Hôm nay,  

Âm Nhạc & Giáo Dục

19/07/202400:00:00(Xem: 4964)
am nhac va giao duc
Ảnh: Doãn Hưng

Khi nói đến âm nhạc, người ta thường liên tưởng đến khái niệm về “tâm hồn” hay “cảm xúc”. Khi nói đến giáo dục lại thường liên kết với “trí tuệ”. Một bên là nghệ thuật, một bên là tri thức. Một bên là những chàng nghệ sĩ, một bên là những nhà mô phạm.
Thực ra hai lĩnh vực này có nhiều khi đan lẫn, kết hợp với nhau. Âm nhạc là một ngành học với học vị lên tới tiến sĩ, không thua kém gì học bác sĩ, kỹ sư. Và khoa học đã chứng minh từ lâu rằng học âm nhạc góp phần phát triển khả năng trí tuệ toàn diện cho trẻ em.

Một thí dụ dễ hình dung cho giáo dục âm nhạc chính là giáo viên dạy nhạc trong các trường học. Tôi nhớ hồi xưa học lớp 6 ở trường trung học Petrus Ký Sài Gòn, ông thầy dạy nhạc là một nhạc sĩ khá nổi tiếng trong giới nhạc sĩ đương thời. Là người mê nhạc từ nhỏ, được học với ông từng làm tôi rất hào hứng. Ấy thế mà trong suốt một năm học, đây lại là môn học chán nhất. Giờ học nhạc giống như giờ toán với kiến thức nốt tròn bằng hai nốt trắng, nốt trắng bằng hai nốt đen… Bài thi âm nhạc học kỳ hai là thi vẽ “cây thông âm nhạc”, với nốt tròn trên đỉnh và 64 nốt móc bốn ở dưới đáy. Điểm thi môn âm nhạc của tôi không cao, vì tôi vẽ khá tồi, kéo theo xếp hạng môn nhạc trong lớp chỉ ở mức trung bình! Những năm sau đó ở trung học, khi biết đàn guitar, tôi có dịp đàn cho các bạn nghe trong những đêm ngủ trong trường để trực đêm. Có thằng bạn còn hỏi: “Không ngờ mày dở môn âm nhạc, mà sao đàn nghe cũng được quá?!”

May sao cũng có được hình ảnh một ông thầy dạy nhạc dễ thương hơn nhiều qua phim ảnh. Sau 1975, cuốn phim trắng đen về cuộc đời của nhạc sĩ cổ điển Franz Schubert được chiếu ngoài rạp. Trong phim, ông thầy giáo tiểu học Schubert đang dạy học trò môn toán. Khi ông đang viết trên bảng phép tính chia 2/4, thì ông dừng lại suy nghĩ điều gì đó trong đầu khá lâu. Rồi bỗng dưng ông viết bảng tiếp, nhưng lần này thì 2/4 không phải là phép chia mà là nhịp 2/4 của một bài nhạc. Ông kẻ khuôn nhạc và viết nốt của một ca khúc lên bảng, rồi dạy cho học trò hát. Giờ học toán trở thành giờ dạy nhạc, cả thầy trò cùng hát say sưa. Khi ban giám hiệu biết được chuyện này, ông thầy giáo Schubert đương nhiên là mất việc. Chỉ có đám học trò là vui sướng, vì đã có được những giờ phút âm nhạc tuyệt vời và đầy ngẫu hứng.

Kể như vậy để thấy người truyền cảm hứng âm nhạc cho trẻ con chưa chắc đã là những ông thầy dạy âm nhạc. Trong trường hợp gia đình tôi, bố là người truyền tình yêu âm nhạc cho mọi thành viên trong gia đình của cả hai thế hệ. Ông là một nhà văn nhưng rất mê nhạc, đặc biệt là nhạc cổ điển. Là anh cả trong gia đình, một hôm bố tôi nói với bà nội rằng nên cho các em học nhạc, vì nhạc làm đẹp tâm hồn. Thế là bà nội, một phụ nữ làng quê ngoại thành Hà Nội, đã mua một chiếc đàn piano về để các con học. Hình ảnh cây đàn piano được kéo trên con đường làng, đặt vào trong căn nhà của ông bà nội gần cuối thôn thời bấy giờ là một hiện tượng!

Cũng tương tự như vậy, vài tháng sau ngày mất nước 1975, một số nhà giàu ở Sài Gòn muốn bán đàn piano vì sợ bị đánh tư sản. Bố tôi bàn với cô em ruột rằng đây là cơ hội hiếm có để mua một cây piano cho đám con cháu học. Thế là cô tôi đã quyết định lấy số tiền của hồi môn từ gia đình chồng để mua một cây piano, đặt nó ở nhà tôi, một căn nhà ở cuối hẻm lao động. Em gái tôi, con gái của cô nhờ vậy mà được cho đi học đàn; cả nhà từ đó được học nhạc “ké”. Bản thân tôi bắt đầu biết chơi nhạc từ đó, nhờ vào niềm tin “âm nhạc làm đẹp tâm hồn” của bố.

