Hôm nay,  

Thế hệ chiêm bao

06/04/202212:34:00(Xem: 3164)

Điểm sách

ngvangia

 

(Nhân đọc Lặng Lẽ Phù Sa, thơ Nguyễn Văn Gia, NXB Hội Nhà Văn, 2015).

 

“Chén trà sương sớm bên thềm

Vừa nghe chim hót, vừa thèm chiêm bao” (Bùi Giáng).

 

Nhà thơ Nguyễn Văn Gia cũng như nhiều người bạn bước chân vào Đại Học Huế trước khi chiến tranh kết thúc, một số có lẽ là thành viên của “thế hệ chiêm bao”.

 

Rồi thế nào hòa bình cũng phải đến

Như mặt trời thức dậy cuối đêm đen. (Mơ ngày hòa bình, Huế, 1972)

 

Nguyễn Văn Gia (NVG) làm thơ buổi tàn cuộc binh đao, đâu đó trước khi Hiệp Định Paris (1/1973) được ký kết. Anh hân hoan “chào chim sẻ, chim cu gáy của ngày còn bé/ Rủ nhau về sau năm tháng mù tăm”… Và khi đó anh xin làm một thầy giáo trẻ/ Dạy dỗ bầy em dưới mái trường làng.” Thật hồn nhiên và rất đỗi lạc quan cách mạng. Cho đến khi“Quá nửa đời gió bụi với sương phai/ Khi ngoảnh lại đã hoàng hôn nắng quái/ Cái không thực làm sao tìm cho được/ Đôi tay gầy không thể hái trăng sao.” Nhà thơ “Bỏ rơi viên phấn nửa chừng/ Ta về nằm ngủ giữa rừng chiêm bao.” Lại chiêm bao, bây giờ anh mơ bóng tre xanh, quê nhà đã thành cố hương, mùa trăng cũ và tiếng chim…

 

Có những người bạn, nhà văn-nhà báo-nghệ sĩ nhiếp ảnh… phải lên tận bán đảo Sơn Trà mai phục may ra ghi hình chim và vọoc. Đất Thanh Khê của anh với Ngã Ba Huế, cửa ngõ phía Tây thành phố Đà Nẵng, khe nước xanh đổ ra Vũng Thùng nay không còn xanh nữa, chỉ may mắn còn lưu giữ cái chợ nửa tỉnh nửa quê, nhưng để nghe được tiếng chim gù nơi thảo lư có lẽ hơi chông chênh. Thì đành chiêm bao vậy.

 

Thế hệ mình bước chân vào đại học khi chiến tranh không còn lởn vởn nơi vùng ven, có lúc đã đổ ập vào thành phố. Rớt Tú Tài anh đi trung sĩ, trượt Đại Học anh vào Thủ Đức. Khung trời đại học Huế không cao vời vợi, mùa giêng hai mây mù bảng lảng vờn qua sát nhịp cầu ánh bạc, sà xuống cành phượng vĩ đến tận bãi cỏ chân cầu, hành lang Văn Khoa thì hẹp và sâu hun hút nên anh em sinh viên hầu như đều quen biết nhau, từ những nhan sắc một thời nay nhắc đến tên còn thấy xao xuyến, đến anh chàng sinh viên quần kaki vàng, đội mũ beret lệch thời thượng Che Guavara, trong câu chuyện, thỉnh thoảng chêm vào câu bùa chú “cuộc kháng chiến giữ nước và dựng nước vĩ đại của dân tộc ta” cóp nhặt đâu đó qua những tài liệu Văn-Sử-Địa miền Bắc lưu truyền vào. Chúng mình hồi ấy sống hài hòa, mỗi người có nỗi niềm riêng, điều quan trọng là tôn trọng giấc mơ người khác. Có lẽ, đời sống sinh viên bấy giờ sàn sàn như nhau, bổng lộc là hư vô, nên kèn cựa, cơ hội để mà làm chi? Khác với không khí đại học sau 1975 và xã hội bây giờ “Dối trá và sợ hãi/ Đã trở thành thói quen/ Cái tôi đã thành cái/ Hai mặt và phân thân” (Hai mặt).

 

Cho nên, thế hệ chiêm bao tồn tại qua chiến tranh từng trăn trở:

 

“Sống như thế nào là phải đạo/ Chẳng lẽ theo gió mà trở chiều.”

