chướng hôm nay

rụt rè đứng bên giàn mướp

ngàn cánh đỏ cố vươn cao tô trời chiều ráng đậm

 

từ dòng sông cạn gió nhợt nhạt về, tôi và những trái mướp non thở dốc

khôn ngoan hơn bốn tỷ năm không giúp hành tinh này nắm được tương lai của chính mình

 

bên kia mảnh vườn

một ngôi nhà mới đang xây

trên nền ngổn ngang chiếc vợt vũ cầu đã rách

còn y nguyên tiếng reo hò, dấu tay

 

không biết từ đâu, câu hỏi cũ bật ra

tất cả nhìn tôi, trách móc

hoa cẩm chướng biết nó không dành cho chúng và hoa mướp tin câu trả lời tôi phải có cho mình

 

kc Nguyễn

LỜI PHI LỘ-Tôi được đọc bài thơ này lần đầu tiên khi nó được phổ biến trên báo VĂN, nếu tôi không nhầm, vào những năm 80 của thế kỷ trước. Có điều đáng chú ý cuối bài thơ báo VĂN có ghi rõ Vô Danh, nghĩa là không rõ tác giả. Nhưng tôi tin rằng báo VĂN biết rõ tác giả nhưng không tiện nói ra vì tác giả vào thời khoảng ấy còn ở trong nước. Chỉ cần đọc bài thơ qua một lần, xuyên qua văn phong, ai cũng cảm nhận tác giả của bài thơ này là Thanh Tâm Tuyền.
Em nhìn qua bờ tóc bạc của anh đi / Như nhìn qua khung cửa sổ
Kính tiễn Giác Linh Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Đen đúa. Sần sùi. Không đáng một xu / Dzụt gốc xoài. Quạ không thèm mổ / Quăng tận ổ. Kiến không thèm bu / Phơi giữa trại tù, cai tù không ngó
Loang loáng / chuông ngân / vong hồn những hạt bụi
Vũ Hán Những ngôi nhà cửa bị đóng đinh những cánh cổng bị bịt lại bằng những then gỗ hình chữ X người nhốt người trong đó không hề nghĩ họ sẽ sống thế nào nếu không còn thuốc nếu không còn thức ăn
Anh ở đâu ra vậy anh yêu / Hình như chúng ta từng gặp nhau
Biêng biếc làm sao chàng mây / vừa nhặt được màu xanh của ký ức
Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1888 (tức ngày 29 tháng 4 năm Mậu Tý), tại làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây, nơi có núi Tản sông Đà. Thân sinh ông là Nguyễn Danh Kế, đỗ Cử nhân, từng giữ chức Ngự sử trong kinh. Mẹ là Lưu Thị Hiền, cũng có sách ghi là đào Nghiêm, vốn là một đào hát, nổi tiếng tài sắc, giỏi văn thơ.
tôi phải trở lại những ý tưởng lần thứ hai / khi mưa mặc áo choàng xám đi quanh lâu đài
Rừng ngưng thở / thức / chíu chít tiếng chim
Lửa ! Lửa ! Lửa ! / khắp nơi, biết chạy về đâu
Núi chiều nay đã quay về chờ đợi. Còn gì đâu những hò hẹn trong đời.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.