Hôm nay,  

Điểm Sách: Ngôn Ngữ Xanh

1/3/202000:00:00(View: 6728)


BIASACH_NNX_Scanned
Nhắc đến thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh, Phan Tấn Hải đã viết: “Đó là những dòng thơ, có khi đọc tới, và rồi có những lúc tôi đứng bật dậy, trân trọng đọc đi, đọc lại từng chữ, từng dòng.

   Đó là những dòng thơ, từng chữ một, khi được đọc tới đã hiện ra như một thiếu nữ bước rời khỏi trang sách để len vào đời thường, và rồi các chữ còn lại trên giấy đã tự trở thành những ẩn ngữ thơ mộng.”

 

*

 

Bước vào Ngôn Ngữ Xanh, là cùng tư duy với Nguyễn Thị Khánh Minh, là cùng với Thi Ca xoay lại nhìn về Thi Ca, là “phản quan tự kỷ” làm “bật tung những ẩn giấu”. Nó đòi hỏi một “ánh mắt cời khêu”. Có thể trích ra đây một bài “Thơ về Thơ” tiêu biểu trong tập Ngôn Ngữ Xanh này. Đó là bài có tựa đề chỉ có một chữ Thơ.

 

Nơi không gian thơ

Có thời gian cho lời đọng lại

Thầm thì đi. Bước chân đi mãi

 

Nơi bóng mát thơ

Khoảnh khắc chữ cho lời rơi xuống

Nghe lắng nghe. Quán tự tại yêu thương

 

Nơi lửa thơ

Những con chữ nhóm lời cháy đỏ

Thắp mặt trời cho những giấc mơ

 

Nơi biển thơ

Những con chữ bung lời nắng dậy

Đó là ban mai mỗi ngày được thấy

 

Bật lên triều xanh của lời

Chắp lên đôi cánh của lời

Bay xa bay xa. Trái tim của một người trao gửi

 

Bài thơ ngắn nhưng hàm súc cả triết lý về “metapoetry” của Nguyễn Thị Khánh Minh. Một bài “Thơ về Thơ” thật bình dị, dễ hiểu, nhưng sâu thẳm và rốt ráo. Nó cần lắm một “ánh mắt cời khêu” để:

   Không gian, thời gian của Thi Ca được dàn ra vô biên vô tận cho những bước chân thầm thì đi mãi.

   Cho bóng mát Thi Ca rợp bóng Quán tự tại yêu thương.

   Cho lửa thơ thắp ánh mặt trời cho những giấc mơ.

 

   Cho biển thơ bung lời nắng dậy.

   Cho bay xa xa mãi, trái tim của một người trao gửi.

 

   Ở đâu một ánh mắt? Để có Ngôn Ngữ Xanh?

 

– Tô Đăng Khoa

 

 

Giữa mong manh và thường trú, kéo lôi của bóng đêm chận ngăn ngày sáng, tiếng lời trỗi dậy biếc xanh mùi gió, lựng ngây thơm mây. Khánh mở ngày với ngôn ngữ xanh rất xanh,

 

Trở mình lá trong tàn cây mọc cánh

Nắng từng bầy nhảy nhót ban mai

Chạm vào nhau. Vỡ òa ra. Những mảnh…

                  (Nhịp Ngày, Ngôn Ngữ Xanh)

 

… Và buổi sáng phiêu nhiên, cái gì đang trôi trong không gian, điệu nhạc? Không nghe âm, chỉ một ngất ngưởng chuyển mình, không nói ra, tôi đang trôi, tôi lờn vờn trong từng âm điệu.

 

 

Mở cửa

Dòng nhạc trôi ra ngoài. Ban mai dậy sóng

 

Nắng lụt tôi trong căn phòng nhỏ

Và tôi. Đang ngộp thở ban mai

Bạn cảm thấy sao khi vừa mở cửa

đã rơi ngay trước mặt mình tiếng chim hót

Và bạn sẽ làm gì với những nốt nhạc ấy?

          (Những Nốt Nhạc, Những Buổi Sáng)

 

Như thế, Nguyễn Thị Khánh Minh vẽ. Không bằng cọ và mầu. Khánh vẽ bằng mực và viết. Cơn lụt nắng nâng cô lên, ban mai bừng đè nặng nhà thơ xuống, Khánh nhìn ngang, ồ cánh cửa. Hãy tung cánh rộng cho sóng dậy vào lòng. Chỉ mấy câu thơ mà thu tóm không gian ba chiều, trên, dưới và ngang, hội tụ vào hình tượng thi ca.