 

Một mai khi hòa bình đến, những năm tháng của tuổi trẻ đẹp nhất, chúng mình được lùa vào “Trại Súc Vật”(Animal Farm, tên một tiểu thuyết của George Orwell). Có anh ném giấc chiêm bao thời hoa mộng xuống sông Hương, sông Hàn… đi tìm giấc mơ khác bên kia đại dương, có anh quy khứ lai từ hay ra chợ bán văn ngày tháng qua, số ít chen được một chân vào giai cấp mới (chữ của Milovan Djilas), nghe lời phủ dụ của mấy con heo có vai vế trong Trại Súc Vật, riêng anh vẫn dạy học, thỉnh thoảng làm thơ “Nghĩ về đất nước”. Nhà thơ ơi, hãy khoác một vòng hoa và tránh ra cho người ta yêu nước!

“Lặng lẽ phù sa” những câu thơ tưởng yên ả như lớp trầm tích lắng đọng với thời gian, nhiều bài hư ảo như một thi kệ, vậy mà thỉnh thoảng thơ trỗi dậy phun trào như dung nham núi lửa muốn dịch chuyển cả đại cục.

 

Nhà thơ không ly hương, vậy mà thao thiết nhớ quê hương! Bên kia vườn địa đàng, con người có mặt với hoa lá, chim muông, núi đồi-dòng sông, những giấc mơ- chiêm bao.

 

Chẳng thể ngồi xuống chiêm nghiệm và chiêm ngưỡng hoài những giấc mơ, sợ rồi lại hóa đá hay biến thành ảo ảnh…

 

Trên từng bước chân đi, biến giấc mơ để làm người Tự Do bởi Tự Do chưa bao giờ là món quà cho không.

 

Tống Văn Thụy

(2/2022)

 