Ý tưởng “mua đàn piano” của bố tôi làm ảnh hưởng rất nhiều đến những người khác trong đại gia đình qua nhiều thế hệ. Ông chú tôi là một nhạc sĩ quân đội của chế độ cộng sản miền Bắc, học đến tiến sĩ về nhạc giao hưởng. Hiện nay ông được xem là một cây đại thụ của nền âm nhạc cách mạng, có thể so sánh với Phạm Duy trong nền âm nhạc Miền Nam. Nhiều người em họ của tôi ngoài Bắc đi học nhạc chuyên nghiệp, sống bằng những nghề có liên quan đến âm nhạc. Riêng gia đình bố tôi và bà cô cùng di cư vào Nam không có ai sống bằng nghề âm nhạc cả. Tất cả chỉ dừng lại ở mức “âm nhạc làm đẹp tâm hồn”. Con cháu thuộc thế hệ thứ ba của đại gia đình hầu hết đều được cho đi học thêm nhạc để giải trí, để làm phong phú thêm cuộc sống.


Trở lại với câu chuyện về “âm nhạc” và “giáo dục”, câu hỏi đặt ra là việc học nhạc không nhằm mục đích kiếm sống có lợi ích ra sao đối với một cá nhân? Trong thời buổi hiện nay việc nuôi dạy con cái khá đắt đỏ và bận rộn, liệu có cần thiết phải cho con cái học thêm nhạc sau những giờ bận bịu ở trường? Câu trả lời chắc chắn sẽ rất khác nhau tùy theo hoàn cảnh của từng gia đình. Dưới đây là những chia sẻ cá nhân của một người kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau, nhưng cả đời xem âm nhạc là món ăn tinh thần không thể thiếu.

Đầu tiên, việc có kiến thức về âm nhạc sẽ làm tăng khả năng cảm thụ âm nhạc. Một người dù không biết về nhạc lý, nhưng nghe một bản nhạc vẫn có cảm nhận riêng là “hay” hoặc “dở”, “thích” hoặc “không thích”.  Nhưng hỏi tại sao “hay” hoặc “dở” thì sẽ không biết tại sao. Thêm nữa, nếu không có kiến thức thì chỉ có thể nghe được một số loại nhạc nhất định. Thí dụ, có rất nhiều người yêu thích nhạc pop, nhưng tự nhận rằng mình “không đủ trình độ để thưởng thức nhạc cổ điển”. 

Khác với ca khúc, nhạc cổ điển không có lời. Những gì tác giả muốn diễn đạt chỉ thông qua thứ ngôn ngữ âm thanh thuần túy. Vì vậy nó đòi hỏi phải có một chút kiến thức, một ít trí tưởng tượng để thưởng thức. Khi biết rằng cấu tạo của một bản nhạc bao gồm giai điệu, hòa âm, tiết tấu, người nghe có thể bắt đầu đi vào thế giới âm nhạc cổ điển, khám phá những vẻ đẹp không cần ngôn ngữ để diễn tả. Lấy ví dụ như tấu khúc Sonate Ánh Trăng của Beethoven. Nhắm mắt lại, người nghe có thể tưởng tượng ra ánh trăng đang lung linh trên mặt hồ. Khi mặt hồ phẳng lặng, ánh trăng phản chiếu cũng trầm mặc. Khi mặt hồ gợn sóng, ánh trăng cũng chao đảo cùng những cơn sóng chập chùng. Người nghe cũng có thể cảm nhận được những cảm xúc lúc lắng đọng, lúc tuôn trào của tác giả theo những giai điệu tuyệt đẹp. Không phải tự nhiên mà tấu khúc này trở thành bất tử. Và nếu không có kiến thức về âm nhạc, người nghe sẽ khó có thể đón nhận được hết món quà tuyệt vời mà người nghệ sĩ đã dâng tặng cho đời. Nhiều người phải trả rất nhiều tiền để mua được cảm giác hạnh phúc, thỏa mãn. Trong khi cảm nhận vẻ đẹp âm nhạc là niềm hạnh phúc dễ dàng có được mà không mất tiền mua.