   Cũng như thế Nguyễn Thị Khánh Minh hòa âm. Nhạc khúc không viết bằng ký hiệu nhạc nhưng bằng mặt chữ đời thường. Và như thế tôi nghe âm nhạc thoát thai từ bức tranh trong tiết điệu thơ. Thi ca. Tài tình là thế. Và bạn sẽ làm gì với những nốt nhạc ấy? Thi sĩ hỏi, có ai cất tiếng trả lời? Có lẽ không còn cần thiết.

 

….

Khoảng thời gian im lặng

Là không gian mình đánh mất

Nơi rơi xuống của lời

 

Thủy chung nào

Ngưng được thời gian

Không gian nào

Giữ những lời đi…

       (Đường Mật, Ngôn Ngữ Xanh)

 

 

Lời rơi xuống ở khoảng thời gian im lặng, cũng là khi ta mất chốn về, được phía này thì biển dâu giằng co phía ấy? Lựa chọn thành ngã ba trầm thống của đoạn trường. Thủy chung chết cứng dưới nhịp bước thời gian, phôi pha ước hẹn khi lời đã cất và bay đi, không gian rộng đến muôn phương nào giữ lại được. Như mây bay về vô xứ? Lời trở thành chiếc bóng? Như nhạn của Hương Hải? “Ngôn” vô di tích chi ý?

   Một liên tưởng không tránh khỏi khi đọc thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh và Dickinson. Tôi chẳng làm sự so sánh vì một sự so sánh như vậy vô nghĩa ở đây. Chữ nghĩa họ cuồn cuộn hồi sinh trở về trong nguyên ngữ tối hậu. “Đường mật” và “A word is dead” là chốn hội tụ anh thư tài tử, đề huề giao hưởng.

 

A word is dead

When it is said,

Some say.

I say it just

Begins to live

That day.

     (A Word Is Dead, Emily Dickinson)

 

Chữ chết đi

Khi vừa thốt,

Người bảo vậy.

Tôi cho rằng

Lời sống dậy

Lúc rời môi.

     (VHT phỏng dịch)

 

Tôi bắt gặp sự tương lân đồng điệu trong thơ của Khánh và Emily ở chỗ hai cô nương suốt cuộc bình sinh sống chết với Thơ, cật lực hít thở Thơ, chữ thơ ở đây phải được viết hoa cho đúng niềm trân trọng. Một trong những cách định nghĩa thơ của Khánh như thế này,

 

Thơ

Là dòng sông. Cho tôi trôi đi

Là tiếng khóc. Cho tôi rơi lệ

Là dấu mốc. Nhắc tôi trở về

 

Là bàn tay. Cho tôi nắm lấy

Nhưng thường khi. Nó là bóng đám mây bay

                                  (Thơ, Ngôn Ngữ Xanh)

 

Như vậy hội ngộ với Nàng Thơ quả là bất khả, như thể nhắn nhủ với nhân quần, này, tưởng là vậy mà không phải vậy. Cho đến khi ngươi chưa tan hòa trong tinh thể, đừng nghĩ sẽ nắm lấy được tay ta.

 

Trong mật của Nắng
Hoa hướng dương nở
Trong say men Thơ
Tôi đắm

Nắng và Thơ
Đường mật
Tôi và hoa hướng dương
Buông mình. Rơi. Và tan

    (Đường Mật, Ngôn Ngữ Xanh)

 

Thi ca như một vụ mùa, dù Khánh chỉ nhặt được “đôi ba hạt lúa chín”, chìm vào thơ tựa ngụp lặn ở dòng sông mát mẻ, cho dù “không mang về một hạt nước nào của nó”, cô còn giữ mãi “dư âm cái trườn mình của dòng chảy”  (Phút mong manh giữa những từ, tập thơ Ngôn Ngữ Xanh). Từ đó, thơ luồn phong ba dồn dập, thơ ghé bầu khí hậu bàng bạc cô đơn, thơ đưa người vào mơ. Để làm gì? Để mơ với mình thành một.

 

Em vào giấc mơ anh

        Nơi, em được là một giấc mơ…

                         (Tôi Đang Mơ)

 

… Tôi nghe niềm hy vọng xanh và lời thầm thì giữa đêm, thoại. Rất nhiều thoại. Độc thoại, giao thoại, đồng thoại với cái bóng của chính cô. Giữa đêm huyền tan chảy.