Tôi sẽ nói gì về Phiến Hạ khi mùa hè chưa tới? Khi biển đã rộn ràng khơi nồng trong gió? Tôi có thể gợi khêu gọi nắng lên nhân quần khi lạnh gây vẫn u ẩn không gian? Có lẽ tôi sẽ mơ một khắc giây hội tụ, khát vọng liền tâm. Những mối dây xoắn gút cột thắt linh hồn. Ôi tôi mong bức đứt, chặt phăng mắt xích trói ghì...
Viết cho thế hệ trẻ là quan tâm lớn của nhiều nhà văn gốc Việt. Và mới trong tháng qua, nhà văn Trần Ngọc Ánh vừa ấn hành 2 bản dịch tiếng Anh, tiếng Pháp của tập hồi ký “Ba, Con Không Muốn Là Người Cộng Sản.” Bản dịch sang tiếng Anh do dịch giả Kim Vũ từ California thực hiện, nhan đề “Daddy, I don't Want to be a Communist.” Bản dịch sang tiếng Pháp do dịch giả Bảo Hưng từ Paris thực hiện, nhan đề “Papa, Je ne voudrais pas être communiste.” Cả hai bản dịch này ấn hành chung trong cuốn sách dày 184 trang. Bìa sách thực hiện bởi hai họa sĩ: Trần Nho Bụi và Phan Trường Ân. Một số tranh trong sách là từ họa sĩ Nguyễn Tư.
Có những cách để tưởng niệm 50 năm ngày Miền Nam tự do sụp đổ. Trong khi những cuộc hội thảo, chiếu phim, nhạc hội... do cộng đồng tổ chức sôi nổi khắp những tuần lễ trong tháng 4/2025, nhà văn Phan Nhật Nam và dịch giả Kim Vu có một cách lặng lẽ hơn: Dịch giả Kim Vu trong tháng Tư 2025 đã ấn hành tác phẩm tiếng Anh “The Sound Of A Suffering Land” – tuyển tập bản dịch 8 truyện của nhà văn Phan Nhật Nam.
Thơ mộng, uyên bác, thấu suốt Phật lý... Những dòng thơ của Thầy Tuệ Sỹ hiện lên trang giấy như các dãy núi nơi những đỉnh cao ẩn hiện mơ hồ giữa các vầng mây. Do vậy, dịch thơ Thầy Tuệ Sỹ qua tiếng Anh cũng là một công trình lớn, khi phải cân nhắc từng chữ một để giữ được cái thơ mộng, cái uyên bác, và cái nhìn thấu suốt ba cõi sáu đường của một nhà sư thiên tài, độc đáo của dân tộc. Hai dịch giả Terry Lee và Phe X. Bạch đã làm được phần rất lớn trong việc giới thiệu thơ của Thầy Tuệ Sỹ cho các độc giả trong thế giới Anh ngữ.
Mặc dù chỉ mới ba năm trôi qua kể từ khi bà Merkel rời nhiệm sở, nhưng thế giới đã thay đổi quá nhiều đến mức mà chức thủ tướng của bà đã được cảm thấy như nó thuộc về một thời đại khác. Cuốn hồi ký mới của bà cho thấy bà bình tâm với những quyết định đã đưa ra, bao gồm cả những quyết định bị phê phán nghiêm khắc nhất.
Nhà thơ, nhà báo Phạm Chu Sa đã tổ chức một buổi ra mắt hai tác phẩm trong vòng thân hữu tại tư gia của họa sĩ Nguyễn Đình Thuần chiều Thứ Sáu 2/5/2025. Tập thơ nhan đề “Tình Không” -- ấn hành cuối đời, gom lại tất cả các bài thơ tình của nhà thơ trong đó có 36 bài thơ đã đăng trước 1975 trên các tuần báo Khởi Hành, Tuổi Ngọc và các tạp chí Văn, Vấn Đề... và nhiều bài thơ tình gần đây. Cuốn thứ nhì là hồi ức “Chuyện Làng Văn” về các mảng đời trước và sau 1975 của 50 văn nghệ sĩ mà tác giả có cơ duyên thân tình.
"Mỗi người đến thế giới này như một kẻ xa lạ, không phải vì họ xa lạ mà bởi vì họ được nhìn bởi người khác, trong đó có các nhà văn, như kẻ xa lạ. Bi kịch của con người là ở chỗ họ quá khác nhau, ở các học thuyết và các niềm tin, ở các quyết định và hành động, nhưng sâu thẳm họ giống nhau khi rắp tâm đi tìm sự thật cuối cùng. Không có công lý và sự thật phổ biến cho mọi trường hợp, và con người luôn luôn chọn đứng về một phía, và đó là bi kịch và hài kịch của họ. Những xung đột giữa người và người, giữa các quốc gia, các chủ nghĩa, đỉnh cao là chiến tranh, ở mức cá nhân là hận thù, những xung đột ấy chỉ có hy vọng hóa giải khi con người nhìn thấy sự thật phía sau câu chuyện lịch sử, những động cơ tâm hồn bên dưới sự thật. Sự hiểu biết ấy, và sự vui thú sinh ra từ hiểu biết ấy, làm nên sức hấp dẫn của tiểu thuyết.
WESTMINSTER (PTH/VB) – Buổi ra mắt sách “Những Người Ở Lại” của tác giả LU Thuy hôm Chủ Nhật 27/4/2025 tại Westminster cũng là dịp để tác giả tâm sự về lý do vì sao viết sách này, cũng là dịp để nghe anh Võ Văn Thiệu, một sinh viên du học tại Ý từ trước năm 1975, kể về không khí thân cộng của các sinh viên từ Miền Nam VN du học tại Pháp
Cuộc chiến Việt Nam đã khép lại từ nửa thế kỷ trước nhưng những hệ lụy vẫn còn ghi khắc trong đời sống, tâm trí và ký ức của nhiều thế hệ người Việt ở quê hương lẫn hải ngoại. Ký ức đau thương lẫn khát vọng xây dựng tương lai đã trở thành chủ đề trung tâm trong nhiều tác phẩm văn học, tuyển tập truyện ngắn "The Colors of April" do Quan Manh Ha và Cab Tran biên tập là một ví dụ điển hình.
Khi về già, bạn mắc bệnh mất trí nhớ, rồi mất phương hướng, sau đó mất ngôn ngữ. Nếu bạn sống thật lâu, như một ngọn núi, các chuẩn tắc đạo lý do con người đặt ra sẽ mất sau cùng. Và theo thứ tự như vậy. Trước cửa một tiệm cà phê gần khu vực tưởng niệm sự kiện 911, gần nền của tòa tháp đôi đổ sập, xuôi về phía hiệu sách cũ Strand ở Broadway, nơi tôi mua được một tập thơ của Gerald Stern, tôi gặp anh Siu Kpa, người Gia rai sáu mươi tuổi, và vợ anh. Anak Gia rai, con của Gia rai. Hay Giơ rai, Jarai, Jrarai, Chơ rai đều được, cả hai nói tiếng Việt, nhưng anh nói giỏi hơn. Thật ra chị là người Ba na, nghe phát âm như Bơ na, hay Bờ na, hay Bà nà, cũng là Ba na dưới núi, Ba na trên núi, Bơ Nâm, Bơ Môn. Cả hai đều mất trí nhớ nhưng theo hướng ngược chiều nhau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.