Âm nhạc không chỉ mang lại cho con người cảm xúc, mà còn có khả năng ảnh hưởng đến nhân cách của trẻ nhỏ, đem lại nhiều tác động tích cực cho tâm lý con người ở mọi lứa tuổi. Không phải tự nhiên mà âm nhạc có trong chương trình giáo dục tiểu học, trung học của nhiều quốc gia trên thế giới. Trên mạng internet có rất nhiều bài viết, nhiều nghiên cứu cho thấy âm nhạc như một công cụ để kết nối người với người, để cá nhân thể hiện chính mình, giúp giảm nhẹ những căng thẳng tâm lý… Âm nhạc làm tăng cảm nhận hạnh phúc, tạo sự tin tưởng giữa con người, giúp người ta dễ thương yêu nhau hơn. Hãy tưởng tượng một người đang yêu không có khả năng diễn tả cảm xúc của mình, bỗng dưng nghe một câu hát trong một tình khúc nói lên đúng tâm trạng của mình. Nghe sướng làm sao! Người đó sẽ muốn cảm ơn người nhạc sĩ không quen biết, và hiểu được sự đồng cảm giữa người với người qua âm nhạc.

Âm nhạc làm cho một người trở nên phong phú hơn, tốt đẹp hơn; có khả năng đưa con người đến gần nhau hơn. Như vậy khả năng âm nhạc làm cho xã hội thăng hoa là một điều hoàn toàn khả thi. Một xã hội có nhiều cá nhân có khả năng thưởng ngoạn âm nhạc cao ắt hẳn sẽ là một xã hội nhân văn hơn, với tinh thần hòa ái cao hơn. Trong bối cảnh Việt Nam trong nửa thế kỷ qua loay hoay chuyển từ “đấu tranh giai cấp” sang “làm giàu trên hết”, một xã hội nhân văn hơn là niềm mơ ước của nhiều người Việt.

Rồi cũng với âm nhạc, nhân loại mơ về một thế giới đại đồng với hoan khúc bất tử Hymne Ode A La Joie (Symphony No.9 – Beethoven). Âm nhạc là ngôn ngữ chung của mọi dân tộc. Nói chi đến thế giới cho to lớn, chỉ ở trong nước Mỹ thôi ngày nay người ta đang thù ghét, chia rẽ vì chính trị. Trong tình hình như vậy, bàn chuyện giáo dục âm nhạc để làm cho con người biết thương yêu nhau là một đề tài không bao giờ cũ.

Doãn Hưng
 

Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) trân trọng thông báo lịch chiếu phim của Viet Film Fest, và vé đã bắt đầu bán. Là liên hoan phim quốc tế lớn nhất tại hải ngoại chú trọng đến các phim mang chủ đề về con người và văn hoá Việt Nam, Viet Film Fest 2026 sẽ kéo dài chương trình chiếu phim lên 4 ngày, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 10 tại rạp Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, Ste. 100, thành phố Santa Ana; tiếp nối là chương trình chiếu phim online từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 10. Năm nay, số phim gửi về tham dự đạt kỷ lục với 20 phim dài và 45 phim ngắn. Viet Film Fest 2026 sẽ giới thiệu các câu chuyện đến từ 13 quốc gia: Hoa Kỳ, Việt Nam, Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, và Đài Loan.
Phan Tấn Hải là một nhà báo, nhà văn, nhà nghiên cứu Phật học, nhà thơ. Mười năm trước 2016, mười bài Thiền Ca của ông được nhạc sĩ Trần Chí Phúc phổ thành ca khúc in trong tập nhạc Hoa Bay Khắp Trời và CD Hoa Bay Khắp Trời với nhiều giọng ca. Trong buổi ra mắt tập nhạc và CD, tài tử Kiều Chinh đã nhận xét rằng cuộc hôn phối giữa thơ Phan Tấn Hải và nhạc Trần Chí Phúc là mối lương duyên đẹp. Những Phật Tử nghe 10 bài Thiền Ca mang âm hưởng nhẹ nhàng, một không khí sâu lắng trong tâm với những lời ca đậm nét Phật giáo.
Hình như khá lâu rồi, xã hội Mỹ mới có những ngày tháng chậm lại để cùng hoài tưởng về một nhân vật. Cảm giác như trên một chiếc bàn địa cầu, người ta đang quây quần với nhau để ôn lại những kỷ niệm về một tiếng hát trong vắt như sương sớm của đồng quê, một nụ cười sáng bừng lan tỏa đến những người bên cạnh, một nghệ sĩ đa tài, đa năng, một cuộc đời trọn vẹn ý nghĩa của sống và yêu. Cô Bé Trong Căn Nhà Gỗ Một Gian. Bà sinh vào tháng 1/1946, là người con thứ tư trong gia đình 12 chị em, trong một căn nhà gỗ một gian giữa dãy núi Smoky ở miền Đông Tennessee. Gia đình nghèo đến mức có khi phải trả công cho ông bác sĩ bằng bột bắp. Người mẹ xoay sở từng miếng vải để làm sao đủ ấm cho cả gia đình.
Tuy không có con số thống kê cụ thể, đề tài chiến tranh Việt Nam đã được khai thác dưới nhiều góc độ. Riêng trong lĩnh vực phim ảnh, đã có hơn một trăm dự án lớn nhỏ. Mời quý vị theo dõi cuộc trò chuyện với Phạm Văn Nam - nhà sản xuất phim tài liệu Vietnam War, Untold Stories - Chiến Tranh Việt Nam, Những Chuyện Chưa Kể - để hiểu rõ vì sao cuốn phim này nên có một chỗ đứng trang trọng qua những chi tiết được tường thuật sau hơn một nửa thế kỷ kể từ khi cuộc chiến chấm dứt.
Tối Thứ Bảy 22-8-2026 tại rạp hát Louis B. Mayer của Đại học Santa Clara University, kế cận thành phố San Jose California, 500 khán giả ngồi kín, yên lặng thưởng thức chương trình nhạc giao hưởng kỷ niệm 70 năm Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn và cũng kỷ niệm 30 Năm Dàn Nhạc Thính Phòng Sài Gòn ở Thung Lũng Hoa Vàng San Jose. Dàn nhạc giao hưởng thính phòng Sài Gòn gồm những cựu học viên môn vĩ cầm, dương cầm, Tây ban cầm, kèn, sáo... của trường nhạc Sài Gòn năm xưa lưu lạc tới tận Mỹ Quốc và một vài nhạc sĩ Hoa Kỳ.
Nghệ sĩ Alison Nguyen sẽ trình chiếu tác phẩm điện ảnh mới Prior Occupants vào ngày 8 tháng 9 trên High Line, New York, trong một công trình do High Line và Quỹ Văn Hóa Chanel (Chanel Culture Fund) đặt thực hiện. Bộ phim tìm lại một lớp lịch sử ít được nhắc tới của Westbeth Artist Housing, khu nhà dành cho giới nghệ sĩ nằm gần công viên High Line ở phía tây Manhattan.
Nắng tháng tám Cali bắt đầu dịu lại mang theo vài con gió nhẹ se lạnh dịu dàng, báo hiệu một mùa thu bắt đầu ghé về. Chiều xuống, nhịp sống chậm dần, nhường chỗ cho cảm xúc lắng đọng, cho văn chương và một buổi ra mắt sách. Thứ Bảy ngày 8 tháng 8, năm 2026, vào lúc 3 giờ chiều tại Coffee Factory, Little Saigon, Nam Cali, US. Nhà Thơ Nguyễn Đức Tùng đã giới thiệu cùng các độc giả và bạn hữu một tác phẩm tiểu thuyết mới mang tên "Thuyền".
Khoa Hà hy vọng rằng hành trình đi tìm di sản văn hóa của bản thân mình không đơn độc. Còn nhiều bạn trẻ khác cũng thuộc các gia đình văn nghệ sĩ vang bóng một thời của Việt Nam. Cuốn phim tài liệu “Y Vân: The Lost Sounds of Saigon” có thể chỉ là dấu hiệu của một hành trình về nguồn chung lớn hơn.
Thuyết cho rằng Van Gogh chết vì bị sát hại (hay ngộ sát) lần đầu được nêu ra một cách nghiêm túc vào năm 2011, trong một cuốn tiểu sử công phu của hai nhà văn Mỹ, Steven Naifeh và Gregory White Smith. Trong cuốn "Van Gogh: The Life" (Van Gogh: Cuộc Đời), hai ông viết rằng Van Gogh bị bắn vào bụng ngày 27 tháng 7 năm 1890, do René Secrétan, một thiếu niên 16 tuổi đang nghỉ hè ở Auvers-sur-Oise, người thường chọc phá họa sĩ. Van Gogh lảo đảo về được tới quán trọ, và hai ngày sau chết vì vết thương. Hai tác giả xây dựng thuyết này dựa trên một cách diễn giải đầy tưởng tượng về một cuộc phỏng vấn Secrétan trả lời năm 1957, chỉ vài tháng trước khi ông qua đời.
Cách đây vừa tròn hai thập niên, nhân viên quan thuế biên phòng Pháp, trong một cuộc xét kiểm soát thường lệ, đã chặn giữ một chiếc xe toan vượt biên giới sang Thụy Sĩ. Trong xe, người ta khám phá ra nhiều họa phẩm chở lậu, không có giấy phép xuất cảnh, trong số đó có một bức tranh khắc của danh họa Nga Marc Chagall. Những kẻ chuyên chở lập tức bị bắt giữ và phạt vạ, còn các họa phẩm thì bị tịch thu. Kể từ đó, chúng bị bỏ quên trong kho quan thuế, chìm vào quên lãng, theo tường thuật của ký giả Adam Sage trên nhật báo Times of London
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.