 

– Vũ Hoàng T

 

 

 

 

Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh bao nhiêu năm rồi vẫn như thế, thi ngôn nền nã, sáng đẹp, thi tứ trữ tình, lãng mạn, đậm buồn, giàu thi ảnh, tràn đầy cảm xúc, và luôn luôn có những biến ảo lạ lùng trong ngôn ngữ khiến thơ như chắp cánh bay cao và bay xa trong những chiều kích khôn cùng.

   Nhan đề bài thơ là Phố Rất Xa. Hiển nhiên, nhà thơ muốn nói về miền đất quê hương của quá khứ, xa lắm rồi, bây giờ chỉ còn mơ hồ hiện về trong tâm tưởng những lúc ngồi cô độc nhìn mảnh trăng non vừa nhú. Thế nhưng suốt bài thơ, tôi không thấy Nguyễn Thị Khánh Minh nói gì về mảnh đất xa xôi ấy, tuyệt đối không, một dấu vết mờ nhạt cũng không thấy, mà chỉ là nỗi buồn nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của một tâm cảnh trong lúc nhìn trăng lên.

   A! Phải chăng đấy cũng là tâm cảnh cho một tứ thơ sầu vạn cổ, “Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương?” Nhưng câu chữ của Nguyễn Thị Khánh Minh ở bài thơ này đã làm người đọc tôi rụng rời để nghiệm ra cái tứ thơ sầu vạn cổ ấy ở bất cứ thời-không-gian nào cũng khiến con người có cơ hội sống thật với hiện thể và bản thể của hắn.

 

Tôi ngồi cong mảnh trăng non

 

Trời! Làm sao có thể cảm nhận được hiệu ứng của từ “cong” trong câu thơ? Như được phả bùa phép, cảm xúc từ câu thơ như được đẩy tới một biên vực mới. Tôi ngồi cong người nhìn trăng, hay trăng thượng huyền cong cong nhìn tôi? Có lẽ chẳng cần thiết phải biện biệt như thế, bởi cái nhị đối trở thành cái nhất nguyên và tôi đã tìm về cái tôi trong suốt.

   Thế rồi, cái hình tượng tôi-cong-trăng-cong ấy tan vỡ dưới thềm nhà biến thành những “miểng trăng im”.

 

Vỡ trên thềm những miểng trăng im

 

Từ một hình tượng tương đối bi sầu nhưng không mấy bi thảm, từ “miểng” của câu thơ trên đã khiến tâm cảnh biến đổi toàn diện. Chua xót. Đau đớn. Ánh trăng tan vỡ trên thềm biến thành những ký ức hãi hùng, những cảnh đời tưởng như chỉ có trong ác mộng!

   Lý Bạch ngày xưa “Ngửng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương”, Nguyễn Thị Khánh Minh ngày nay “Cúi xuống một hồn trôi ảo ảnh/ Kéo về đâu tôi bốn phía đêm”. Cách nhau hơn nghìn năm, nhưng hiện thể uyên nguyên là một. Xin cảm ơn, ở chân trời vẫn có người bay, và cảm ơn Khánh Minh.

 

– Trịnh Y Thư

 

Tác phẩm Lang Thang Nghìn Dặm Tập 2 của Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa cho thấy sức làm việc không ngừng nghỉ và tâm hồn cực kỳ thơ mộng của tác giả, nơi ngòi bút của chị hiển lộ sự trân trọng vẻ đẹp ngôn ngữ Việt qua các bài tản văn về nhiều tác giả và tác phẩm...
Mỗi cuối tuần, nếu không có việc gì đặc biệt, tôi thường gặp anh Lê Lạc Giao bên ly cà phê quen thuộc. Chúng tôi ít khi nói trực tiếp về cuốn sách anh đang viết. Câu chuyện thường có tính tản mạn. Anh thường kể về một người bạn vừa mất, một bài thơ cũ bất chợt được nhắc lại, kỷ niệm ở Sài Gòn trước 1975, một lần trò chuyện với Nguyễn Lương Vỵ, một bài thơ tình của Du Tử Lê, rồi từ đó mới lan sang những điều khác.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một tác giả quan trọng, đã để lại cho chúng ta một số lượng tác phẩm rất lớn. Thơ ông chứa nhiều ý kín đáo, lại thêm cách diễn tả hàm súc, nên nhiều bài, nhiều câu thuộc loại “không dễ hiểu.” Là một người uyên bác và chịu ảnh hưởng của Hán học từ rất sớm, ông đã dùng khá nhiều điển tích và cũng hay trích dẫn thơ văn cổ khi sáng tác. Những điển tích, thơ văn cổ ấy, nếu không được phân giải ra, sẽ khiến nhiều người đọc, nhất là người ở thế hệ trẻ, khó nắm vững chủ ý của tác giả. Cho tới nay, bên cạnh một số bài viết riêng lẻ mang tính cách ước đoán hoặc với nhận định có phần nào chủ quan của người viết, chưa có một cuốn biên khảo nghiêm túc nào về Vũ Hoàng Chương.
Hồi Ký Tiểu Thuyết Lê Lạc Giao Ngày 19 tháng 9 năm 2026 lúc 4:00 pm Tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St. Westminster, CA 714-418-0757
Khi đọc những tác phẩm hồi ký, truyện dài hay chứng từ về các trại tù cải tạo sau tháng 4.1975, điều làm người đọc day dứt không chỉ là sự khắc nghiệt của tù cảnh, mà còn là câu hỏi: làm sao có những người vẫn sống sót, cả về thể xác lẫn tinh thần trong lúc bị tước đoạt tất cả, nhất là tự do.
Tháng 6 vỡ nắng gọi mùa hè xa. Một mùa hạ đến sau nhịp xuân gãy đổ của năm 1975. Lẽ đáng mọi người phải được sống thanh bình, yên ả trong một đất nước đã thống nhất, mọi nỗ lực của toàn dân phải quy về một mục đích chung là xây dựng lại quê hương sau bao đổ vỡ của chiến tranh, thù hận. Thế nhưng tháng 6 năm đó bắt đầu bằng một lời hứa lừa đảo, dối trá nhất trong lịch sử từ Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn: quân cán chính của chính quyền VNCH phải trình diện để học tập cải tạo trong 10 ngày!
Nếu "Làng Sơn Dầu" đại diện cho Ngu Yên trong vai trò người kể chuyện, và tuyển tập thơ "1978-2026" cho thấy ông ở vai trò nhà thơ đi suốt gần nửa thế kỷ, thì "Nhạc Ngoại Quốc" lại giới thiệu một chân dung khác của cùng một người cầm bút: nhà nghiên cứu và người thực hành dịch thuật. Ngay từ trang mở đầu, tác giả đã minh định rõ ràng mục đích của công trình này: đây là tuyển tập mang tính giáo dục, nhằm giới thiệu sự phong phú của âm nhạc thế giới cùng thực hành dịch ca khúc, không nhằm mục đích thương mại. Điều làm nên giá trị đặc biệt của tuyển tập này không chỉ nằm ở số lượng bài hát được chuyển ngữ, mà ở việc Ngu Yên đã xây dựng hẳn một khung lý thuyết bài bản để soi sáng cho từng bản dịch, biến tập sách vừa là một tuyển tập ca từ để hát, vừa là một công trình học thuật thu nhỏ về nghệ thuật dịch ca khúc.
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
LTS: Nơi đây sẽ trích dịch theo bản tiếng Anh "Soccer in Sun and Shadow" [Bóng tròn dưới ánh mặt trời và bóng râm] do Mark Fried chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của nhà văn Eduardo Galeano (1940–2015). Galeano là một nhà báo, nhà sử học và nhà hoạt động xã hội nổi tiếng người Uruguay. Galeano từng đoạt nhiều giải thưởng quốc tế, bao gồm Giải thưởng Lannan đầu tiên về Tự do Văn hóa. Sau đây là trích dịch một số đoạn văn.
Tôi không ưa triết lý. Một thời tuổi thơ của tôi là học về triết lý, trực tiếp từ những vị thầy nổi tiếng như Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, LM Kim Định... Nhiều năm sau, tôi khám phá ra mình không ưa triết lý, và chỉ còn thích đọc ca dao (mà phải là lục bát), truyện võ hiệp (mà phải là Kim Dung), và rồi ưa thích sống một đời hồn nhiên, thơ dại (kiểu thiền sư Tế Điên)... và vân vân. Đó là lý do tôi kinh ngạc khi thấy nhà văn Kim Vũ đi theo chiều ngược lại: từ những gì rất thơ mộng, rồi trở về triết lý phức tạp.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.