Tháng Hai 1991

05/10/202615:47:00(Xem: 433)
blank


Tôi không gọi là bệnh
Tôi gọi là thời tiết
cơn địa chấn từ ngực
không bản tin nào dự báo

Tôi hai mươi tuổi
tin rằng mình đặc biệt
cách một cơn mưa tin
mình là nguyên nhân cơn lụt

Sinh ra từ thơ
học phân tích thơ
nhưng không ai dạy tôi
ngồi qua một buổi chiều
mà không bị truy vết
bởi chính ký ức mình

mọi người nhìn tương lai
như một thành phố đã mua vé
Tôi đứng ở rìa ga
không cần đi đâu
chỉ cần không để lại dấu

Mỗi ngày xóa một thói quen
mỗi đêm giấu một ý nghĩ
tôi tự tháo mình
như tháo một quả mìn nổ chậm

Tháo mắt khỏi ánh sáng
tháo tai khỏi tiếng gọi
tháo lưỡi khỏi lời
tháo rời các khớp xương
lột tấm da người
đã quen với hình dạng
tôi tháo họ xóa tên
trả sự hiện diện
cho nhầm lẫn ban đầu

Hai mươi tuổi
ở lại
Phi tang bản thân
cố gắng giảm tồn tại
giảm đến khi không còn tiếng vang.

---- LÊ SÔNG VĂN



Con cúi đầu kính lễ Ân Sư, Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ (1945-2023) mang theo kho tàng trí tuệ vô tận, lòng từ bi vô biên và hùng lực vô úy đã hiện thân vào thế giới này. Từ gia tộc Phạm thế mà chủng tánh Bồ-đề đã ăn sâu trong lòng đất khô cằn nơi miền Trung nước Việt, Thầy lớn lên trong chốn Già-lam tịnh địa. Nhờ thiện căn túc thế nhiều đời, Thầy được thế phát xuất gia nhập đạo từ thuở ấu thời theo bước chân siêu tuyệt của Như Lai, “đến mà không đến, đi mà không đi.”(1) “Ba cõi bất an như nhà lửa,”(2) đất nước chìm trong chiến cuộc điêu linh, Thầy không tiêu phí tuổi thanh xuân chỉ một lòng miệt mài kinh sử. Tri thức thường nghiệm thế gian không cản nổi chí cầu trí tuệ siêu việt của người Tăng sĩ trẻ cưu mang cốt cách xuất trần thượng sĩ.
Đó là tựa đề một bài viết của nhà thơ Phan Tấn Hải, và đây là kết của bài: “Chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam (Ta là giống Rồng / Mình là giống Tiên / Thủy thổ khắc nhau / Không ở cùng được.) Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…” (Phan Tấn Hải, Thơ sẽ chữa lành thế giới
Quờ tay chạm tháng mười hai / Nghe ta lành lạnh, nghe ngày run run...
Anh còn nhớ một ngôi nhà cuối phố? Ngõ chè tàu xanh biếc lối đi quen...
Hơi lạnh đâu lén ùa về / Ngoài hiên tối đã tràn trề từ lâu...
Xác ai trong túi vải / Làm sao nhận ra nhau / Màu trắng một màu trắng / Ôi Mẹ, ôi Con đâu!
Đông đã mùa. Chiều lật bật / Cây thôi lá độ xưa vàng / Tà huy cũ. Xiêm y phơ phất...
Thơ của hai thi sĩ San Phi & Hoàng Xuân Sơn...
người chết không hót không bay không nhảy múa | con hạc mào đỏ* xếp cánh thôi mơ thôi thơ | con chó thất lạc buồn rầu
Cặp đùi này, chẳng hạn, là của em. | Vòng tay anh, trở lại ôm lấy bản thân | Ngón tay, bờ môi thu hồi | định quyền sở hữu.
Cách tân – truyền thống, sự tương phản nhờ đó thật rõ nét qua phong cách thơ, thi pháp, thi ảnh, cấu tứ, cảm xúc, trong thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, Lưu Diệu Vân, ThụyVy, Hoàng Xuân Sơn, Nguyễn Hàn Chung, Ben Oh. Việt Báo trân trọng giới thiệu...
Ta về một cõi tâm không / Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn / Còn yêu một thuở đi hoang / Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya / Ta đi dẫm nắng bên đèo / Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều / Nguyên sơ là dáng yêu kiều / Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ / Còn đây góc núi trơ vơ / Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao